Phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình trong xây dựng chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam

Decentralization and devolution in association with accountability in the development of a two-tier local government system in Vietnam

TS. Tô Trọng Mạnh
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh đổi mới quản trị quốc gia và xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình trở thành yêu cầu tất yếu. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình trong quản trị công; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam trong tiến trình xây dựng chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế mang tính cấu trúc, như: tình trạng chồng chéo thẩm quyền, cơ chế giải trình chưa rõ ràng và thiếu tính ràng buộc, phân quyền chưa gắn đủ với nguồn lực thực thi. Từ đó, bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường minh bạch, góp phần xây dựng chính quyền địa phương hai cấp hiện đại, hiệu quả và phục vụ người dân tốt hơn.

Từ khóa: Phân cấp; phân quyền; trách nhiệm giải trình; chính quyền địa phương hai cấp; quản trị công.

Abstract: In the context of national governance reform and the development of a streamlined, effective, and efficient administrative apparatus, strengthening decentralization and devolution linked to accountability has become an imperative. This article analyzes the theoretical foundations of decentralization, devolution, and accountability in public governance; assesses the current implementation in Vietnam, particularly in the process of building a two-tier local government. On this basis, the article identifies structural limitations such as overlapping jurisdictions, unclear and non-binding accountability mechanisms, and devolution that is not adequately aligned with implementation resources. The article consequently proposes five groups of solutions to improve institutions, enhance implementation capacity, and strengthen transparency, contributing to the development of a modern, efficient, and citizen-centered two-tier local government.

Keywords: Decentralization; devolution; accountability; two-tier local government system; public governance.
1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình cải cách hành chính và đổi mới hệ thống chính trị, Việt Nam đang từng bước xây dựng mô hình chính quyền địa phương tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Một trong những định hướng quan trọng là tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, phù hợp với điều kiện phát triển và yêu cầu quản trị hiện đại. Bối cảnh này được thúc đẩy bởi chủ trương tinh gọn bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 20251. Trong đó, phân cấp, phân quyền được xem là công cụ quan trọng nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong điều kiện giảm bớt cấp trung gian.

Tuy nhiên, phân cấp, phân quyền chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi đôi với cơ chế kiểm soát quyền lực, đặc biệt là trách nhiệm giải trình. Thực tiễn cho thấy, khi thiếu cơ chế giải trình rõ ràng, việc trao quyền có thể dẫn đến lạm quyền, thiếu minh bạch hoặc phân tán trách nhiệm quản lý nhà nước (Bovens, 2007)2. Do đó, nghiên cứu về phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình trong xây dựng chính quyền địa phương hai cấp có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn hiện nay. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
2. Cơ sở lý luận về phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình
2.1. Phân cấp và phân quyền trong quản trị công

Trong khoa học quản trị công, phân cấp và phân quyền được xem là hai cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước theo hướng phi tập trung, nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và thích ứng với tính đa dạng của các đơn vị lãnh thổ. Về khái niệm, phân cấp được hiểu là việc chuyển giao một phần thẩm quyền quản lý từ cấp trung ương xuống các cấp hành chính thấp hơn, song vẫn nằm trong khuôn khổ kiểm soát thống nhất của trung ương. Trong khi đó, phân quyền mang tính sâu rộng hơn, thể hiện ở việc trao quyền tự chủ tương đối ổn định, gắn với trách nhiệm pháp lý rõ ràng cho chính quyền địa phương, cho phép họ chủ động quyết định và chịu trách nhiệm về các vấn đề thuộc phạm vi quản lý của mình3.

Xét về bản chất, phân cấp thiên về kỹ thuật quản lý hành chính, còn phân quyền mang tính chính trị – pháp lý rõ nét hơn, phản ánh mức độ tự chủ của chính quyền địa phương trong cấu trúc nhà nước. Cả hai cơ chế đều hướng tới mục tiêu chung là giảm tải cho trung ương, nâng cao tính linh hoạt trong điều hành và phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong cung ứng dịch vụ công và phát triển kinh tế – xã hội4. Tuy nhiên, nếu thiếu thiết kế thể chế phù hợp, phân cấp và phân quyền có thể dẫn đến tình trạng phân tán quyền lực, chồng chéo thẩm quyền hoặc “cát cứ” hành chính.
2.2. Trách nhiệm giải trình – nền tảng kiểm soát quyền lực trong điều kiện phân quyền

Trách nhiệm giải trình là nguyên tắc nền tảng để bảo đảm quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả. Theo khung phân tích phổ biến trong khoa học hành chính công, trách nhiệm giải trình bao gồm ba thành tố cơ bản: (1) Nghĩa vụ cung cấp thông tin; (2) Khả năng bị đánh giá, giám sát; (3) Chế tài đối với hành vi vi phạm5. Như vậy, trách nhiệm giải trình không chỉ dừng lại ở việc “giải thích” mà còn bao hàm cả việc “chịu trách nhiệm” trước các chủ thể có thẩm quyền và trước xã hội.

