Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị

Promoting the development of small and medium-sized enterprises in accordance with Resolution No. 68-NQ/TW of the Politburo

ThS. Nguyễn Chi Phương
Viện Dược liệu, Bộ Y tế

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, trên cơ sở tiếp cận tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Từ việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, bài viết làm rõ những hạn chế trong quản lý nhà nước đối với khu vực này. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý và phát huy vai trò động lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa; kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 68-NQ/TW; quản lý nhà nước; phát triển bền vững.

Abstract: This article analyzes the role of small and medium-sized enterprises (SMEs) in sustainable socio-economic development, based onthe spirit of Resolution No. 68-NQ/TW dated May 4th, 2025, issued by the Politburo on private sector development. By systematizing the theoretical foundations and assessing the current state of SME development in Vietnam, the article clarifies limitations in state management regarding this sector. On this basis, the article proposes solutions to improve institutional frameworks, enhance management effectiveness and further promote the driving force of SMEs within the socialist-oriented market economy.

Keywords: Small and medium-sized enterprises (SMEs); private sector; Resolution No. 68-NQ/TW; state management; sustainable development.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng được khẳng định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò nòng cốt, chiếm tỷ trọng áp đảo về số lượng và có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, tạo việc làm và ổn định xã hội.

Thực tiễn cho thấy, doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là lực lượng chủ yếu trong tạo lập sinh kế và thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở cấp vi mô mà còn là cấu phần quan trọng bảo đảm tính linh hoạt và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài. Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là về năng lực cạnh tranh, khả năng tiếp cận nguồn lực và hiệu quả quản trị. Một trong những nguyên nhân cốt lõi là những bất cập trong quản lý nhà nước và môi trường thể chế.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang tính thực tiễn sâu sắc, góp phần hoàn thiện mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.

2. Cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW

2.1. Quan niệm về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định theo các tiêu chí cơ bản về quy mô lao động tham gia bảo hiểm xã hội, tổng nguồn vốn và doanh thu của năm liền kề, theo quy định Điều 3 Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dân thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa), trong đó quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cách tiếp cận này phản ánh tương đối đầy đủ bản chất kinh tế của doanh nghiệp nhỏ và vừa với tư cách là các chủ thể sản xuất – kinh doanh có quy mô hạn chế về nguồn lực nhưng lại có ưu thế nổi trội về tính linh hoạt, khả năng thích ứng nhanh và chi phí tổ chức thấp trong bối cảnh thị trường biến động.

Từ góc độ lý luận quản lý kinh tế, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ đơn thuần là sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp mà còn là quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng của khu vực này, thể hiện qua năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản trị. Đồng thời, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa còn bao hàm việc mở rộng phạm vi và mức độ đóng góp của khu vực này đối với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, như: tăng trưởng GDP, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đáng chú ý, quá trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa mang tính hệ thống và phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường thể chế. Theo tiếp cận thể chế học hiện đại, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không chỉ do các yếu tố nội tại quyết định mà còn chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi “luật chơi”, bao gồm: hệ thống pháp luật, chính sách công, chất lượng quản trị nhà nước và mức độ minh bạch của môi trường kinh doanh. Do đó, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa năng lực nội sinh của doanh nghiệp và vai trò kiến tạo của Nhà nước.

2.2. Tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân

Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức lý luận và định hướng chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vị trí trung tâm. Việc xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia”1 không chỉ mang ý nghĩa khẳng định về mặt chính trị mà còn tạo cơ sở để tái cấu trúc hệ thống thể chế theo hướng thúc đẩy khu vực này phát triển năng động, hiệu quả và bền vững.

Tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 68-NQ/TW đối với phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thể hiện ở việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển, bao gồm vốn, đất đai, thông tin và cơ hội thị trường. Đây là nguyên tắc nền tảng của kinh tế thị trường hiện đại nhằm khắc phục tình trạng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, đồng thời tạo lập sân chơi cạnh tranh lành mạnh. Bên cạnh đó, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xóa bỏ các rào cản thể chế và giảm thiểu chi phí không chính thức – những yếu tố được coi là “chi phí ẩn” làm suy giảm hiệu quả hoạt động và động lực đầu tư của doanh nghiệp. Việc cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa quy trình quản lý và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước là những nội dung then chốt để hiện thực hóa mục tiêu này.

