Digital transformation in the implementation of the two-tier local government model
ThS. Phạm Minh Cường
Công ty Luật QNT
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền, chuyển đổi số giữ vai trò nền tảng trong việc đổi mới phương thức quản lý và tổ chức hoạt động của bộ máy hành chính. Việc ứng dụng công nghệ số góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, dữ liệu được kết nối và chia sẻ giữa các cấp chính quyền giúp rút ngắn quy trình xử lý công việc, giảm thủ tục trung gian và tăng cường khả năng giám sát. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số còn bảo đảm sự phối hợp đồng bộ và thống nhất giữa các cấp chính quyền. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm an toàn thông tin, góp phần xây dựng chính quyền địa phương hiện đại, hiệu lực và hiệu quả.
Từ khóa: Chuyển đổi số; chính quyền địa phương hai cấp; cải cách hành chính; dữ liệu số.
Abstract: In the context of administrative reform and the development of a rule-of-law state, digital transformation plays a foundational role in innovating governance methods and restructuring the operation of the administrative apparatus. The application of digital technologies enhances transparency and efficiency in state management while improving the quality of public service delivery to citizens and businesses. Furthermore, the integration and sharing of data among different levels of government help shorten administrative procedures, reduce intermediary steps, and strengthen supervisory capacity. Within the two-tier local government model, digital transformation also ensures synchronized and consistent coordination among government levels. However, to maximize its effectiveness, it is necessary to implement comprehensive solutions that include institutional improvement, technological infrastructure development, human resource quality enhancement, and information security assurance. These efforts will contribute to establishing a modern, effective, and efficient local government system.
Keywords: Digital transformation; two-tier local government; administrative reform; digital data.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ công, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của xã hội. Nhận thức rõ tiềm năng này, nhiều quốc gia đã chủ động xây dựng và triển khai các mô hình quản trị hiện đại hướng tới phát triển bền vững1. Tiêu biểu, Estonia được xem là hình mẫu về chuyển đổi số với khoảng 99% dịch vụ công được cung cấp trực tuyến, cho phép người dân thực hiện các thủ tục2, như: đăng ký kinh doanh và khai thuế, trong thời gian ngắn, qua đó tiết kiệm đáng kể nguồn lực xã hội. Tương tự, Hàn Quốc đã phát triển hệ thống chính phủ điện tử tích hợp, đầu tư mạnh vào hạ tầng dữ liệu và công nghệ thông tin, góp phần giảm thiểu thủ tục hành chính, tăng cường tính minh bạch và nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công3.
Tại Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định chuyển đổi số là động lực then chốt thúc đẩy phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm: cấp tỉnh và cấp xã, chính thức được triển khai với mục tiêu tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và tăng cường tính gần dân4. Tuy nhiên, việc sắp xếp, tinh giản tổ chức bộ máy trong khi khối lượng công việc gia tăng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số nhằm bảo đảm sự vận hành thông suốt5, liên thông của hệ thống chính quyền; đồng thời, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và xã hội.
2. Tổng quan về chuyển đổi số
Trong thời gian gần đây, thuật ngữ “chuyển đổi số” ngày càng được sử dụng phổ biến trong các chủ trương, chính sách cũng như hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức ở cả khu vực công và khu vực tư. Sự lan tỏa của khái niệm này phản ánh một xu thế tất yếu của xã hội hiện đại, gắn liền với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa6. Tuy nhiên, xét trên phương diện lý luận, đến nay vẫn chưa tồn tại một định nghĩa thống nhất về “chuyển đổi số”, do sự khác biệt trong cách tiếp cận của các chủ thể nghiên cứu và bối cảnh áp dụng.