Trong điều kiện phân cấp, phân quyền, trách nhiệm giải trình được thể hiện trên nhiều khía cạnh, như: giải trình theo chiều dọc giữa các cấp chính quyền; giải trình theo chiều ngang giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước; và giải trình xã hội đối với người dân và các tổ chức chính trị – xã hội6. Việc thiết lập cơ chế giải trình đa chiều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm ngăn ngừa lạm quyền, bảo đảm tính minh bạch và nâng cao hiệu quả quản trị công.
2.3. Mối quan hệ giữa phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình

Từ góc độ lý thuyết, mối quan hệ giữa phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình có thể được lý giải thông qua tiếp cận “ủy quyền – kiểm soát”. Theo đó, khi trung ương trao quyền cho địa phương, nguy cơ lệch chuẩn trong thực thi quyền lực luôn tồn tại do bất cân xứng thông tin và sự khác biệt về lợi ích. Vì vậy, trách nhiệm giải trình chính là cơ chế kiểm soát nhằm bảo đảm các chủ thể được trao quyền hành động phù hợp với mục tiêu chung của nhà nước7.

Như vậy, trong quản trị công hiện đại, phân cấp và phân quyền không thể tách rời trách nhiệm giải trình. Nếu phân cấp, phân quyền tạo điều kiện cho tự chủ và linh hoạt trong quản lý thì trách nhiệm giải trình đóng vai trò là “ràng buộc thể chế” bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, minh bạch và hiệu quả. Sự kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố này chính là nền tảng để xây dựng một nền hành chính dân chủ, có trách nhiệm và hướng tới phục vụ người dân.
3. Thực tiễn phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình ở Việt Nam
3.1. Những kết quả đạt được

Từ ngày 01/7/2025, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo quy định của Quốc hội đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tiến trình cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, nâng cao tính chủ động của chính quyền cơ sở và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về mô hình tổ chức hành chính mà còn đặt ra yêu cầu tái cấu trúc mối quan hệ giữa phân cấp, phân quyền với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong quản trị công.

Theo tinh thần Nghị quyết số 74/NQ-CP ngày 07/4/2025 của Chính phủ, việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp được định hướng theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương; đồng thời, bảo đảm cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực trong quá trình thực thi nhiệm vụ8. Điều này cho thấy quan điểm nhất quán của Nhà nước trong việc gắn mở rộng thẩm quyền với nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ và trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp.

Những kết quả bước đầu của quá trình vận hành mô hình này được thể hiện trong Kế hoạch sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp ban hành kèm theo Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Nội dung sơ kết được thiết kế tương đối toàn diện, tập trung đánh giá các vấn đề cốt lõi, như: tổ chức bộ máy và nhân sự; kết quả phân cấp, phân quyền, ủy quyền; giải quyết thủ tục hành chính; chuyển đổi số; quản lý, xử lý tài sản công; cũng như những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai9. Cách tiếp cận này cho thấy hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ được đánh giá ở phương diện tinh giản tổ chức bộ máy mà còn được đo lường thông qua chất lượng thực thi quyền lực công và năng lực quản trị của chính quyền cơ sở. Qua đó, quá trình phân quyền ở Việt Nam đang từng bước chuyển từ “phân quyền hành chính” sang “phân quyền gắn với điều kiện thực thi”, trong đó, việc trao thêm thẩm quyền cho địa phương phải đi liền với yêu cầu về năng lực nhân sự, nguồn lực tài chính, hạ tầng số và cơ chế kiểm soát trách nhiệm.

Để bảo đảm tính khả thi của quá trình phân quyền, Chính phủ đã triển khai chương trình tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, đến hết năm 2028, 100% cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn theo vị trí việc làm mới phải được cử đi bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành; đồng thời, bảo đảm ít nhất 50% công chức chuyên môn cấp xã được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước phục vụ vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp10. Quyết định cũng đặt mục tiêu đến năm 2031, toàn bộ cán bộ, công chức cấp xã được cập nhật kiến thức, kỹ năng và nghiệp vụ mới nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số.