Một điểm đáng chú ý khác là định hướng khuyến khích đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, qua đó thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây không chỉ là cơ hội mà còn là yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0. Tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển, trong đó Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất – kinh doanh mà tập trung vào việc xây dựng thể chế, cung cấp dịch vụ công và hỗ trợ thị trường vận hành hiệu quả.

2.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển bền vững

Từ góc độ lý luận phát triển bền vững, doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhìn nhận như một tác nhân quan trọng trong việc cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Quan điểm “Nhỏ là đẹp” của E.F. Schumacher2 – một trong những tư tưởng kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhấn mạnh ưu thế đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển bền vững và phát triển con người. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô linh hoạt, chi phí đầu tư thấp và khả năng tiếp cận rộng rãi, có điều kiện thuận lợi để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Đồng thời, tính “nhân văn” của doanh nghiệp nhỏ và vừa thể hiện ở việc gắn chặt hoạt động kinh tế với con người, cộng đồng và môi trường. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan điểm này cung cấp cơ sở lý luận quan trọng cho việc khẳng định và phát huy vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa như một động lực phát triển bao trùm và bền vững.

(1) Về phương diện kinh tế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng và tính năng động của nền kinh tế thông qua việc tạo ra số lượng lớn việc làm, thúc đẩy cạnh tranh và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ. Với đặc trưng chi phí gia nhập thị trường thấp và vòng quay vốn nhanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng khai thác hiệu quả các cơ hội kinh doanh ngách và đáp ứng linh hoạt nhu cầu thị trường.

(2) Về phương diện xã hội. Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò then chốt trong việc giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và tạo điều kiện cho các nhóm yếu thế tham gia vào hoạt động kinh tế. Thông qua việc sử dụng lao động địa phương và phát triển các mô hình kinh doanh phù hợp với điều kiện cụ thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần củng cố nền tảng an sinh xã hội và ổn định chính trị.

(3) Về phương diện môi trường. Quy mô nhỏ và mức độ phân tán của doanh nghiệp nhỏ và vừa giúp giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và hạn chế các tác động tiêu cực đến hệ sinh thái so với các mô hình sản xuất quy mô lớn. Đồng thời, doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn và thân thiện với môi trường một cách linh hoạt.

Như vậy, xét trên cả ba trụ cột của phát triển bền vững, doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là lực lượng kinh tế quan trọng mà còn là chủ thể góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển toàn diện và bao trùm. Điều này càng khẳng định tính tất yếu của việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW trong bối cảnh hiện nay.

3. Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và hiệu lực quản lý nhà nước ở Việt Nam

3.1. Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam hiện nay, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vị trí áp đảo về số lượng và có vai trò ngày càng quan trọng đối với tăng trưởng và ổn định kinh tế – xã hội. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), đến thời điểm ngày 31/12/2024, cả nước có khoảng 940.078 doanh nghiệp đang hoạt động, gần 98% trong số này có quy mô nhỏ và vừa, tạo việc làm cho hơn 5,5 triệu lao động3; từ đó khẳng định vai trò chủ lực của khu vực này trong phát triển kinh tế địa phương.

Xét về phạm vi hoạt động, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện diện ở hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó tập trung nhiều nhất ở khu vực thương mại, dịch vụ và sản xuất chế biến. Đặc trưng nổi bật của doanh nghiệp nhỏ và vừa là tính linh hoạt cao trong tổ chức sản xuất – kinh doanh, khả năng thích ứng nhanh với biến động của thị trường và chi phí gia nhập thị trường tương đối thấp. Nhờ đó, khu vực này có thể tận dụng các cơ hội kinh doanh ngách, đáp ứng kịp thời nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng và góp phần gia tăng tính năng động của nền kinh tế.

