Vai trò tiên phong của quân đội trong bảo vệ các đột phá chiến lược của Đảng trên mặt trận tư tưởng

The military’s vanguard role in defending the The Communist Party of Vietnam strategic breakthroughs within the ideological

 Tạ Văn Công, Nguyễn Trung Thành
Bộ Tư lệnh 86
ThS. Vũ Thu Hiền
Tổng cục 2
Trần Thanh Tùng
Tổng cục Chính trị
ThS. Dương Ngọc Anh
Bộ Tư lệnh Pháo binh – Tên lửa

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích tính tất yếu và tầm quan trọng chiến lược của việc đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào thực tiễn trận địa tư tưởng, nhấn mạnh vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, việc bảo vệ ba đột phá chiến lược về thể chế, nhân lực và hạ tầng không chỉ là nhiệm vụ thực thi mà còn là cuộc đấu tranh tư tưởng sắc bén. Dựa trên tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW và Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị, bài viết luận giải trách nhiệm của quân đội trong việc nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái; đồng thời, đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị cho toàn quân, từ đó, khẳng định quân đội phải là “thanh bảo kiếm” và “lá chắn” vững chắc nhất để hiện thực hóa khát vọng dân tộc hùng cường.

Từ khóa: Đại hội XIV của Đảng; trận địa tư tưởng; Quân đội nhân dân Việt Nam; đột phá chiến lược; kỷ nguyên vươn mình.

Abstract: The article analyzes the necessity and strategic importance of bringing the resolution of congress xiv of the party into practice on the ideological front, emphasizing the core role of the Vietnam people’s Army. In the context of the country entering the “era of rise”, protecting the three strategic breakthroughs on institutions, human resources and infrastructure is not only an implementation task but also a sharp ideological struggle. Based on the spirit of Resolution 35-NQ/TW and Regulation 144-QĐ/TW of the politburo, the article argues the responsibility of the army in identifying and refuting wrong viewpoints; at the same time, proposes a system of solutions to enhance political mettle for the entire army, thereby affirming that the Army must be the “sharp sword” and the most solid “shield” to realize the aspiration of a strong nation.

Keywords: Congress XIV of the party; Ideological front; Vietnam people’s Army; strategic breakthrough; era of national growth.

1. Đặt vấn đề

Lịch sử cách mạng Việt Nam đang đứng trước một thời điểm mang tính bước ngoặt, nơi sự tích lũy về thế và lực sau 40 năm đổi mới đã đủ độ chín để tạo ra một xung lực phát triển mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng không đơn thuần là một kỳ đại hội chuyển tiếp nhiệm kỳ mà được xác lập là “mốc son” khởi đầu cho một giai đoạn phát triển phi thường. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Đại hội XIV của Đảng là sự kiện trọng đại của đất nước, bước ngoặt mang tính lịch sử, tập trung cao độ ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta với tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh vào kỷ nguyên mới”1. Đây là giai đoạn chuyển dịch từ trạng thái ổn định sang trạng thái bứt phá, hiện thực hóa khát vọng dân tộc hùng cường.

Thuật ngữ “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” lần đầu tiên được định danh chính thức, phản ánh tư duy tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa thời cơ thời đại và nội lực dân tộc. Đây là thời điểm mà toàn hệ thống chính trị phải tập trung hoàn thành hai mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được tầm nhìn đó, việc giữ vững trận địa tư tưởng trở thành yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết. Sự ổn định về tư tưởng không chỉ là nền tảng của ổn định chính trị mà còn là động lực tinh thần để hiện thực hóa các quyết sách. Nghiên cứu lý luận đã chỉ rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”2.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tác chiến thông tin và nhận thức, trận địa tư tưởng không còn bó hẹp trong không gian truyền thống mà mở rộng sang môi trường không gian mạng – môi trường tác chiến thứ năm đầy phức tạp. Sự thâm nhập của trí tuệ nhân tạo (AI) và các chiến dịch tuyên truyền đen nhắm vào việc xuyên tạc nội dung Văn kiện Đại hội XIV đặt ra thách thức về bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, việc đưa Nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống thông qua trận địa tư tưởng đòi hỏi sự vào cuộc của những lực lượng tinh nhuệ nhất.

