Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy hành vi thích nghi công nghệ của nhân viên trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

International experiences in promoting employees’ technology adaptation behavior in SMEs

Huỳnh Minh Sáng
Trường Đại học Thủ Dầu Một

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tổng quan so sánh, phân tích các cơ chế chính sách và thực tiễn doanh nghiệp nhằm thúc đẩy hành vi thích nghi với công nghệ của nhân viên trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, thông qua 4 trường hợp điển hình: Singapore, Hàn Quốc, Đức và Nhật Bản. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hàm ý cho Việt Nam giai đoạn 2025-2030 theo hướng xây dựng chương trình tái kỹ năng số cho lao động doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển các trung tâm năng lực số cấp vùng và thiết kế cơ chế đồng chi trả có điều kiện nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi chính sách.

Từ khóa: Hành vi thích nghi công nghệ; doanh nghiệp nhỏ và vừa; tái kỹ năng số; chính sách phát triển kỹ năng; Việt Nam.

Abstract: This article provides an overview comparing and analyzing policy mechanisms and business practices that promote technological adaptation behavior among employees in small and medium-sized enterprises (SMEs), using four case studies: Singapore, South Korea, Germany, and Japan. Based on this analysis, the paper offers implications for Vietnam for the 2025–2030 period, focusing on developing digital reskilling programs for SME workers, establishing regional digital competence centers, and designing conditional co-payment mechanisms to enhance accountability and the effectiveness of policy implementation.

Keywords: Technology adaptation behavior; Small and medium-sized enterprises (SMEs); Digital reskilling; Skills development policy; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số được xác định là trục chuyển dịch then chốt của kinh tế Việt Nam đến năm 2030, với mục tiêu đưa kinh tế số chiếm khoảng 30% tổng sản phẩm quốc nội. Trong kiến trúc đó, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vị thế xương sống, chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và tạo ra phần lớn việc làm phi nông nghiệp. Nghịch lý cấu trúc đang nổi lên là khoảng cách ngày một rộng giữa tốc độ đầu tư công nghệ và năng lực thích ứng thực tế của người lao động tại doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Từ năm 2025, sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh quy mô lớn, bản đồ phát triển Việt Nam chuyển sang cấu hình 34 tỉnh/thành phố, với TP. Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của toàn vùng Đông Nam Bộ mở rộng. Cấu hình mới đặt ra yêu cầu kép: phát huy lợi thế tích tụ của các cực tăng trưởng để đào tạo lại lực lượng lao động công nghệ, đồng thời bảo đảm các địa phương xa trung tâm không bị bỏ lại.

Hành vi thích nghi công nghệ – tập hợp các phản ứng nhận thức, cảm xúc và hành động của người lao động khi đối mặt với công cụ số mới là biến trung gian cốt yếu quyết định thành-bại của chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khoảng cách về năng lực hấp thụ và tâm thế số giữa lao động tại doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa có xu hướng nới rộng, trong khi nguồn lực tự đào tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa lại hạn chế (Bella et al., 2024)1. Tại TP. Tại Hồ Chí Minh và Hà Nội, khảo sát định tính phản ánh tình trạng tương tự: tâm lý e ngại rủi ro, thiếu huấn luyện bài bản và ra quyết định dựa trên trực giác của chủ doanh nghiệp là những rào cản nổi bật (Walsh et al., 2023)2.

Tồn tại một khoảng trống học thuật kép: các công trình trong nước chủ yếu đo lường trạng thái chuyển đổi số cấp tổ chức, trong khi chiều cạnh hành vi cá nhân chưa được khảo sát hệ thống; các nghiên cứu quốc tế so sánh chính sách thường tách biệt hai tầng vĩ mô và vi mô, ít kết nối cơ chế tài chính quốc gia với dịch chuyển nhận thức nơi làm việc. Bài viết hướng tới lấp khoảng trống này qua hai câu hỏi: (1) Các quốc gia tiên phong đã thiết kế cơ chế nào để thúc đẩy hành vi thích nghi công nghệ của lao động doanh nghiệp nhỏ và vừa? (2) Những cơ chế đó có thể được chuyển giao ra sao cho bối cảnh Việt Nam sau 2025.