Trên cơ sở tiếp cận khái quát, có thể hiểu chuyển đổi số là quá trình ứng dụng toàn diện công nghệ số và dữ liệu số nhằm tái cấu trúc phương thức hoạt động, tạo lập giá trị mới; đồng thời, nâng cao hiệu quả và chất lượng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc tin học hóa các quy trình, thủ tục mà còn hàm chứa sự thay đổi mang tính căn bản trong phương thức tổ chức và vận hành của bộ máy hành chính theo hướng số hóa, liên thông và tích hợp7. Qua đó, phương thức cung ứng dịch vụ công được chuyển dịch từ truyền thống sang trực tuyến, từ phục vụ bị động sang chủ động, bảo đảm tính công khai, minh bạch và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
3. Vai trò của chuyển đổi số trong triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, chuyển đổi số đã trở thành xu hướng tất yếu, giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản trị quốc gia và xây dựng nền hành chính hiện đại, hướng tới chính quyền số. Nhận thức rõ ý nghĩa và lợi ích của chuyển đổi số, nhiều quốc gia đã chủ động triển khai và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, tiêu biểu, như: Estonia, Hàn Quốc và Singapore – những mô hình điển hình trong ứng dụng công nghệ số vào quản lý nhà nước.
Đối với lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ thông tin hay trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Quan trọng hơn, đây là quá trình đổi mới toàn diện về tư duy quản trị, phương thức tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước theo hướng số hóa, liên thông và tích hợp. Chuyển đổi số vì vậy trở thành một phương thức phát triển mới, có khả năng làm thay đổi căn bản cách thức quản lý, điều hành và tương tác giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp trong xã hội hiện đại.
Thứ nhất, chuyển đổi số góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành. Thông qua việc số hóa dữ liệu và ứng dụng các công nghệ hiện đại, hoạt động của cơ quan, tổ chức được triển khai nhanh chóng, chính xác và có tính hệ thống cao hơn, qua đó hỗ trợ quá trình ra quyết định kịp thời và hiệu quả. Sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo và các hệ thống phần mềm phân tích dữ liệu tự động, đã làm thay đổi căn bản phương thức hoạt động của bộ máy hành chính theo hướng tối ưu hóa và nâng cao hiệu suất. Theo đó, nhiều công việc hành chính trước đây đòi hỏi đáng kể về thời gian, nhân lực và chi phí thì nay có thể được thực hiện thông qua các hệ thống số hóa, giám sát và thu thập dữ liệu một cách tự động, đồng bộ. Đồng thời, các hoạt động như: lập kế hoạch, báo cáo, tiếp nhận và xử lý văn bản, tài liệu hành chính cũng được tổ chức theo hướng tinh gọn, giảm thiểu đầu mối trung gian, qua đó tiết kiệm nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Thứ hai, chuyển đổi số tạo động lực đổi mới phương thức hoạt động. Khác với phương thức quản lý truyền thống vốn chịu sự ràng buộc bởi các yếu tố về không gian, thời gian và thủ tục hành chính phức tạp, chuyển đổi số thúc đẩy việc chuẩn hóa và tự động hóa các quy trình quản lý8. Qua đó, chi phí, thời gian và nguồn nhân lực được tiết giảm đáng kể; đồng thời, hình thành nền quản trị linh hoạt, hiện đại, có khả năng vận hành hiệu quả mà không phụ thuộc vào vị trí địa lý hay thời điểm thực hiện. Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số góp phần mở rộng phạm vi cung ứng dịch vụ công, từng bước xóa bỏ tư duy quản lý theo địa giới hành chính truyền thống9. Việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và xử lý công việc không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian, qua đó bảo đảm tính liên thông, thống nhất và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thứ ba, chuyển đổi số là nhân tố quan trọng thúc đẩy công khai, minh bạch. Khi các quy trình và dữ liệu được số hóa, tích hợp trên các nền tảng công nghệ thông tin, thông tin liên quan đến hoạt động của cơ quan nhà nước, như: quyết định hành chính, ngân sách và tiến độ thực hiện dự án, có thể được công khai và dễ dàng tra cứu10. Điều này không chỉ hạn chế tình trạng thiếu minh bạch, gây phiền hà trong giải quyết thủ tục hành chính mà còn tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, Cổng Dịch vụ công quốc gia đã góp phần nâng cao tính công khai khi cho phép người dân theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ11, tra cứu kết quả và nhận thông báo tự động. Đồng thời, việc số hóa dữ liệu còn hỗ trợ phát hiện kịp thời những bất cập trong thực thi chính sách, tăng cường kiểm tra, giám sát và nâng cao trách nhiệm giải trình, giúp các cơ quan cấp trên nắm bắt chính xác tình hình triển khai tại địa phương để đưa ra quyết định phù hợp.