Quân đội nhân dân Việt Nam, với bản chất là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, phải khẳng định vị thế nòng cốt trên mặt trận này. Sứ mệnh của quân đội trong kỷ nguyên mới không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn là tiên phong bảo vệ các đột phá chiến lược về thể chế, nhân lực và hạ tầng. Sự kiên định của người chiến sĩ trên trận địa tư tưởng chính là bảo đảm thép để ngăn chặn mọi âm mưu phi chính trị hóa vũ trang và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc quân đội tiên phong đưa nghị quyết vào trận địa tư tưởng chính là hành động cụ thể nhất để bảo vệ mục tiêu lý tưởng của Đảng trong thời đại số.

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo vệ nền tảng tư tưởng trong giai đoạn mới

2.1. Nền tảng lý luận về tính chính danh và sự kiên định hệ tư tưởng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ là một hoạt động nghiệp vụ của công tác tuyên giáo, mà là vấn đề mang tính quy luật, quyết định sự tồn vong của một Đảng cầm quyền. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là thành tố cốt lõi, tạo nên bản sắc và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh… Đảng có vững cách mệnh mới thành công… Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”3. Dựa trên nền tảng tư tưởng vĩ đại đó, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã định vị rõ giá trị của sự kiên định trong thời đại mới: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”4.

Lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng trong giai đoạn Đại hội XIV của Đảng được mở rộng từ việc bảo vệ các nguyên lý cơ bản sang việc bảo vệ sự vận dụng các nguyên lý đó vào con đường đổi mới. Đối tượng bảo vệ hiện nay đã mang tính tổng hợp, bao hàm cả lợi ích quốc gia – dân tộc và sự ổn định của chế độ pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.

2.2. Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng tại Đại hội XIV

Đại hội XIV đánh dấu một bước tiến mới khi lần đầu tiên đưa Lý luận về đường lối đổi mới trở thành một thành tố quan trọng trong hệ thống tư tưởng cần bảo vệ. Đây là kết quả của quá trình tổng kết 40 năm đổi mới, khẳng định rằng những kinh nghiệm thực tiễn sinh động của Việt Nam đã được nâng tầm thành lý luận khoa học. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh yêu cầu: Hoàn thiện cơ bản hệ thống lý luận về đường lối đổi mới; đến năm 2030… bổ sung, làm phong phú và tiến thêm một bước để hoàn thiện hơn nền tảng tư tưởng của Đảng5.

Điểm mới đặc sắc trong cơ sở lý luận giai đoạn này là sự gắn kết hữu cơ giữa đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị. Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 đã thiết lập một hệ tiêu chuẩn đạo đức mới, coi đây là màng lọc tư tưởng từ bên trong mỗi cán bộ, đảng viên. Lý luận hiện đại khẳng định: “Thực hành đạo đức không có điểm dừng và cán bộ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu tự soi, tự sửa”6.  Điều này cho thấy, bảo vệ tư tưởng không chỉ là hướng ngoại (đấu tranh với kẻ thù) mà còn là hướng nội (giữ gìn sự liêm chính của đội ngũ thực thi).

2.3. Thách thức thực tiễn và môi trường tác chiến tư tưởng mới

Thực tiễn bối cảnh trước và sau Đại hội XIV cho thấy, trận địa tư tưởng đang chịu sức ép từ hai phía: sự chống phá tinh vi của các thế lực thù địch và những tác động tiêu cực của cuộc cách mạng công nghệ số. Không gian mạng đã trở thành môi trường tác chiến chính yếu, nơi các thuật toán và trí tuệ nhân tạo (AI) được lợi dụng để tạo ra thông tin giả đa chiều. Các thế lực phản động chuyển trọng tâm từ công kích trực diện sang hình thức “mưa dầm thấm lâu”, triệt để lợi dụng các vấn đề về môi trường, đất đai và cả công tác nhân sự của Đảng để gieo rắc sự hoài nghi.

Nguy hiểm hơn, các chiến dịch thông tin này thường nhắm vào việc phi chính trị hóa lực lượng vũ trang. Thực tế chỉ rõ: “Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học – công nghệ, mạng xã hội, báo chí điện tử để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, xuyên tạc, gây chia rẽ nội bộ, hạ bệ uy tín lãnh đạo”7.