2. Khung phân tích so sánh

Nghiên cứu tiếp cận hành vi thích nghi công nghệ như hiện tượng đa tầng đòi hỏi khung phân tích tích hợp cả chiều vĩ mô và vi mô. Trên cơ sở rà soát các công trình bình duyệt gần đây, bốn trụ cột được xây dựng nhằm vận hành hóa quá trình so sánh: chính sách quốc gia; thực tiễn tại doanh nghiệp; cơ chế phát triển vốn nhân lực; và hệ sinh thái hỗ trợ. Cách bố cục này kế thừa khung TOE kinh điển, đồng thời mở rộng sang chiều cạnh hành vi của người lao động – hướng đi được các nghiên cứu thực nghiệm mới tại các quốc gia đang phát triển nhấn mạnh (Sudirman et al., 2025)3.

Trụ cột thứ nhất bao quát chiến lược vĩ mô, khuôn khổ pháp lý, cơ chế tài chính công và chương trình quốc gia về phát triển kỹ năng số, phản ánh cam kết của nhà nước với tư cách kiến trúc sư thể chế.

Trụ cột thứ hai tập trung vào can thiệp cấp tổ chức nhằm hỗ trợ người lao động tiếp nhận công nghệ mới: đào tạo nội bộ, tái thiết kế công việc, khen thưởng cho hành vi học tập và vai trò của lãnh đạo số. Năng lực hấp thụ công nghệ cấp doanh nghiệp có mối liên hệ đồng biến mạnh với chiến lược nhân sự linh hoạt và thái độ chủ động của quản lý cấp trung (Tran My-Linh, 2025)4.

Trụ cột thứ ba bàn về các con đường tiếp cận tri thức và kỹ năng số của lao động doanh nghiệp nhỏ và vừa: chương trình học tập suốt đời do nhà nước tài trợ và các khóa ngắn hạn, chứng chỉ kỹ năng liên kết thị trường lao động. Khi rào cản tiếp cận được dỡ bỏ bằng cơ chế đồng chi trả, tỷ lệ tham gia đào tạo tăng rõ rệt.

Trụ cột thứ tư, hệ sinh thái hỗ trợ đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu nguồn lực tự triển khai dự án số; các trung tâm năng lực vùng, tổ chức trung gian, hiệp hội ngành và cụm đổi mới sáng tạo giữ vai trò cầu nối tri thức. Các yếu tố vùng miền như hạ tầng công nghệ, mật độ trường đại học kỹ thuật và sự hiện diện của cụm công nghiệp số có tương quan ý nghĩa với tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng nhà máy thông minh (Park & Choi, 2024)5.

Bốn tình huống được lựa chọn dựa trên bốn điều kiện: có chương trình quốc gia rõ nét về chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa tối thiểu một thập kỷ; có bằng chứng đo lường được về hiệu quả chính sách; có tương đồng bối cảnh văn hóa – thể chế với Việt Nam ở một số khía cạnh; và có dữ liệu bình duyệt sẵn có. Bộ Singapore, Hàn Quốc, Đức và Nhật Bản đại diện cho bốn mẫu hình chính sách khác biệt, cho phép nhận diện cả điểm hội tụ lẫn điểm phân kỳ.

3. Kinh nghiệm các quốc gia tiêu biểu

3.1. Singapore: tín chỉ kỹ năng cá nhân và cam kết học tập suốt đời

Singapore được xem là một trong những quốc gia tiên phong toàn cầu trong việc định chế hóa học tập suốt đời như trụ cột an sinh – phát triển. Phong trào SkillsFuture, khởi động từ năm 2015 và được nâng cấp liên tục, đại diện cho mô hình mà trách nhiệm phát triển kỹ năng được chia sẻ ba bên: nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân – cách tiếp cận phù hợp với các phát hiện thực nghiệm về vai trò của yếu tố tổ chức và môi trường thể chế trong việc áp dụng công nghệ tại doanh nghiệp nhỏ và vừa (Shahadat et al., 2023)6. Điểm nhấn đáng lưu tâm là chương trình SkillsFuture Credit – tín chỉ đào tạo cá nhân cấp cho mỗi công dân từ 25 tuổi trở lên, cho phép người lao động tự quyết định lộ trình nâng cấp kỹ năng, tạo ra động lực nội sinh cho hành vi thích nghi với công nghệ.