Thứ tư, chuyển đổi số trở thành nền tảng cho phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, chuyển đổi số tạo điều kiện phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả; đồng thời, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Không chỉ dừng lại ở yếu tố công nghệ, quá trình này còn góp phần thay đổi tư duy, nhận thức và nâng cao kỹ năng của đội ngũ cán bộ, công chức, từ đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Qua đó, chuyển đổi số trở thành nền tảng quan trọng trong việc xây dựng xã hội số hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
4. Các vấn đề đặt ra hiện nay
Những năm gần đây, chuyển đổi số đã trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước, được xác định là động lực và chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định vai trò mang tính quyết định của chuyển đổi số trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình và kế hoạch hành động nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, hướng tới xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số12.
Cùng với đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược và chính sách về chuyển đổi số ngày càng được hoàn thiện, tạo lập hành lang pháp lý và định hướng thống nhất cho các bộ, ngành và địa phương trong quá trình triển khai13. Đáng chú ý, việc công khai và minh bạch trong cung cấp dịch vụ công đã có những chuyển biến rõ nét thông qua việc niêm yết các thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Người dân có thể theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ, thời hạn giải quyết và các chỉ số đánh giá chất lượng dịch vụ một cách thuận tiện. Điều này không chỉ nâng cao tính minh bạch, tạo điều kiện để người dân giám sát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước mà còn giúp các cơ quan quản lý kịp thời nhận diện và khắc phục những hạn chế trong quy trình, qua đó nâng cao hiệu quả phục vụ và củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền địa phương14.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra nhiều thách thức đáng kể. Việc sáp nhập và tinh gọn bộ máy dẫn đến số lượng cơ quan và biên chế giảm, trong khi khối lượng công việc lại gia tăng, đặc biệt tại cấp xã. Nhiều chức năng và nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện được chuyển giao về cấp xã15, bao gồm: quản lý dân cư, đất đai, ngân sách và cung ứng dịch vụ công. Điều này đòi hỏi năng lực quản lý đa nhiệm và khả năng tổ chức công việc hiệu quả; nếu không sẽ dẫn đến tình trạng quá tải, chậm trễ và ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ người dân, nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, nơi nguồn nhân lực còn hạn chế.
Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều cả về nhận thức và kỹ năng số cũng là một rào cản lớn. Trong khi chuyển đổi số yêu cầu khả năng sử dụng công nghệ thông tin, khai thác dữ liệu và vận hành dịch vụ công trực tuyến, thực tế nhiều cán bộ vẫn còn hạn chế về chuyên môn và duy trì phương thức làm việc truyền thống. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý mà còn làm suy giảm khả năng giám sát và đánh giá chất lượng dịch vụ công.
Ngoài ra, hạ tầng công nghệ thông tin tại nhiều địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, với tình trạng thiếu trang thiết bị, kết nối mạng chưa ổn định và dữ liệu chưa được liên thông, đồng bộ giữa các cấp. Cùng với đó, do mô hình mới được triển khai, một số cơ quan còn lúng túng trong tổ chức thực hiện, đặc biệt trong phân cấp, phối hợp và vận hành các quy trình mới. Những hạn chế này đòi hỏi phải được khắc phục thông qua việc hoàn thiện hạ tầng công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật trong giai đoạn chuyển tiếp.
5. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa khung pháp lý về chuyển đổi số trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp16. Trong bối cảnh tổ chức lại bộ máy chính quyền địa phương, yêu cầu cấp thiết đặt ra là sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về chuyển đổi số và dữ liệu theo hướng đồng bộ, thống nhất. Trọng tâm là ban hành các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật về kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị với quy trình, thủ tục phù hợp; đồng thời, thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả nhằm bảo đảm dữ liệu được liên thông và thống nhất17. Song song đó, cần hoàn thiện các quy định liên quan đến quản lý dữ liệu số, bảo vệ thông tin cá nhân, chuẩn hóa dữ liệu đầu vào và cơ chế kết nối với Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý chung, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật chuyên ngành theo hướng công nhận đầy đủ giá trị pháp lý của hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử, bảo đảm các giao dịch và văn bản điện tử có giá trị tương đương với hình thức truyền thống18. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế kiểm tra, đánh giá định kỳ dựa trên các bộ chỉ số chuyển đổi số, kết hợp với hệ thống giám sát và hậu kiểm trực tuyến đối với các nhiệm vụ đã được phân cấp, phân quyền. Việc xây dựng các trung tâm điều hành thông minh tại địa phương, kết nối đồng bộ với hệ thống giám sát ở cấp trung ương, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường tính minh bạch và kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh. Qua đó, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc triển khai thống nhất, hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong thực tiễn.
Hai là, đẩy mạnh đầu tư và hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số và hệ thống dữ liệu số. Để quá trình chuyển đổi số diễn ra hiệu quả trong bối cảnh mới, cần ưu tiên phát triển hạ tầng số dùng chung và hạ tầng số quốc gia, bao gồm: trung tâm dữ liệu, nền tảng tích hợp, mạng truyền số liệu chuyên dùng và hệ thống định danh điện tử. Trọng tâm là xây dựng, tích hợp và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và liên ngành nhằm phục vụ công tác quản lý, điều hành và cung ứng dịch vụ công19. Việc chuẩn hóa và mở rộng hạ tầng cần được thực hiện trên cơ sở quy hoạch phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông quốc gia; đồng thời, bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn và an ninh mạng theo quy định.
Trong bối cảnh sau sáp nhập, khi quy mô và phạm vi phục vụ của các đơn vị hành chính có sự thay đổi, yêu cầu đặt ra là phải tối ưu hóa năng lực xử lý và lưu trữ dữ liệu20, đẩy mạnh ứng dụng điện toán đám mây nhằm bảo đảm tính ổn định và liên tục của dịch vụ hành chính công. Đồng thời, việc áp dụng mô hình giám sát và vận hành hạ tầng tập trung sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và giảm chi phí đầu tư phân tán21. Khi hạ tầng số được phát triển đồng bộ, các hoạt động cung ứng dịch vụ công trực tuyến, quản trị nội bộ và chia sẻ dữ liệu sẽ được nâng cao về tốc độ, tính sẵn sàng và độ tin cậy.
Bên cạnh đó, việc tích hợp, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu giữ vai trò then chốt đối với hiệu quả vận hành của mô hình chính quyền địa phương hai cấp22. Cần triển khai các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, doanh nghiệp và thủ tục hành chính theo quy định23. Việc thống nhất mã định danh, tiêu chuẩn dữ liệu và quy trình chia sẻ sẽ góp phần giảm trùng lặp, hạn chế sai lệch thông tin; đồng thời, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính theo nguyên tắc “một lần cung cấp”. Song song đó, cần thiết lập cơ chế bảo mật, phân quyền truy cập và kiểm soát rủi ro theo các tiêu chuẩn an toàn thông tin ở mức cao, nhằm bảo đảm tính toàn vẹn và an toàn của dữ liệu. Qua đó, tạo điều kiện để chính quyền địa phương hai cấp nâng cao chất lượng quản lý và ra quyết định nhanh chóng, chính xác.