Điều này đòi hỏi công tác bảo vệ tư tưởng phải thoát ly khỏi lối mòn hành chính để tiến sang tư duy tác chiến kỹ thuật số. Việc bảo vệ các đột phá chiến lược về thể chế, nhân lực và hạ tầng không thể tách rời việc bảo vệ tính đúng đắn về mặt tư tưởng của các chính sách này. Nếu không giữ vững trận địa tư tưởng, mọi thành tựu kinh tế – hạ tầng sẽ thiếu đi điểm tựa niềm tin từ Nhân dân, dẫn đến nguy cơ tự diễn biến, tự chuyển hóa từ bên trong hệ thống. Chính sự đan xen giữa cơ sở lý luận kiên định và thực tiễn đầy biến động này đã đặt ra yêu cầu tất yếu về một lực lượng tiên phong, kỷ luật và trung thành – đó chính là Quân đội nhân dân Việt Nam.

3. Quân đội tiên phong trong bảo vệ ba đột phá chiến lược

Đại hội XIV xác định ba đột phá chiến lược là hệ điều kiện cần và đủ để khơi thông nguồn lực, tạo xung lực cho “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Với bản chất là lực lượng chính trị tin cậy, Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là chủ thể thực hiện mà còn là lực lượng tiên phong bảo vệ sự toàn vẹn và hiệu quả của các đột phá này trên cả phương diện thực tiễn và tư tưởng.

3.1. Bảo vệ đột phá về thể chế và hiệu lực thực thi – tinh gọn để kiến tạo

Đại hội XIV tiếp tục nhận diện thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn. Để khơi thông bế tắc này, Đảng chủ trương một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng cũng là đột phá của đột phá”. Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới”8.

Quân đội đã thể hiện tính tiên phong bằng việc đi đầu trong thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức, giảm đầu mối trung gian, ưu tiên quân số cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu theo hướng tinh, gọn, mạnh. Sự quyết liệt của Quân đội trong việc tự đổi mới chính là bằng chứng đanh thép để phản bác luận điệu cho rằng cải cách thể chế là xáo rỗng” hay “chỉ nằm trên giấy. Bảo vệ đột phá thể chế còn là việc đấu tranh tư tưởng với tư duy bảo thủ, trì trệ, tư duy nhiệm kỳlợi ích nhóm đang cản trở tiến trình hiện đại hóa đất nước.

3.2. Bảo vệ đột phá về nguồn nhân lực – đạo đức gắn liền với năng lực số

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định tốc độ và chất lượng tăng trưởng trong kỷ nguyên số. Đối với lực lượng vũ trang, đột phá này gắn liền với việc xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, lấy Quy định số 144-QĐ/TW làm chuẩn mực hành vi. Quy định này yêu cầu cán bộ phải:“Thực hiện văn hóa từ chức khi không còn đủ uy tín hoặc năng lực, đây là biểu hiện cao nhất của lòng tự trọng và trách nhiệm với Đảng”9.

Quân đội tiên phong trong việc đào tạo đội ngũ sĩ quan không chỉ tinh thông nghệ thuật quân sự mà còn làm chủ công nghệ cao, AI và dữ liệu lớn (Big Data). Việc thực hành đạo đức cách mạng khắt khe trong môi trường quân ngũ giúp tạo ra một thế hệ nhân lực có “sức đề kháng” tuyệt đối trước sự xói mòn về lý tưởng. Sự liêm chính, gương mẫu của quân nhân chính là lá chắn vững chắc nhất để bảo vệ Đảng trước âm mưu diễn biến hòa bình nhắm vào đội ngũ cán bộ.

3.3. Bảo vệ đột phá về hạ tầng – lá chắn cho hạ tầng chiến lược quốc gia

Đột phá về hạ tầng đồng bộ, hiện đại là nền tảng vật chất cho sự phát triển bứt phá. Trong tầm nhìn Đại hội XIV của Đảng, hạ tầng không chỉ là cầu đường mà còn là hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu quốc gia. Sự an toàn của các dự án hạ tầng chiến lược (như đường sắt tốc độ cao, hạ tầng năng lượng hạt nhân) luôn là mục tiêu phá hoại của các thế lực thù địch.