Bối cảnh chính sách gắn chặt với bốn nền kinh tế tương lai: kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế chăm sóc và kinh tế công nghiệp 4.0. Hội đồng Kinh tế Tương lai điều phối chiến lược, trong khi SkillsFuture Singapore và Workforce Singapore triển khai ở hai nhánh cá nhân và doanh nghiệp. Một công cụ đáng chú ý dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là Productivity Solutions Grant – chương trình đồng tài trợ đến 70% chi phí áp dụng giải pháp năng suất đã được kiểm định, kèm tư vấn triển khai. Khi kết hợp với trợ cấp đào tạo nhân viên, chính sách này đã hạ thấp đáng kể rào cản tài chính mà doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp khi đầu tư công nghệ mới.

Kinh nghiệm này cho thấy, hiệu quả của tín chỉ đào tạo cá nhân không nằm ở giá trị tiền mặt đơn lẻ mà ở việc nó được neo vào kiến trúc phân loại kỹ năng quốc gia thống nhất và hệ sinh thái cung cấp đào tạo được kiểm định. Khi ba thành phần – tín chỉ cá nhân, danh mục kỹ năng và mạng lưới cung cấp được đồng bộ hóa, hành vi học tập chuyển từ bị động sang chủ động. Đây là “cơ chế kích hoạt hành vi” đặc trưng nhất trong bốn tình huống nghiên cứu, phù hợp với nhận định, định hướng khởi nghiệp và năng lực cá nhân là các yếu tố then chốt thúc đẩy áp dụng công nghệ số tại doanh nghiệp nhỏ và vừa7.

3.2. Hàn Quốc: K-Digital Training và nhà máy thông minh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hàn Quốc chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên các tập đoàn lớn sang kiến trúc kép vừa nuôi dưỡng tập đoàn, vừa nâng cấp năng lực doanh nghiệp nhỏ và vừa qua các chương trình công nghệ cấp quốc gia. Hai trụ cột nổi bật là K-Digital Training – chương trình đào tạo kỹ năng số quy mô lớn do Bộ Lao động và Việc làm triển khai và chương trình Nhà máy Thông minh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do Bộ Khởi nghiệp và Doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ trì từ năm 2014. Đặc trưng thiết kế là tính đồng bộ hóa giữa đào tạo nhân lực và nâng cấp công nghệ sản xuất, bảo đảm người lao động được tái kỹ năng song hành với hiện đại hóa dây chuyền.

Bối cảnh thúc đẩy gồm sức ép cạnh tranh toàn cầu, già hóa dân số lao động và nhu cầu đưa doanh nghiệp nhỏ và vừa vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đến năm 2024, đã có trên 35.000 nhà máy thông minh được xây dựng với sự hỗ trợ từ ngân sách công. Nghiên cứu gần đây cho thấy các yếu tố vùng – mật độ trường đại học kỹ thuật, mức độ tập trung công nghiệp và cơ sở hạ tầng số – có tương quan đồng biến ý nghĩa với tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng nhà máy thông minh (Park & Choi, 2024)8, nhấn mạnh vai trò của hệ sinh thái vùng trong việc biến chính sách quốc gia thành hiện thực tại sàn sản xuất.