Ba là, thúc đẩy hợp tác công – tư trong đầu tư và phát triển hạ tầng số. Việc tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân cùng Nhà nước trong xây dựng các công trình, nền tảng và dịch vụ số thiết yếu là giải pháp quan trọng nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, qua đó đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số và mở rộng hạ tầng số trên phạm vi cả nước. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và định hướng chiến lược, ban hành cơ chế, chính sách và hoàn thiện hành lang pháp lý; còn doanh nghiệp tư nhân đóng góp nguồn lực tài chính, công nghệ, năng lực vận hành và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực như: hạ tầng viễn thông, nền tảng số và dịch vụ bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.
Sự kết hợp giữa khu vực công và khu vực tư không chỉ nâng cao hiệu quả đầu tư, phát triển hạ tầng công nghệ số mà còn góp phần mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tới các nhóm đối tượng trong xã hội nhờ hệ thống hạ tầng đồng bộ24, có độ bao phủ cao. Đồng thời, mô hình này giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển dịch vụ công trực tuyến, kinh tế số và thương mại điện tử, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực cạnh tranh trong bối cảnh chuyển đổi số.
Bốn là, tăng cường ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng khẳng định vai trò là công cụ quan trọng thúc đẩy hiện đại hóa nền hành chính, đặc biệt trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp25. Trọng tâm là chuyển đổi phương thức quản lý từ mô hình truyền thống dựa trên hồ sơ giấy và xử lý thủ công sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, kết hợp phân tích dự báo và tự động hóa quy trình.
Việc tích hợp AI vào các hệ thống tiếp nhận, phân loại và gợi ý xử lý hồ sơ hành chính không chỉ giúp giảm tải khối lượng công việc cho cán bộ mà còn hạn chế sai sót, nâng cao tính chính xác và kịp thời trong giải quyết thủ tục26. Đồng thời, các ứng dụng như: chatbot và trợ lý số có thể hỗ trợ cung cấp thông tin 24/7 trên cổng dịch vụ công, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin về chính sách27, quy trình và biểu mẫu một cách minh bạch và thuận tiện.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế trong ứng dụng AI vào quản lý hành chính, đặc biệt trong số hóa và tự động hóa quy trình, có ý nghĩa quan trọng. Các công nghệ, như: OCR, ICR và NLP cho phép nhận dạng, trích xuất và xử lý thông tin từ tài liệu với độ chính xác cao29; cùng với các công cụ như Google Document AI28, Microsoft Form Recognizer hay ABBYY FlexiCapture đang góp phần đẩy nhanh quá trình xử lý hồ sơ và giảm phụ thuộc vào thao tác thủ công. Ngoài ra, việc khai thác dữ liệu lớn (Big Data) cho phép dự báo nhu cầu dịch vụ công, hỗ trợ phân bổ nguồn lực hợp lý, nhất là trong bối cảnh thay đổi quy mô dân số sau sáp nhập.
Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả triển khai, cần tuân thủ nghiêm các tiêu chuẩn về an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân; đồng thời chú trọng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thông qua đào tạo kỹ năng số, tư duy phân tích dữ liệu và hiểu biết về hệ thống AI, qua đó bảo đảm việc vận hành và giám sát được thực hiện một cách hiệu quả và an toàn.