Tuy nhiên, nếu tiếp cận dưới góc độ chất lượng tăng trưởng, thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng chú ý. Trước hết, hiệu quả hoạt động của khu vực này còn thấp, thể hiện qua tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ hoặc hoạt động kém hiệu quả ở mức cao trong nhiều năm. Năng suất lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa nhìn chung thấp hơn đáng kể so với doanh nghiệp lớn và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Một trong những nguyên nhân cốt lõi là quy mô vốn nhỏ, dẫn đến hạn chế trong khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, trình độ công nghệ của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào lao động thủ công hoặc bán cơ giới, làm giảm năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển đổi số.

Ngoài ra, năng lực quản trị doanh nghiệp còn yếu, đặc biệt ở các doanh nghiệp gia đình hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp. Việc thiếu chiến lược phát triển dài hạn, hạn chế trong quản trị tài chính, quản trị rủi ro và quản trị nhân sự đã làm suy giảm khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế. Những điểm nghẽn này cho thấy, mặc dù có lợi thế về số lượng và tính linh hoạt, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa phát huy đầy đủ tiềm năng trở thành động lực tăng trưởng bền vững.

3.2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Những năm qua, Nhà nước đã thể hiện nỗ lực đáng kể trong việc hoàn thiện khung khổ thể chế và triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc ban hành Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 cùng với hàng loạt chương trình cải cách thủ tục hành chính, phát triển chính phủ điện tử, hỗ trợ pháp lý và xúc tiến thương mại đã góp phần cải thiện đáng kể môi trường đầu tư kinh doanh. Ở cấp địa phương, các sáng kiến như mô hình “chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp”, tổ chức đối thoại định kỳ hay nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đã tạo ra những chuyển biến tích cực về minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Tuy nhiên, nếu tiếp cận từ góc độ hiệu lực và hiệu quả quản lý, có thể nhận diện một loạt vấn đề mang tính hệ thống đang cản trở sự phát triển thực chất của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thứ nhất, sự thiếu đồng bộ của hệ thống thể chế vẫn là điểm nghẽn cơ bản. Trên thực tế, doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với tình trạng “đa tầng pháp lý” khi cùng một hoạt động sản xuất – kinh doanh chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác nhau, như: Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường… nhưng thiếu sự thống nhất trong quy định và quy trình thực thi. Chẳng hạn, một dự án đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phải trải qua nhiều vòng thẩm định với các tiêu chí khác nhau giữa các cơ quan quản lý, dẫn đến kéo dài thời gian và gia tăng chi phí cơ hội. Báo cáo PCI các năm gần đây liên tục chỉ ra rằng một tỷ lệ đáng kể doanh nghiệp gặp khó khăn do quy định pháp luật thay đổi hoặc chồng chéo, phản ánh hạn chế trong chất lượng xây dựng và điều phối chính sách4.

Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính chưa đạt được tính thực chất như kỳ vọng. Mặc dù thời gian xử lý nhiều thủ tục đã được rút ngắn trên giấy tờ, nhưng trong thực tế, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với quy trình phức tạp và chi phí tuân thủ cao. Theo khảo sát PCI, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ doanh nghiệp cho biết phải chi trả chi phí không chính thức để đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ hoặc tránh các rủi ro hành chính5. Điều này không chỉ làm gia tăng chi phí hoạt động mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu bình đẳng, làm suy giảm niềm tin của khu vực tư nhân vào tính minh bạch của bộ máy công quyền.

Thứ ba, khó khăn trong tiếp cận vốn vẫn là rào cản mang tính cấu trúc. Mặc dù Nhà nước đã thiết lập các quỹ bảo lãnh tín dụng và chương trình hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng hiệu quả thực thi còn hạn chế. Trên thực tế, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, trong khi các tổ chức tín dụng lại áp dụng tiêu chuẩn thẩm định chặt chẽ về tài sản thế chấp và lịch sử tín dụng. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp, không đủ điều kiện tiếp cận vốn chính thức và buộc phải tìm đến các nguồn vốn phi chính thức với chi phí cao. Tính đến cuối năm 2024, dư nợ tín dụng đối với các doanh nghiệp tư nhân tại các tổ chức tín dụng đạt khoảng 6,91 triệu tỷ đồng, tăng 14,72% so với năm 2023, chiếm khoảng 44% dư nợ tín dụng nền kinh tế. Trong đó, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 2.746.308 tỷ đồng, khả năng tiếp cận vốn ngân hàng vẫn còn nhiều rào cản. Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa dù chiếm gần 98% các doanh nghiệp nhưng chưa tiếp cận đến 20% tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, dư nợ tín dụng của khu vực tư nhân đã chiếm tới 93%6.