Dù phần lớn nhà máy đã được số hóa ở mức cơ bản, chỉ một tỉ trọng nhỏ vươn lên mức trung-cao, nơi trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu sản xuất được triển khai thường xuyên. Rào cản đáng kể là thái độ tiếp nhận công nghệ của đội ngũ quản lý cấp trung: trong khi ban lãnh đạo cao cấp chủ động, tầng quản lý trung gian thường dè dặt, tạo điểm nghẽn truyền thông nội bộ. Điều này củng cố giả thuyết rằng chính sách công nghệ không thể tách rời chính sách nhân sự.

Bài học chính sách nằm ở cấu trúc đồng tài trợ có điều kiện: thay vì cấp phát trợ cấp đơn thuần, chính phủ ràng buộc các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia phải cam kết đào tạo nội bộ, đo lường năng suất trước – sau và chia sẻ dữ liệu vận hành. Cách tiếp cận này tạo chu trình phản hồi chính sách, cho phép điều chỉnh thiết kế dựa trên bằng chứng – điểm đặc biệt có giá trị đối với các nền kinh tế đang xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như Việt Nam, vì nó chuyển hóa trợ cấp từ tiêu dùng ngắn hạn thành đầu tư có dấu vết trách nhiệm giải trình.

3.3. Đức: Mittelstand 4.0 và mạng lưới trung tâm năng lực vùng

Đức xây dựng một mô hình khác biệt: thay vì cấp tín chỉ cá nhân hay đồng tài trợ trực tiếp vào dây chuyền, Chính phủ Đức kiến tạo một mạng lưới trung tâm năng lực vùng mang tên Mittelstand 4.0 – gồm hàng chục trung tâm trải rộng khắp các bang, đóng vai trò tổ chức trung gian kết nối doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu. Bổ trợ là chương trình Digital Jetzt (Digital Now), khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào số hóa, an ninh công nghệ thông tin và đào tạo kỹ năng số. Bản chất mô hình là “năng lực đi trước, đầu tư theo sau”.

Bối cảnh thúc đẩy là vị thế của Mittelstand như xương sống kinh tế, đóng góp phần lớn vào việc làm và xuất khẩu công nghiệp. Đặc điểm gia đình – truyền thống vừa là điểm mạnh (cam kết dài hạn với nhân viên) vừa là điểm yếu (chậm thay đổi, ít hấp dẫn nhân tài số). Mittelstand đang đối mặt với áp lực chuyển đổi kép, vừa số hóa vừa xanh hóa trong bối cảnh khan hiếm lao động kỹ thuật và áp lực quy định từ Liên minh châu Âu (Bella et al., 2024)9. Mạng lưới trung tâm năng lực được thiết kế để giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tiếp cận tri thức tiên tiến.

Nghiên cứu định tính đa tình huống trên các doanh nghiệp nhỏ và vừa Đức chỉ ra một nghịch lý sâu sắc: năng lực của nhân viên vừa là điều kiện tiên quyết, vừa là rào cản lớn nhất của chuyển đổi số, do tồn tại đồng thời thiếu hụt kỹ năng, kháng cự thay đổi và sự phụ thuộc vào hệ thống di sản (Pfister & Lehmann, 2023)10. Phát hiện này gợi ý rằng các trung tâm năng lực vùng phải giải quyết đồng thời ba bài toán: chuyển giao tri thức, thay đổi hành vi và tái cấu trúc quy trình.

Kinh nghiệm đáng chú ý là giá trị của tổ chức trung gian trong hệ sinh thái chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi Singapore đặt cược vào khích lệ cá nhân và Hàn Quốc nhấn mạnh đồng tài trợ theo dự án, Đức xây dựng “tài sản công” dưới dạng mạng lưới trung tâm có chuyên môn sâu theo ngành và vùng. Các trung tâm này đồng thiết kế dự án số với doanh nghiệp, giảm rủi ro khởi động và tạo niềm tin tổ chức cho lao động. Mô hình đặc biệt thích hợp cho các quốc gia có doanh nghiệp nhỏ và vừa quy mô lớn nhưng phân tán – mô tả gần với thực tế Việt Nam ở nhiều tỉnh/thành phố sau sắp xếp 2025.