Quân đội đóng vai trò hạt nhân trong việc bảo vệ an ninh, an toàn cho các công trình trọng điểm này. Đặc biệt, trên trận địa thứ năm, lực lượng tác chiến không gian mạng của Quân đội đóng vai trò tiên phong bảo vệ chủ quyền số và hạ tầng dữ liệu quốc gia. Văn kiện Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Tác chiến không gian mạng đã trở thành môi trường thứ năm…, tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia, dân tộc”10. Bảo vệ hạ tầng trong kỷ nguyên mới là bảo vệ mạch máu của nền kinh tế và sự ổn định của hệ thống quản trị quốc gia từ sớm, từ xa.

4. Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái nhằm vào Nghị quyết Đại hội XIV

Trong bối cảnh đất nước chuẩn bị chuyển mình sang một giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng không chỉ là mục tiêu hành động của toàn Đảng, toàn dân mà còn trở thành tâm điểm tấn công của các thế lực thù địch. Các chiến dịch chống phá hiện nay được triển khai với cấp độ tinh vi, sử dụng công nghệ cao để gieo rắc sự hoài nghi và làm xói mòn niềm tin chính trị.

4.1. Nhận diện các phương thức và thủ đoạn chống phá mới

Thực tiễn cho thấy, ngay khi các dự thảo văn kiện được công bố để lấy ý kiến nhân dân, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đã lập tức sử dụng chiêu bài “góp ý”, “phản biện” để lan truyền các luận điệu không đúng sự thật. Chúng triệt để lợi dụng các thuật toán trên các nền tảng mạng xã hội có lượng người dùng lớn, như: TikTok, Facebook, YouTube để tạo ra những “chiến dịch tuyên truyền đen” có kịch bản và chủ đích rõ ràng.

Đáng chú ý, các đối tượng đã chuyển từ hình thức công kích trực diện sang phương thức giả mạo đa chiều trên các nền tảng công nghệ số. Dù hình thức thể hiện có vẻ hiện đại, mang tính học thuật nhưng thực chất vẫn là những âm mưu cũ hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và xuyên tạc vị trí, tầm vóc của Đại hội XIV. Chúng lợi dụng AI để cắt ghép hình ảnh, video giả mạo nhằm bôi nhọ uy tín lãnh đạo cấp cao, tạo ra một “siêu thực tại giả” nhắm tới đối tượng trẻ tuổi ít kinh nghiệm chính trị.

4.2. Phản bác luận điệu xuyên tạc tính khoa học của Văn kiện Đại hội XIV

Một trong những mũi nhọn tấn công chính của kẻ thù là phủ nhận giá trị lý luận của các văn kiện. Chúng miệt thị văn kiện là: “Một mớ hổ lốn các câu chữ trộn lẫn vào nhau”, hoặc bôi nhọ nội dung chỉ là: “Những gì xào nấu lại từ những văn kiện trước”, “thiếu sự đổi mới, sáng tạo”11. Luận điệu này cố tình lờ đi một thực tế khách quan rằng Đại hội XIV đã bổ sung thành tố “Lý luận đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là một bước đột phá về tư duy bám sát thực tiễn 40 năm đổi mới, kiến tạo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội với khí thế và động lực mới.

Bên cạnh đó, trước thuật ngữ “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, các thế lực phản động rêu rao rằng đây là hành động “duy ý chí” hoặc “khẩu hiệu suông”. Tuy nhiên, cơ sở khoa học khẳng định kỷ nguyên mới không phải là một mong muốn chủ quan mà dựa trên sự hội tụ đủ về thế và lực đã được tích lũy qua bốn thập kỷ. Việc xuyên tạc các đột phá chiến lược thể hiện rõ: “Tầm nhìn thiển cận, tư duy hẹp hòi, phiến diện, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”… cố tình tách rời lý luận khỏi thực tiễn sinh động của đất nước”12.

4.3. Phản bác âm mưu phi chính trị hóa” Quân đội trên trận địa tư tưởng

Quân đội nhân dân Việt Nam, với tư cách là lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ, luôn là mục tiêu tấn công hàng đầu. Các đối tượng thù địch thường xuyên rêu rao rằng quân đội phải “đứng ngoài chính trị” hoặc “trung lập” theo mô hình phương Tây. Thực chất, đây là âm mưu hiểm độc nhằm từng bước phi chính trị hóa lực lượng vũ trang tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ chính trị.  