6. Kết luận
Chuyển đổi số giữ vai trò là “cầu nối” quan trọng trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, góp phần nâng cao chất lượng quản trị, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực; đồng thời, cải thiện hiệu quả phục vụ người dân30. Thông qua số hóa và ứng dụng công nghệ, hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện minh bạch, nhanh chóng và hiệu quả hơn, qua đó nâng cao hiệu lực và hiệu quả của bộ máy chính quyền. Bên cạnh đó, chuyển đổi số còn tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương thông qua việc cải thiện môi trường đầu tư31, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường tương tác giữa chính quyền với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để chuyển đổi số thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục đẩy mạnh đầu tư hạ tầng số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống dữ liệu bảo đảm an toàn, bảo mật. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền trong việc chia sẻ và khai thác dữ liệu, cũng như triển khai các giải pháp một cách đồng bộ. Với cách tiếp cận toàn diện và nhất quán, chuyển đổi số sẽ trở thành động lực bền vững, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hướng tới mục tiêu phục vụ người dân tốt hơn và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Chú thích:
1, 5, 20. Chuyển đổi số là “chìa khóa” nâng tầm lĩnh vực tài chính Việt Nam. https://tapchikinhtetaichinh.vn/chuyen-doi-so-la-chia-khoa-nang-tam-linh-vuc-tai-chinh-viet-nam-69276.html.
2. Nguyễn Văn Hùng (2024). Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước tại Việt Nam. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2024, tr. 45 – 52.
3. Kinh nghiệm chuyển đổi số quốc gia của Estonia, Hàn Quốc, Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/23/kinh-nghiem-chuyen-doi-so-quoc-gia-cua-estonia-han-quoc-singapore-va-ham-y-chinh-sach-cho-viet-nam.
4. Nguyễn Tuấn Anh (2020). Thúc đẩy chuyển đổi số tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9/2020, tr. 13 – 15.
6. Trần Thị Minh Ngọc (2025). Chính quyền số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam. Tạp chí Luật học, số 2/2025, tr. 23 – 31.
7. Lê Quang Huy (2024). Ứng dụng dữ liệu lớn trong quản lý hành chính công. Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 8/2024, tr. 60 – 68.
8. Hoàn thiện thể chế chuyển đổi số trong quản lý nhà nước,.Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn.
9. Lê Minh Tuấn (2025). Hợp tác công – tư trong phát triển hạ tầng số. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 4/2025, tr. 25 – 33.
10, 11, 15, 17, 21. Đặng Thị Thu Trang (2025). Phát triển hạ tầng số trong xây dựng chính quyền số tại Việt Nam. Tạp chí Thông tin và Truyền thông, số 3/2025, tr. 30 – 36.
12. Trần Quốc Việt (2023). Quản trị công trong bối cảnh chuyển đổi số. Chính trị quốc gia Sự thật.
13. Nguyễn Đức Thành (2024). Chuyển đổi số và cải cách hành chính ở Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12/2024, tr. 15 – 22.
14. Lê Minh Tuấn (2025). Hợp tác công – tư trong phát triển hạ tầng số. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 4/2025, tr. 25 – 33.
16, 18, 19, 21, 25. Nguyễn Hoàng Anh (2024). Nâng cao năng lực cán bộ trong chuyển đổi số tại chính quyền địa phương. Tạp chí Khoa học hành chính, số 10/2024, tr. 55 – 62.
22. Phạm Quang Dũng (2024). Liên thông dữ liệu và quản trị số trong khu vực công. Tạp chí Pháp luật và Phát triển, số 6/2024, tr. 40 – 48.
23, 31. Công nghệ số – Trụ cột hỗ trợ chính quyền địa phương 2 cấp và 5 nhóm giải pháp từ Bộ KHCN. https://mst.gov.vn/cong-nghe-so-tru-cot-ho-tro-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-va-5-nhom-giai-phap-tu-bo-khcn-197250615095138164.htm.
24. Trần Thị Hạnh (2024). Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong chuyển đổi số tại Việt Nam. Tạp chí Luật học, số 9/2024, tr. 70 – 78.
26, 27, 29. Quản lý nhà nước về phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/04/10/quan-ly-nha-nuoc-ve-phat-trien-va-ung-dung-tri-tue-nhan-tao-tai-viet-nam-hien-nay/
28, 30. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý hành chính công. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/08/19/ung-dung-tri-tue-nhan-tao-trong-quan-ly-hanh-chinh-cong/.