3.4. Nhật Bản: Society 5.0 và cơ chế tái kỹ năng đa bên

Nhật Bản tiếp cận chuyển đổi số qua tầm nhìn Society 5.0 – mô hình xã hội siêu thông minh lấy con người làm trung tâm, kết hợp không gian vật lý và không gian ảo. Báo cáo DX của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI, 2018)11 cảnh báo về “Vách đá số 2025” – kịch bản hệ thống công nghệ thông tin di sản có thể gây thiệt hại kinh tế ước tính tới 12 nghìn tỷ yên mỗi năm sau 2025 nếu không được hiện đại hóa. Để ứng phó, Chính phủ Nhật Bản đã công bố gói đầu tư tái kỹ năng và dịch chuyển lao động quy mô 1.000 tỷ yên trong 5 năm, tập trung vào đào tạo kỹ năng số, chuyển đổi lao động phi chính thức sang chính thức và hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tái kỹ năng nội bộ (Cabinet of Japan, 2022)12.

Tuy nhiên, kết quả đo lường cho thấy, bức tranh phân cực: doanh nghiệp lớn đạt tiến độ tốt, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa tụt lại đáng kể; tỷ lệ biến động nhân sự đầu sự nghiệp ở doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cao hơn nhiều – hiện tượng phản ánh hạn chế về nguồn lực và năng lực hấp thụ đặc thù của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được ghi nhận ở nhiều bối cảnh quốc gia khác (Bella et al., 2024)13. Các tập tục lao động truyền thống – thâm niên, luân chuyển nội bộ và việc làm suốt đời – tạo quán tính lớn, khiến người lao động không cảm thấy áp lực phải tái kỹ năng. Chính sách tái kỹ năng không chỉ là vấn đề tài chính mà còn là thay đổi các thể chế phi chính thức trong quan hệ lao động.

Bài học đáng giá nhất từ trường hợp Nhật Bản là: trợ cấp tài chính là điều kiện cần nhưng không đủ để kích hoạt hành vi thích nghi công nghệ ở doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khi văn hóa tổ chức và cấu trúc khích lệ không được đồng thời tái thiết, hiệu ứng chính sách có nguy cơ bị hấp thụ bởi quán tính của doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu năng lực hấp thụ (Sudirman et al., 2025)14. Đối với nền kinh tế trẻ và năng động như Việt Nam, bài học này có giá trị phòng ngừa: cần phối hợp ngay từ đầu giữa chính sách tài chính, thiết kế công việc và văn hóa tổ chức, thay vì lặp lại mô hình tuần tự đã kìm hãm tiến độ của Nhật Bản.

4. So sánh giữa các mô hình

Đối chiếu bốn tình huống theo khung bốn trụ cột cho phép nhận diện các mẫu hình hội tụ và phân kỳ. Bảng 1 tóm tắt đặc trưng chính của từng mô hình.

Bảng 1. So sánh bốn mô hình thúc đẩy hành vi thích nghi công nghệ
trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trụ cộtSingaporeHàn QuốcĐứcNhật Bản
Chính sách quốc giaSkillsFuture; tín chỉ kỹ năng cá nhân; khung kinh tế tương laiK-Digital Training; chương trình Nhà máy Thông minh cho doanh nghiệp nhỏ và vừaMittelstand 4.0; chương trình Digital JetztSociety 5.0; gói tái kỹ năng quy mô lớn
Thực tiễn doanh nghiệpProductivity Solutions Grant; đào tạo tại nơi làm việcĐồng tài trợ dây chuyền; đo lường năng suất trước – sauĐồng-thiết kế dự án với trung tâm năng lực vùngGói reskilling cho đội nhỏ; nền tảng học tập doanh nghiệp
Phát triển vốn nhân lựcHọc tập suốt đời; danh mục kỹ năng thống nhấtĐào tạo kỹ năng số quy mô lớn gắn ngànhĐào tạo tại trung tâm năng lực theo cụm công nghiệpTrợ cấp phát triển nhân lực; khoá chuyên biệt
Hệ sinh thái hỗ trợSSG, WSG, IHLs, hội ngànhBộ doanh nghiệp nhỏ và vừa; hiệp hội công nghiệp; cụm vùngMạng lưới ~26 trung tâm Mittelstand 4.0Chính quyền địa phương; nền tảng edtech tư nhân
Cơ chế kích hoạt hành viTrao quyền cá nhân qua tín chỉCam kết có điều kiện với doanh nghiệpTrung gian tri thức giảm rủi roĐa bên; chia sẻ chi phí
Nguồn: Tác giả tổng hợp

