Bảo đảm lợi ích kinh tế người lao động trong doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Ninh

Ensuring economic benefits for workers in foreign direct investment enterprises and lessons for Bac Ninh Province

Thượng tá Nguyễn Đức Long
Thiếu tá Đỗ Xuân Biên
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên, thành phố Đồng Nai và thành phố Đà Nẵng trong bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó, rút ra kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Ninh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động không chỉ là yêu cầu an sinh xã hội mà còn là điều kiện quan trọng để ổn định quan hệ lao động, duy trì nguồn nhân lực và nâng cao sức hấp dẫn đầu tư của địa phương.

Từ khóa: Lợi ích kinh tế; người lao động; doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); tỉnh Bắc Ninh; quan hệ lao động; quản lý nhà nước.

Abstract: This article analyzes the experiences of Hung Yen Province, Dong Nai  City and Da Nang City in ensuring the economic benefits of workers employed in foreign-invested enterprises, drawing lessons for Bac Ninh Province. The research results show that ensuring the economic benefits of workers is not only a social security requirement but also a crucial condition for stabilizing labor relations, maintaining human resources, and enhancing the attractiveness of the locality for investment.

Keywords: Economic benefits; workers; FDI enterprises; Bac Ninh; labor relations; state management.
1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm ở nhiều địa phương. Ở những tỉnh có mật độ khu công nghiệp cao, bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao động không còn là vấn đề mang tính phúc lợi đơn thuần, mà đã trở thành nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với ổn định xã hội, chất lượng môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Tỉnh Bắc Ninh là một trong những địa phương tiêu biểu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ về thu hút FDI. Năm 2025, lao động đang làm việc trong khu vực doanh nghiệp FDI của tỉnh tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước; riêng công tác quản lý, cấp mới, cấp lại và gia hạn giấy phép lao động cho người lao động đạt 20.315 trường hợp1. Quy mô và tốc độ phát triển cho thấy, quan hệ lao động trong khu vực FDI ở Bắc Ninh ngày càng phức tạp, đòi hỏi chính quyền địa phương phải tiếp cận vấn đề lợi ích kinh tế của người lao động theo hướng tổng thể hơn, gắn tiền lương, bảo hiểm, phúc lợi, nhà ở, đào tạo nghề và đối thoại lao động thành một hệ chính sách đồng bộ.

Tuy nhiên, trên thực tế, ở không ít doanh nghiệp FDI, quyền lợi kinh tế của người lao động vẫn phụ thuộc nhiều vào cường độ làm thêm giờ, chính sách phúc lợi riêng của doanh nghiệp hoặc vào mức độ chủ động của công đoàn cơ sở. Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu kinh nghiệm của các địa phương có điều kiện phát triển tương đồng, từ đó, rút ra những bài học có giá trị thực tiễn cho tỉnh Bắc Ninh. Với cách tiếp cận đó, bài viết tập trung phân tích kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đồng Nai, từ ngày 30/4/2026) và thành phố Đà Nẵng – ba địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư và sử dụng lao động lớn nhằm làm rõ các công cụ quản lý hữu hiệu trong bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao động trong khu vực FDI.
2. Kinh nghiệm của một số địa phương về bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao động trong doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1. Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên

Kinh nghiệm nổi bật của tỉnh Hưng Yên là gắn bảo đảm thu nhập của người lao động với phát triển nguồn nhân lực kỹ năng. Điều này xuất phát từ thực tế thu hút đầu tư mạnh của địa phương. Tính đến đầu tháng 12/2025, tỉnh Hưng Yên thu hút được 334 dự án đầu tư mới và 253 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn, với tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt khoảng 174 nghìn tỷ đồng và trên 2,33 tỷ USD2. Khi dòng vốn đầu tư tập trung vào các ngành công nghiệp, công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ, yêu cầu về lao động có tay nghề tăng lên rõ rệt. Do đó, nếu không gắn chính sách đào tạo với chính sách tiền lương thì người lao động khó có thể cải thiện lợi ích kinh tế theo hướng bền vững.

Điểm đáng chú ý là tỉnh Hưng Yên không chỉ dừng ở khâu khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng lao động qua đào tạo, mà còn lượng hóa mục tiêu nâng chất lượng lao động ở cấp tỉnh. Kế hoạch triển khai hoạt động giáo dục nghề nghiệp năm 2025 của tỉnh đặt mục tiêu tuyển sinh 72.500 người; tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt 93%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 85,5%; tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 36%3. Những chỉ tiêu này cho thấy, tỉnh Hưng Yên nhìn nhận lợi ích kinh tế của người lao động trước hết phải được bảo đảm từ khả năng nâng giá trị sức lao động thông qua đào tạo và chứng chỉ nghề. Qua đó, có thể rút ra kinh nghiệm như sau:

Một là, khi địa phương thu hút mạnh dự án FDI, chính sách lao động không nên chỉ tập trung vào tạo việc làm theo số lượng, mà phải ưu tiên tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, mở rộng liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và từng bước hình thành cơ chế trả lương dựa trên kỹ năng và vị trí việc làm. Đây là điều kiện để thu nhập của người lao động phản ánh đúng giá trị sức lao động đã được đào tạo.