Đáng chú ý, Quyết định số 700/QĐ-TTg quy định khá cụ thể về cấu trúc và thời lượng các chương trình bồi dưỡng. Nội dung đào tạo tập trung vào các lĩnh vực có tác động trực tiếp đến hiệu quả phân quyền, như: quản lý đầu tư công, tài chính, đất đai, trật tự xây dựng, chuyển đổi số, quản trị dữ liệu, giải quyết thủ tục hành chính và phối hợp liên ngành. Điều này cho thấy Nhà nước tiếp cận phân quyền không đơn thuần là hoạt động chuyển giao thẩm quyền pháp lý mà là quá trình tái cấu trúc đồng bộ năng lực quản trị ở cấp cơ sở.

Bên cạnh yếu tố nhân lực, việc bảo đảm điều kiện vật chất cho mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng được đặc biệt chú trọng. Theo thông cáo báo chí của Bộ Tài chính tháng 02/2026, quá trình sắp xếp đơn vị hành chính gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã kéo theo yêu cầu xử lý, bố trí lại quy mô lớn đối với tài sản công. Tính đến hết tháng 01/2026, cả nước đã hoàn thành xử lý, sắp xếp trên 25.800 cơ sở nhà, đất; trong đó, nhiều cơ sở được chuyển đổi phục vụ giáo dục, y tế, thể thao và hoạt động công vụ11. Kết quả này cho thấy phân cấp, phân quyền không chỉ là quá trình điều chỉnh thẩm quyền quản lý mà còn đòi hỏi tái cơ cấu nguồn lực công nhằm bảo đảm cho chính quyền địa phương vận hành ổn định, hiệu quả và bền vững.
3.2. Những hạn chế mang tính cấu trúc

Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được, thực tiễn triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng cho thấy nhiều khó khăn, thách thức mang tính cấu trúc trong quá trình phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình.

Thứ nhất, hiệu quả của phân quyền phụ thuộc lớn vào mức độ đồng bộ trong cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền. Quyết định số 706/QĐ-TTg yêu cầu các địa phương báo cáo riêng về việc bàn giao, tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, hồ sơ công việc và xử lý các vấn đề chuyển tiếp sau sắp xếp. Điều này cho thấy Nhà nước đã dự liệu nguy cơ phát sinh “độ trễ thể chế” trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tổ chức. Trên phương diện quản trị công, đây là biểu hiện của tình trạng “khoảng trống trách nhiệm”, khi thẩm quyền đã được chuyển giao nhưng cơ chế phối hợp, kiểm soát và xác định trách nhiệm giữa các chủ thể chưa được hoàn thiện tương ứng.

Thứ hai, năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở vẫn là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của quá trình phân quyền. Quyết định số 700/QĐ-TTg yêu cầu các địa phương rà soát, đánh giá thực trạng trình độ, năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã; đồng thời, lập danh sách các trường hợp cần bồi dưỡng, nhất là nhóm chịu tác động trực tiếp từ việc sắp xếp tổ chức bộ máy. Đáng chú ý, Quyết định cũng yêu cầu kết quả bồi dưỡng của cán bộ, công chức phải được cập nhật lên phần mềm đánh giá và quản lý chất lượng bồi dưỡng do Bộ Nội vụ xây dựng. Điều này cho thấy chính sách phân quyền hiện nay không chỉ dừng ở việc mở rộng thẩm quyền cho địa phương mà đang từng bước chuyển sang tiếp cận quản trị theo năng lực và kết quả thực thi công vụ.

Thứ ba, trách nhiệm giải trình trong bối cảnh mới ngày càng gắn chặt với chuyển đổi số và minh bạch hóa hoạt động hành chính. Quyết định số 706/QĐ-TTg yêu cầu các bộ, ngành và địa phương báo cáo về tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, mức độ liên thông dữ liệu, kết quả số hóa hồ sơ cũng như mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính. Đồng thời, Quyết định số 700/QĐ-TTg xác định việc xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung toàn quốc và phần mềm quản lý, đánh giá chất lượng bồi dưỡng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026-2031. Điều này phản ánh xu hướng chuyển từ cơ chế giải trình hành chính truyền thống sang mô hình giải trình dựa trên dữ liệu, công khai thông tin và khả năng đo lường hiệu quả phục vụ người dân.