Điểm hội tụ đầu tiên là tính đồng bộ giữa chính sách vĩ mô và vi mô. Cả bốn quốc gia đều tránh tách rời đầu tư công nghệ khỏi phát triển con người; các chương trình nâng cấp dây chuyền luôn được kèm theo gói đào tạo tương ứng. Chiến lược kiên cường bền vững ở doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc đồng thời vào định hướng khởi nghiệp và năng lực đội ngũ (Sudirman et al., 2025)15. Điểm hội tụ thứ hai là cơ chế đồng chi trả: các quốc gia đều sử dụng tỷ lệ đồng chi trả linh hoạt (70%, 50%, 30% tùy quy mô và ngành) nhằm tối ưu ngân sách công và bảo đảm mức cam kết tối thiểu của doanh nghiệp.

Điểm phân kỳ then chốt nằm ở triết lý can thiệp: Singapore hướng về cá nhân; Hàn Quốc hướng về dây chuyền; Đức hướng về mạng lưới; Nhật Bản hướng về thỏa thuận đa bên. Mỗi cách tiếp cận phản ánh đặc điểm thể chế nền tảng. Các yếu tố thành công then chốt có thể được chưng cất thành bốn cặp: tầm nhìn quốc gia – cơ chế kích hoạt hành vi; đồng tài trợ – trách nhiệm giải trình; năng lực hấp thụ – tái thiết kế công việc và hạ tầng trung gian – tri thức ứng dụng.

5. Kinh nghiệm và khả năng vận dụng tại Việt Nam

Bối cảnh Việt Nam năm 2025 đặt ra cả cơ hội lẫn thách thức đặc thù cho việc chuyển giao các kinh nghiệm quốc tế. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước còn 34 tỉnh/thành phố, với TP. Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế của toàn vùng Đông Nam Bộ mở rộng; Hà Nội là trung tâm Bắc Bộ; Đà Nẵng và Hải Phòng duy trì vị thế đô thị – cảng biển trọng yếu. Mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP vào 2030 tạo cửa sổ chính sách thuận lợi. Tuy vậy, năng lực hấp thụ công nghệ của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa còn mỏng, văn hóa ra quyết định dựa trên quan hệ thay vì dữ liệu và khoảng cách hạ tầng số giữa đô thị và phi đô thị là các điều kiện cần tính đến (Walsh et al., 2023)16.

Một là, cần một chương trình quốc gia về tái kỹ năng số cho lao động doanh nghiệp nhỏ và vừa, lấy cảm hứng từ SkillsFuture nhưng hiệu chỉnh cho điều kiện Việt Nam. Có thể xem xét cơ chế “Thẻ kỹ năng số Việt Nam” với giá trị tín chỉ phân tầng theo thu nhập và vùng miền, neo vào Khung kỹ năng số quốc gia, đi kèm danh mục khóa học được kiểm định và cổng dữ liệu việc làm – kỹ năng cho phép người lao động đối sánh lộ trình nghề nghiệp với nhu cầu thị trường.

Hai là, xây dựng mạng lưới trung tâm năng lực số cấp vùng, phỏng theo Mittelstand 4.0. Có thể hình thành 8-10 trung tâm tại các cực tăng trưởng – TP. Hồ Chí Minh (miền Nam), Hà Nội (miền Bắc), Đà Nẵng (miền Trung), Cần Thơ (đồng bằng sông Cửu Long) – và một số trung tâm phụ trợ theo ngành, vận hành theo nguyên tắc đồng thiết kế dự án với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp chẩn đoán số, hỗ trợ triển khai giai đoạn đầu và đào tạo tại chỗ. TP. Hồ Chí Minh với mật độ trường đại học kỹ thuật và cụm đổi mới sáng tạo cao có lợi thế rõ rệt trong vai trò trung tâm đầu não (Park & Choi, 2024)16.