Thứ tư, bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực vẫn tồn tại rõ nét. Trong thực tiễn, các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp quy mô lớn thường có lợi thế hơn trong tiếp cận đất đai, tín dụng cũng như các cơ hội kinh doanh từ khu vực công. Ví dụ, trong phân bổ tín dụng, khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể dù hiệu quả sử dụng vốn không tương xứng. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa dù chiếm tỷ lệ áp đảo về số lượng lại gặp nhiều rào cản trong tiếp cận các nguồn lực này. Tình trạng này làm suy giảm tính cạnh tranh của thị trường và hạn chế động lực phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Thứ năm, năng lực thực thi của bộ máy hành chính còn thiếu đồng đều và chưa theo kịp yêu cầu quản trị hiện đại. Sự khác biệt đáng kể về chất lượng điều hành giữa các địa phương thể hiện qua chênh lệch điểm số PCI và các chỉ số quản trị khác cho thấy tính không đồng nhất trong môi trường kinh doanh. Một số địa phương năng động, chủ động cải cách đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, trong khi ở những nơi khác, tình trạng trì trệ, thiếu chuyên nghiệp vẫn phổ biến. Điều này dẫn đến hiện tượng “lựa chọn địa điểm đầu tư theo chất lượng quản trị”, làm gia tăng sự phát triển không cân đối giữa các vùng.

Những vấn đề nêu trên phản ánh một thực tế rằng, khoảng cách giữa định hướng chính sách và kết quả thực thi trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn đáng kể. Mặc dù chủ trương phát triển khu vực kinh tế tư nhân đã được xác lập rõ ràng, nhưng quá trình thể chế hóa và tổ chức thực hiện chưa đồng bộ, làm suy giảm hiệu quả chính sách. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện thể chế, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng thực thi, bảo đảm tính nhất quán, minh bạch và hiệu quả của quản lý nhà nước, qua đó tạo lập môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững.

4. Định hướng và giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trên cơ sở những hạn chế mang tính hệ thống trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và hiệu lực quản lý nhà nước đã được chỉ ra, việc đề xuất các định hướng và giải pháp cần bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và bám sát tinh thần “kiến tạo phát triển” của Nghị quyết số 68-NQ/TW. Trọng tâm không chỉ là hoàn thiện chính sách mà còn phải nâng cao chất lượng thực thi và năng lực thích ứng của cả Nhà nước và doanh nghiệp, cụ thể như sau:

Một là, hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh.

Tiếp tục rà soát, hệ thống hóa và hoàn thiện khung pháp luật liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng thống nhất, minh bạch và có khả năng dự báo cao. Việc khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các luật như đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế cần được thực hiện thông qua cơ chế phối hợp liên ngành và đánh giá tác động chính sách một cách thực chất. Đồng thời, đẩy mạnh cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết, đơn giản hóa quy trình gia nhập và rút lui khỏi thị trường. Việc kiểm soát chi phí không chính thức cần gắn với minh bạch hóa thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ số nhằm giảm tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp và cơ quan công quyền.

Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Tinh thần cốt lõi của Nghị quyết số 68-NQ/TW là chuyển từ “quản lý” sang “phục vụ”, do đó, cần tái cấu trúc phương thức quản trị nhà nước theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Điều này đòi hỏi tăng cường trách nhiệm giải trình, công khai hóa quy trình xử lý công vụ và thiết lập các cơ chế giám sát độc lập. Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt ở cấp thực thi chính sách, thông qua đào tạo kỹ năng quản trị hiện đại, đạo đức công vụ và năng lực hỗ trợ doanh nghiệp. Việc gắn kết quả cải cách hành chính với đánh giá cán bộ là một công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả thực thi.