Từ những phân tích trên có thể nhận định rằng hiệu quả thực chất của phân cấp, phân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ phụ thuộc vào ba điều kiện cơ bản: (1) Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền; (2) Nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở; và (3) Xây dựng cơ chế giải trình dựa trên minh bạch dữ liệu, kiểm soát quyền lực và giám sát xã hội. Nếu thiếu tính đồng bộ giữa ba điều kiện này, quá trình phân quyền rất dễ rơi vào tình trạng mở rộng thẩm quyền mang tính hình thức mà chưa tạo được chuyển biến thực chất về chất lượng quản trị địa phương.
4. Yêu cầu đặt ra trong xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Việc xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp là bước đi quan trọng trong đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước. Để mô hình này vận hành hiệu quả, cần đáp ứng đồng bộ nhiều yêu cầu về thể chế, tổ chức và năng lực quản trị.

Thứ nhất, phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của từng cấp chính quyền theo nguyên tắc phân định rành mạch, bảo đảm tính minh bạch, hạn chế tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc lạm quyền trong thực thi công vụ. Điều này đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đặc biệt, các quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, theo hướng làm rõ ranh giới thẩm quyền giữa trung ương và địa phương.

Thứ hai, cần thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng và hiệu quả giữa các cấp chính quyền cũng như giữa chính quyền với người dân. Trong mô hình hai cấp, khi số tầng trung gian giảm xuống, áp lực giải trình trực tiếp của chính quyền cơ sở đối với người dân sẽ gia tăng, đòi hỏi xây dựng các thiết chế giải trình theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang; đồng thời, mở rộng các kênh giải trình xã hội.

Thứ ba, tinh gọn bộ máy đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Khi quyền hạn được phân cấp mạnh hơn, đội ngũ thực thi ở địa phương phải có đủ năng lực chuyên môn, kỹ năng quản trị và đạo đức công vụ, gắn với yêu cầu chuyển đổi từ mô hình “quản lý hành chính truyền thống” sang “quản trị công hiện đại”12.

Thứ tư, cần bảo đảm sự tương thích giữa phân quyền và nguồn lực thực thi “trao quyền phải đi đôi với trao nguồn lực”, bao gồm: nguồn lực tài chính, nhân sự và thông tin. Nếu không bảo đảm điều kiện này, phân quyền có thể trở nên hình thức và làm suy giảm chất lượng dịch vụ công.

Thứ năm, cần tăng cường ứng dụng công nghệ số nhằm hỗ trợ cơ chế giải trình và nâng cao hiệu quả quản trị. Xây dựng chính quyền số, công khai dữ liệu và sử dụng các nền tảng số trong quản lý không chỉ nâng cao tính minh bạch mà còn tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát một cách thực chất hơn, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số quốc gia và định hướng phát triển quản trị công hiện đại.
5. Giải pháp hoàn thiện

Nhằm bảo đảm sự gắn kết hiệu quả giữa phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình trong xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, tổ chức và năng lực thực thi.

Một là, hoàn thiện thể chế về phân cấp, phân quyền.

Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng phân định rõ ràng, ổn định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương, cũng như giữa các cấp chính quyền địa phương. Trọng tâm là hoàn thiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và các luật có liên quan, bảo đảm nguyên tắc “một việc – một chủ thể chịu trách nhiệm chính”. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phân quyền theo hướng tăng tính tự chủ cho địa phương nhưng vẫn duy trì sự kiểm soát thống nhất của trung ương, đây là điều kiện tiên quyết để hạn chế tình trạng chồng chéo thẩm quyền và nâng cao hiệu quả quản trị.

Hai là, thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng và có tính ràng buộc.

Cần cụ thể hóa trách nhiệm giải trình của từng chủ thể trong toàn bộ chu trình chính sách, từ hoạch định, thực thi đến đánh giá, bao gồm: việc xác định rõ “ai chịu trách nhiệm, chịu trách nhiệm trước ai và chịu trách nhiệm về vấn đề gì”13. Bên cạnh đó, cần tăng cường các chế tài pháp lý đối với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải trình, bảo đảm trách nhiệm giải trình trở thành nghĩa vụ bắt buộc, có tính ràng buộc thực chất trong thực thi công vụ.

Ba là, tăng cường công khai, minh bạch gắn với chuyển đổi số.