Ba là, cơ chế đồng tài trợ có điều kiện. Tham chiếu mô hình Hàn Quốc, có thể thiết kế gói hỗ trợ với tỷ lệ đồng chi trả 30 – 70% tuỳ quy mô và mức độ phức tạp của dự án số, gắn với ba điều kiện giải ngân: cam kết đào tạo nội bộ một tỷ lệ nhất định nhân viên; báo cáo chỉ số năng suất trước – sau; và chia sẻ bài học với mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng ngành. Cơ chế này biến trợ cấp thành đầu tư có dấu vết trách nhiệm giải trình và tạo dữ liệu chính sách để tinh chỉnh các giai đoạn tiếp theo.

Bốn là, liên quan đến hành vi và văn hóa tổ chức. Kinh nghiệm từ Nhật Bản cảnh báo rằng, chính sách tài chính đơn thuần có thể bị hấp thụ bởi quán tính văn hóa nếu không được bổ trợ bởi can thiệp ở tầng thiết kế công việc. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, cần lồng ghép các mô-đun về văn hóa học tập số và lãnh đạo số vào chương trình đào tạo chủ doanh nghiệp, khuyến khích các thực tiễn quản trị nhân lực hiện đại như lộ trình nghề nghiệp dựa trên kỹ năng, phản hồi liên tục và khen thưởng cho hành vi học tập. Năng lực tái cấu hình doanh nghiệp là yếu tố dự báo mạnh cho đổi mới mô hình kinh doanh tại doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt17.

Năm là, thiết lập cơ chế đánh giá chính sách dựa trên bằng chứng. Việt Nam cần một cơ quan đầu mối theo dõi chỉ số hành vi thích nghi với công nghệ của lao động doanh nghiệp nhỏ và vừa, công bố định kỳ “Chỉ số kỹ năng số Việt Nam” phân theo vùng, ngành và quy mô. Theo khung TOE, mức độ trưởng thành số của doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc đồng thời vào các yếu tố công nghệ, tổ chức và môi trường thể chế18, hàm ý chính sách chuyển giao cần can thiệp, đồng thời ở cả ba tầng. Các kinh nghiệm quốc tế không nên sao chép cơ học – văn hóa kỷ luật Singapore, quy hoạch công nghiệp Hàn Quốc, truyền thống Mittelstand và cấu trúc công đoàn Nhật Bản đều khó tái tạo; lộ trình thử nghiệm 2026-2028 ở hai – ba vùng kinh tế, sau đó đánh giá và mở rộng, là cách tiếp cận khả thi.

6. Kết luận

Nghiên cứu tổng quan so sánh này góp phần làm rõ một mệnh đề ngày càng được công nhận: hành vi thích nghi công nghệ của người lao động không phải hệ quả tự nhiên của đầu tư phần cứng, mà là kết quả của kiến trúc chính sách đồng bộ giữa tầm nhìn quốc gia, thực tiễn doanh nghiệp, cơ chế phát triển vốn nhân lực và hệ sinh thái hỗ trợ. Bốn tình huống Singapore, Hàn Quốc, Đức và Nhật Bản, dù khác biệt về thiết kế, đều hội tụ ở nguyên lý: đầu tư công nghệ và đầu tư con người phải song hành, với cơ chế đồng chi trả có điều kiện để bảo đảm trách nhiệm giải trình.

Hàm ý đối với Việt Nam sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 khá rõ nét.

Thứ nhất, cần chiến lược quốc gia về tái kỹ năng số lấy lao động doanh nghiệp nhỏ và vừa làm trung tâm, đi kèm Khung kỹ năng số quốc gia và cơ chế tín chỉ đào tạo cá nhân.