Đáp lại những luận điệu này, sự tiên phong của Quân đội trong việc đưa Nghị quyết Đại hội XIV vào trận địa tư tưởng chính là câu trả lời đanh thép nhất. Quân đội không chỉ bảo vệ Tổ quốc bằng vũ khí mà còn bằng “tấm khiên tư tưởng” vững chắc. Việc giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là vấn đề có ý nghĩa sống còn, bảo đảm quân đội luôn là “thanh bảo kiếm” “lá chắn” tin cậy nhất của nhân dân trong kỷ nguyên vươn mình. Cuộc đấu tranh này không cho phép bất kỳ sự ngả nghiêng, dao động nào, vì “trong ‘sóng to gió lớn’, thậm chí là ‘bão táp’, điều quyết định là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định”13.

5. Giải pháp đưa Nghị quyết vào trận địa tư tưởng trong quân đội

Để Nghị quyết Đại hội XIV thực sự trở thành “kim chỉ nam” chỉ đạo cho thực tiễn, việc đưa nội dung văn kiện vào trận địa tư tưởng trong quân đội không thể dừng lại ở việc phổ biến hành chính mà phải thông qua một hệ thống giải pháp đồng bộ, khoa học và quyết liệt.

5.1. Đổi mới căn bản nội dung và phương pháp giáo dục chính trị, lý luận

Nhiệm vụ trọng tâm và mang tính tiền đề là thực hiện cuộc cách mạng trong công tác giáo dục chính trị, lý luận trong toàn quân, chuyển dịch từ tư duy phổ biến kiến thức thuần túy sang xây dựng hệ thống miễn dịch tư tưởng chủ động. Hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay không chỉ là sự đấu tranh phản bác mà, “hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cơ bản vẫn là công tác giáo dục lý luận cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”14.

 Trong bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, nội dung giáo dục phải được cập nhật thường xuyên, gắn kết hữu cơ giữa các nguyên lý kinh điển với “Lý luận về đường lối đổi mới” và các quyết sách bứt phá của Đại hội XIV. Đặc biệt, cần lồng ghép chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Quy định số 144-QĐ/TW để xây dựng bản lĩnh chính trị cho quân nhân, coi đạo đức là “bộ lọc” tự nhiên để điều hướng và kiểm soát hành vi trong môi trường số. Giáo dục chính trị không được tách rời thực tiễn mà phải giải đáp trúng và đúng các vấn đề nảy sinh từ ba đột phá chiến lược về thể chế, nhân lực và hạ tầng, tạo niềm tin khoa học vững chắc vào sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Về phương pháp, quân đội phải tiên phong số hóa hạ tầng giáo dục. Việc ứng dụng công nghệ mô phỏng, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) không chỉ để xây dựng các bài giảng tương tác đa phương tiện mà còn giúp cá nhân hóa quá trình tiếp nhận thông tin của chiến sĩ. Trong kỷ nguyên mà không gian mạng đã trở thành “môi trường tác chiến thứ năm”, các học viện, nhà trường quân đội cần thiết lập các hệ sinh thái truyền thông chính thống, sử dụng AI để dự báo, cảnh báo sớm các chiến dịch “thao túng nhận thức” và tin giả. Mục tiêu cốt lõi là hình thành cho mỗi quân nhân một “màng lọc tư tưởng” kỹ thuật số sắc bén, đủ năng lực nhận diện và bác bỏ các luận điệu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang từ sớm, từ xa, bảo vệ tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống.

5.2. Phát huy vai trò xung kích của báo chí và truyền thông quân đội trên không gian mạng

Trong bối cảnh hình thái tác chiến tư tưởng đã chuyển dịch mang tính bước ngoặt sang không gian mạng, hệ thống báo chí và truyền thông quân đội phải xác lập vị thế là lực lượng xung kích nòng cốt, giữ vai trò dẫn dắt dư luận và bảo vệ chủ quyền tư tưởng số. Đây không đơn thuần là nhiệm vụ truyền thông thông thường mà là sự tác chiến trực diện trên mặt trận tri thức, niềm tin và sự ổn định chính trị.

Nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu là thực hiện cuộc cách mạng về phương thức truyền tin thông qua việc “Đẩy mạnh triển khai số hoá và tích hợp hệ tri thức pháp lý quốc gia, tạo nền tảng pháp lý mở, công khai, minh bạch phục vụ người dân, doanh nghiệp và bộ máy quản lý”15. Giải pháp chiến lược này tạo lập một nền tảng pháp lý mở, minh bạch, đóng vai trò là “pháo đài số” phục vụ người dân, doanh nghiệp và bộ máy quản lý. Việc công khai hóa và tích hợp tri thức pháp lý trên môi trường số là vũ khí sắc bén để triệt tiêu các khoảng trống thông tin, ngăn chặn sự thẩm thấu của các luồng tư tưởng sai trái và các luận điệu xuyên tạc ngay từ nguồn phát.

Hệ thống báo chí Quân đội cần kiên quyết chuyển đổi sang mô hình đa phương tiện, đa nền tảng, thực hiện chiến lược “chiếm lĩnh” các diễn đàn mạng xã hội có sức lan tỏa lớn, như: TikTok, Facebook, YouTube để cung cấp thông tin chính thống một cách hấp dẫn, kịp thời, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của công chúng hiện đại. Việc xây dựng các “binh chủng thông tin” sắc bén không chỉ để truyền bá Nghị quyết mà còn để: “Dự báo, cảnh báo, kịp thời đấu tranh, phản bác, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái, thù địch”16. Trước sự tinh vi của AI tạo sinh và công nghệ Deepfake, báo chí Quân đội phải là lực lượng tiên phong sử dụng lập luận khoa học đanh thép để bóc trần các chiến dịch phá hoại nội bộ và chiến tranh tâm lý, khẳng định bản lĩnh chính trị và năng lực tác chiến hiện đại trên mặt trận không gian mạng.

5.3. Gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng với thực thi nhiệm vụ và siết chặt kỷ luật

Tính biện chứng giữa nhận thức tư tưởng và hiệu quả thực thi nhiệm vụ là yêu cầu cốt lõi nhằm bảo đảm sự thành công của các đột phá chiến lược trong kỷ nguyên mới. Trận địa tư tưởng không thể tồn tại một cách trừu tượng, phải được thực chứng hóa bằng kết quả sản phẩm cụ thể và chất lượng quản trị quốc gia hiện đại. Quân đội, với vai trò lực lượng tiên phong, phải xác lập tư duy hành động quyết liệt nhằm triệt tiêu hoàn toàn “độ trễ” của nghị quyết trong đời sống chính trị – xã hội.

Theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Nghị quyết của Đảng phải được thực hiện: “bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra ‘độ trễ’ nghị quyết”17. Trong mô hình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chuẩn bị cho Đại hội XIV, thực hành đạo đức cách mạng theo Quy định 144-QĐ/TW được xác định là nhân tố trung tâm, gắn kết hữu cơ giữa phẩm giá cá nhân và hiệu suất công tác. Thước đo bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ quân đội hiện nay phải được định lượng hóa qua mô hình 5 trụ cột: (1) Phẩm chất, (2) Năng lực, (3) Uy tín, (4) Liêm chính và (5) Hiệu quả thực tiễn.

Sự liêm chính và năng lực thiết kế chính sách dựa trên bằng chứng là rào cản tự nhiên đối với các biểu hiện suy thoái, biến đạo đức thành “năng suất lao động” đặc thù trong quản trị quốc phòng.

Kỷ luật thực thi phải được siết chặt theo phương châm: “Nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”18. Điều này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với cơ chế kiểm soát quyền lực, gắn trách nhiệm cá nhân với chất lượng thực thi. Việc kế thừa giá trị thời sự từ tinh thần “những việc cần làm ngay” là thông điệp đanh thép về tính thống nhất giữa lời nói và hành động. Hệ thống đo lường chất lượng thực thi pháp luật dựa trên mức độ hài lòng của công dân và sự phát triển thực chất của đơn vị sẽ là công cụ sàng lọc khách quan, loại bỏ tư duy “nhiệm kỳ” và bệnh thành tích, thúc đẩy dân tộc bước vào kỷ nguyên vươn mình với một tâm thế tự tin và quyết đoán.