Minh bạch là nền tảng của trách nhiệm giải trình. Cần đẩy mạnh công khai thông tin trong các lĩnh vực như ngân sách, đầu tư công, đất đai và cung ứng dịch vụ công. Việc phát triển chính quyền số, xây dựng hệ thống dữ liệu mở và các nền tảng tương tác trực tuyến sẽ tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận thông tin và tham gia giám sát. Theo kinh nghiệm quốc tế, chuyển đổi số không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần giảm thiểu tham nhũng và tăng cường niềm tin xã hội đối với chính quyền14.

Bốn là, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức địa phương.

Trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức giữ vai trò quyết định đến hiệu quả thực thi chính sách. Cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng phát triển năng lực quản trị hiện đại, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải trình và đạo đức công vụ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế đánh giá, tuyển dụng và đãi ngộ cán bộ dựa trên kết quả thực thi nhiệm vụ, gắn với trách nhiệm giải trình cá nhân.

Năm là, phát huy vai trò giám sát xã hội của người dân.

Một nền quản trị hiệu quả không thể thiếu sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội. Cần hoàn thiện các cơ chế để người dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội tham gia giám sát hoạt động của chính quyền địa phương, bao gồm: mở rộng các kênh phản hồi, đối thoại chính sách, trưng cầu ý kiến và giám sát cộng đồng. Khi người dân có điều kiện tham gia thực chất vào quá trình quản trị, trách nhiệm giải trình của chính quyền sẽ được tăng cường một cách tự nhiên và bền vững15.
6. Kết luận

Phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình là xu hướng tất yếu trong xây dựng nền hành chính hiện đại và hiệu quả. Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giảm bớt tầng trung gian và trao nhiều quyền tự chủ hơn cho chính quyền cơ sở, việc bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa trao quyền và kiểm soát quyền lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực tiễn cho thấy, khi thiếu cơ chế giải trình hiệu quả, phân cấp, phân quyền có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng trong quản lý nhà nước, như: lạm quyền, phân tán trách nhiệm và suy giảm hiệu lực pháp lý.

Các giải pháp được đề xuất, hoàn thiện thể chế phân quyền; thiết lập cơ chế giải trình có tính ràng buộc; tăng cường minh bạch gắn với chuyển đổi số; nâng cao năng lực cán bộ; và phát huy giám sát xã hội, cần được triển khai đồng bộ và nhất quán. Đây là điều kiện then chốt để xây dựng chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu quả, minh bạch và phục vụ người dân tốt hơn trong bối cảnh phát triển mới của đất nước.

Chú thích:
1. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
2, 5, 13. Bovens, M (2007). Analysing and assessing accountability: A conceptual framework. European Law Journal, 13(4), 447–468. https://doi.org/10.1111/j.1468-0386.2007.00378.x
3. Rondinelli, D. A (1981). Government decentralization in comparative perspective: Theory and practice in developing countries. International Review of Administrative Sciences, 47(2), 133 – 145. https://doi.org/10.1177/002085238104700205
4. World Bank (2000). Entering the 21st century: World development report 1999/2000. Oxford University Press.
6. UNDP (2010). Accountability in democratic governance: Dimensions and strategies. UNDP Democratic Governance Practice.
7. OECD (2019). Making decentralisation work: A handbook for policy-makers. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/g2g9faa7-en
8. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 74/NQ-CP ngày 07/4/2025 ban hành kế hoạch thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
9. Chính phủ (2026). Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 ban hành Kế hoạch tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp.
10. Chính phủ (2026). Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 – 2031.
11. Thông tin báo chí về tình hình thực hiện Chương trình công tác tháng 02/2026 của Bộ Tài chính. https://www.mof.gov.vn/tin-tuc-tai-chinh/thong-cao-bao-chi-2/ttbc-ve-tinh-hinh-thuc-hien-chuong-trinh-cong-tac-thang-022026-cua-bo-tai-chinh.
12. Chính phủ (2024). Báo cáo rà soát, đánh giá thực hiện phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước năm 2024.
14. World Bank (2020). Decentralization and subnational governance in Asia. Washington, DC: World Bank.
15. UNDP (2021). The Vietnam provincial governance and public administration performance index (PAPI) 2020. UNDP Vietnam.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Phân cấp, phân quyền trong tổ chức chính quyền địa phương hai cấp: thách thức đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/09/23/phan-cap-phan-quyen-trong-to-chuc-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-thach-thuc-doi-voi-hoat-dong-giam-sat-cua-hoi-dong-nhan-dan/.