Thứ hai, mạng lưới trung tâm năng lực số cấp vùng đặt tại các cực tăng trưởng với TP. Hồ Chí Minh là trung tâm đầu não ở phía Nam.

Thứ ba, chuyển dịch từ trợ cấp không điều kiện sang đồng tài trợ có dấu vết trách nhiệm.

Thứ tư, các can thiệp hành vi – văn hóa học tập, lãnh đạo số, thiết kế công việc cần được đặt ngang hàng với can thiệp kỹ thuật – tài chính.

Các hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất: (1) Khảo sát định lượng quy mô lớn về hành vi thích nghi công nghệ của lao động doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ba – bốn vùng kinh tế sau sắp xếp, sử dụng mô hình PLS-SEM để nhận diện các yếu tố dự báo cấp cá nhân và cấp tổ chức. (2) Nghiên cứu tình huống sâu tại doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thành công trong chuyển đổi số để chưng cất các thực tiễn quản trị nhân lực gắn với hành vi thích nghi. Kết hợp hai hướng sẽ cung cấp nền tảng thực chứng cho giai đoạn thiết kế chính sách giai đoạn 2026 – 2030.

Chú thích:
1, 9, 13. Bella, R. L. F., Leal Filho, W., Sigahi, T. F. A. C., Rampasso, I. S., Quelhas, O. L. G., Bella, L. F., & Moraes, G. H. S. M. (2024). Small- and medium-sized enterprises: Trends and future perspectives for sustainability and digitalization in Germany. Sustainability, 16(16), 6900. https://doi.org/10.3390/su16166900
2. Walsh, J., Nguyen Trung Quang, & Hoang Thinh (2023). Digital transformation in Vietnamese SMEs: Managerial implications. Journal of Internet and Digital Economics, 3(1–2), 18–32. https://doi.org/10.1108/JIDE-09-2022-0018
3, 7, 14, 15. Sudirman, I. D., Astuty, E., & Aryanto, R. (2025). Enhancing digital technology adoption in SMEs through sustainable resilience strategy: Examining the role of entrepreneurial orientation and competencies. Journal of Small Business Strategy, 35(1), 97–114. https://doi.org/10.53703/001c.124907
4, 17. Tran My-Linh (2025). Digitalization-driven growth: Elevating SMEs through capability reconfiguration and business model innovation in Vietnam. Technology Analysis & Strategic Management. Advance online publication. https://doi.org/10.1080/09537325.2025.2501032
5, 8, 16. Park, J.-I., & Choi, T. (2024). Regional factors associated with smart factory adoption in South Korea. Technology in Society, 77, 102523. https://doi.org/10.1016/j.techsoc.2024.102523
6. Shahadat, M. M. H., Nekmahmud, M., Ebrahimi, P., & Fekete-Farkas, M. (2023). Digital technology adoption in SMEs: What technological, environmental, and organizational factors influence in emerging countries? Global Business Review, 1–21. https://doi.org/10.1177/09721509221137199
10. Pfister, P., & Lehmann, C. (2023). Measuring the success of digital transformation in German SMEs. Journal of Small Business Strategy, 33(1), 1–19. https://doi.org/10.53703/001c.39679
11. Ministry of Economy (METI). (2018). DX report: Overcoming the 2025 digital cliff involving IT systems and full-fledged development of efforts for digital transformation. https://www.meti.go.jp/shingikai/mono_info_service/digital_transformation/pdf/20180907_03.pdf.
12. Cabinet of Japan. (2022, October 28). Press conference by Prime Minister Kishida [Transcript]. Prime Minister’s Office of Japan. https://japan.kantei.go.jp/101_kishida/statement/202210/_00023.html.
18. Nguyen Trung-Hieu (2024). Investigating driving factors of digital transformation in the Vietnamese shipping companies: Applied to the TOE framework. SAGE Open, 14(4), 1–16. https://doi.org/10.1177/21582440241301210