5.4. Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc thông qua hoạt động dân vận

Củng cố mối quan hệ máu thịt giữa quân đội và Nhân dân không đơn thuần là một nhiệm vụ chính trị mà là giải pháp chiến lược mang tính định mệnh nhằm xác lập chủ quyền tư tưởng và an ninh quốc gia bền vững. Trong quản trị quốc gia hiện đại, quân đội giữ vai trò hạt nhân quy tụ sức mạnh tổng hợp, hóa giải các nguy cơ bất ổn từ sớm, từ xa thông qua các hoạt động dân vận chiều sâu tại các địa bàn địa chiến lược. Triết lý vận hành ở đây rất rõ ràng: dân vận tốt chính là thiết lập hệ thống phòng thủ xã hội tự nhiên; bởi lẽ, khi “lòng dân yên”, thế trận quốc phòng mới thực sự bất khả xâm phạm.

Quân đội phải tiếp tục khẳng định vai trò là chủ thể tiên phong trong tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo và đảm bảo an ninh cơ sở. Đây là phương thức “xây” để “chống” hiệu quả nhất, dùng thực tiễn sinh động để đập tan các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch. Sự tin tưởng của quần chúng vào quân đội và các quyết sách của Đảng chính là chất xúc tác hình thành “tấm khiên tư tưởng” vĩ đại. Để đạt được điều đó, công tác dân vận phải triệt để tuân thủ nguyên tắc: “Dân biết, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và kiểm soát quyền lực xã hội thông qua sự đồng thuận “Quân – Dân” không chỉ là biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn là bảo vệ và minh chứng cho sự trường tồn của nền tảng tư tưởng Đảng trong kỷ nguyên mới.

6. Kết luận  

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng không chỉ là một văn bản chính trị định kỳ mà còn là bản thiết kế vĩ đại, xác lập lộ trình để dân tộc Việt Nam bứt phá trong một cục diện thế giới đầy biến động. Việc đưa Nghị quyết vào thực tiễn trận địa tư tưởng không đơn thuần là hoạt động tuyên truyền lý luận, mà là một cuộc đấu tranh sắc bén để bảo vệ niềm tin, bảo vệ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ chính tương lai của dân tộc. Văn kiện Đại hội đã xác định rõ tâm thế của toàn Đảng, toàn quân. Trong hành trình tiến vào kỷ nguyên ấy, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng chính trị trung thành, là thanh bảo kiếm bảo vệ Đảng và Nhà nước. Sự tiên phong của quân đội trên trận địa tư tưởng thể hiện ở năng lực nhận diện và đập tan mọi âm mưu phi chính trị hóa, đồng thời, dẫn dắt xã hội bằng thực tiễn kỷ luật, gương mẫu trong thực hiện ba đột phá chiến lược. Việc bảo vệ thể chế, nhân lực và hạ tầng quốc gia chính là những biểu hiện cụ thể nhất của lòng yêu nước và bản lĩnh quân nhân trong thời đại số.

Để hiện thực hóa khát vọng dân tộc hùng cường, công tác tư tưởng phải đi trước một bước, triệt tiêu mọi biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa và xây dựng nền tảng đạo đức cách mạng vững chắc theo Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị. Sự vững chắc của trận địa tư tưởng trong quân đội sẽ lan tỏa sức mạnh ra toàn xã hội, tạo nên khối đại đoàn kết không thể lay chuyển. Chúng ta tin tưởng rằng, với sự dẫn dắt của Nghị quyết Đại hội XIV, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ vượt qua mọi khó khăn. Đưa Nghị quyết vào cuộc sống chính là mệnh lệnh trái tim, là lời thề danh dự của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trước Đảng và Nhân dân.

Chú thích:
1, 8, 13, 15, 16, 18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 7, 28, 19, 180, 249, 192.
2, 7. Nguyễn Thị Xuyên (2025). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tóm tắt luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr. 3, 21.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 289.
4. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 9.
5, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 5 – 6, 13.
6, 9. Bộ Chính trị (2024). Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
11. Thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc nội dung, ý nghĩa Đại hội XIV của Đảng. https://hvannd.edu.vn/bv/ct/16563/thu-doan-boi-nho-xuyen-tac-noi-dung-y-nghia-dai-hoi-xiv-cua-dang
12. Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/dau-tranh-chong-luan-dieu-xuyen-tac-du-thao-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang  
14. Nguyễn Đình Thái (2024). Vận dụng Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị vào giảng dạy môn Khoa học lãnh đạo. Tạp chí Lãnh đạo và Chính sách, số 6.
16, 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 41, 41.