Ba là, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực.

Giải quyết điểm nghẽn về vốn đòi hỏi phát triển đồng bộ thị trường tài chính theo hướng đa tầng, đa dạng hóa kênh huy động vốn. Bên cạnh tín dụng ngân hàng, cần thúc đẩy các kênh như quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và nền tảng tài chính số. Đặc biệt, cần hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng quy mô và nâng cao tính chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và tổ chức tín dụng. Việc công nhận và định giá tài sản vô hình như quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu, dữ liệu cũng là giải pháp quan trọng nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bốn là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong bối cảnh kinh tế số, đổi mới sáng tạo trở thành động lực cốt lõi nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông qua việc phát triển hạ tầng số, hỗ trợ chi phí chuyển đổi số và cung cấp các dịch vụ tư vấn, đào tạo. Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, tránh dàn trải và hình thức. Đồng thời, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm tăng cường chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Năm là, phát triển nguồn nhân lực và năng lực quản trị.

Một trong những hạn chế lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa là năng lực quản trị còn yếu, do đó cần tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực doanh nghiệp. Nhà nước và các tổ chức trung gian cần triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu về quản trị chiến lược, quản trị tài chính, quản trị rủi ro và quản trị đổi mới. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy hình thành văn hóa doanh nghiệp gắn với trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững, qua đó nâng cao tính chuyên nghiệp và khả năng thích ứng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong môi trường cạnh tranh.

Sáu là, tăng cường liên kết và hội nhập

Để khắc phục tình trạng phát triển phân tán, cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp FDI và các chuỗi giá trị toàn cầu. Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua các chính sách khuyến khích hợp tác, phát triển cụm liên kết ngành và cung cấp thông tin thị trường. Đồng thời, phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp trong việc kết nối, đại diện lợi ích và hỗ trợ nâng cao năng lực hội nhập cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng cần được đẩy mạnh nhằm mở rộng không gian phát triển cho khu vực này.

5. Kết luận

Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW là một yêu cầu tất yếu trong tiến trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Với vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được đặt trong một môi trường thể chế thuận lợi, minh bạch và bình đẳng. Từ góc độ quản lý nhà nước, việc chuyển đổi tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển” là yếu tố then chốt để phát huy tiềm năng của khu vực này. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành và sự chủ động từ phía doanh nghiệp nhằm tạo lập một hệ sinh thái phát triển bền vững. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ, doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cần được trao quyền và hỗ trợ đúng mức để trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Chú thích:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
2. E.F.Schumacher (1994). Nhỏ là đẹp: về lợi thế của quy mô vừa và nhỏ trong kinh tế. H. NXB Khoa học xã hội.
3. Chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ở đâu trong nền kinh tế. https://baodautu.vn/chiem-gan-98-tong-so-doanh-nghiep-doanh-nghiep-nho-va-vua-dang-o-dau-trong-nen-kinh-te-d249574.html
4. Báo cáo PCI 2023: Doanh nghiệp đối mặt với khó khăn gia tăng. https://baodauthau.vn/bao-cao-pci-2023-doanh-nghiep-doi-mat-voi-kho-khan-gia-tang-post154774.html
5. Chi phí không chính thức tăng trở lại, DN vẫn vướng đất đai và chính sách. https://vov.vn/kinh-te/chi-phi-khong-chinh-thuc-tang-tro-lai-dn-van-vuong-dat-dai-va-chinh-sach-post1197346.vov
6. Doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận tín dụng. https://kinhtedothi.vn/doanh-nghiep-van-kho-tiep-can-tin-dung.721212.html
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2. Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
3. Quốc hội (2020). Luật Doanh nghiệp năm 2020.
4. Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/30/doi-moi-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-doanh-nghiep-nho-va-vua-thuc-day-kinh-te-tu-nhan-phat-trien/
5. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững. https://lyluanchinhtri.vn/vai-tro-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-trong-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-theo-huong-ben-vung-6359.html