Hai là, gắn quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp với cải thiện môi trường đầu tư. Việc tỉnh Hưng Yên xây dựng kế hoạch nâng chỉ số “đào tạo lao động” trong PCI cho thấy, phát triển kỹ năng lao động không chỉ phục vụ người lao động mà còn phục vụ chiến lược thu hút nhà đầu tư có chất lượng. Nói cách khác, nâng cao lợi ích kinh tế của người lao động được đặt trong cùng một chuỗi chính sách với nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.
2.2. Kinh nghiệm của thành phố Đồng Nai

Đồng Nai chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 30/4/2026. Việc bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao động trong doanh nghiệp của Đồng Nai thể hiện rõ mối liên hệ giữa tiền lương, thương lượng tập thể và lưới an sinh xã hội. Năm 2025, mức tiền lương thực trả bình quân cho người lao động trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 11,1 triệu đồng/tháng; riêng ở khối doanh nghiệp FDI, mức thưởng Tết Nguyên đán năm 2026 bình quân đạt 13,3 triệu đồng/người, mức cao nhất là 700 triệu đồng4. Những con số này phản ánh hai điểm quan trọng: thu nhập của người lao động đã vượt khá xa mức lương tối thiểu; đồng thời, chính sách thưởng và phúc lợi đã trở thành một bộ phận đáng kể trong tổng lợi ích kinh tế mà người lao động nhận được.

Tuy nhiên, giá trị thực chất của lợi ích kinh tế không chỉ nằm ở mức thu nhập. Đồng Nai tạo ra nền tảng quan trọng hơn thông qua thể chế đối thoại và thương lượng tập thể. Tính đến tháng 12/2025, có khoảng 1.784 bản thỏa ước lao động tập thể, trong đó khoảng 40% bản có điều khoản về quyền lợi cao hơn quy định của pháp luật5. Điều này cho thấy, không ít quyền lợi vật chất của người lao động, như: tiền thưởng, phụ cấp, bữa ăn ca, hỗ trợ đi lại hoặc các chế độ phúc lợi khác đã được chuyển hóa từ sự hỗ trợ tự nguyện thành các cam kết có tính chất ràng buộc.

Đồng Nai cũng là địa phương có kết quả khá rõ trong mở rộng lưới an sinh xã hội. Số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt 1.082.811 người; số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 1.053.336 người; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95% dân số; tổng số chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 484,4 tỷ đồng, chiếm 1,39% so với số phải thu6. Các chỉ số này cho thấy, cơ chế bảo vệ lợi ích kinh tế của người lao động không chỉ dựa vào tiền lương mà còn dựa vào khả năng duy trì bao phủ bảo hiểm trên diện rộng; đồng thời, kiểm soát tương đối tốt tình trạng chậm đóng.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 22/8/2022của Tỉnh ủy Đồng Nai xác định mục tiêu giai đoạn 2021 – 2025 phấn đấu xây dựng khoảng 10.000 căn nhà ở công nhân, nhà ở xã hội; đồng thời, quy mô nhu cầu nhà ở là rất lớn khi các khu công nghiệp trên địa bàn đã tạo việc làm cho 618.371 lao động và nhu cầu chỗ ở hiện tại ước khoảng 410.597 người7. Kinh nghiệm này rất đáng chú ý, bởi thu nhập thực của người lao động không chỉ phụ thuộc vào mức lương nhận được mà còn phụ thuộc vào mức chi bắt buộc cho nhà ở, đi lại và các dịch vụ thiết yếu.

Từ thực tiễn của Đồng Nai, có thể rút ra nhận xét như sau:

(1) Tiền lương thực trả phải đi cùng với cơ chế thương lượng để biến những khoản phúc lợi thành quyền lợi có tính ổn định.

(2) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp là công cụ bảo vệ lợi ích kinh tế có tính dài hạn, giúp người lao động giảm rủi ro trong quan hệ lao động.

(3) Phát triển nhà ở công nhân là giải pháp kinh tế gián tiếp nhưng có tác động rất mạnh đến thu nhập khả dụng của người lao động.
2.3. Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng cung cấp một kinh nghiệm khác, nổi bật ở khía cạnh minh bạch hóa thông tin và tăng quyền giám sát cho người lao động. Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng đã công bố danh sách 463 doanh nghiệp chậm đóng bảo hiểm xã hội với tổng số nợ hơn 196 tỷ đồng8. Việc công khai danh sách doanh nghiệp chậm đóng không chỉ có ý nghĩa xử lý vi phạm mà còn tạo sức ép tuân thủ từ phía dư luận, người lao động và các tổ chức công đoàn. Đây là một công cụ quản lý nhà nước rất đáng chú ý về kết hợp giữa chế tài pháp lý và minh bạch thông tin.

Một kinh nghiệm khác của thành phố Đà Nẵng là chính sách phát triển nhà ở xã hội theo kế hoạch có lượng hóa rõ. Giai đoạn 2021 – 2024, thành phố đã hoàn thành 3.445 căn; năm 2025 hoàn thành thêm 1.807 căn9. Về dài hạn, thành phố đặt mục tiêu hoàn thành tổng cộng 28.955 căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn 2025 – 203010.

Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng cho thấy, bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao động không thể chỉ dừng ở doanh nghiệp mà cần mở rộng sang không gian chính sách đô thị. Khi địa phương chủ động phát triển nhà ở xã hội, công khai thông tin về bảo hiểm và tạo điều kiện để người lao động giám sát quyền lợi của mình thì lợi ích kinh tế của người lao động được bảo vệ bằng nhiều “lớp đệm”: từ pháp luật lao động, chính sách an sinh đến điều kiện sống ngoài doanh nghiệp.
3. Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng, Đồng Nai và tỉnh Hưng Yên – giá trị rút ra cho tỉnh Bắc Ninh

Thứ nhất, tỉnh Bắc Ninh cần tiếp tục chuyển mạnh từ tư duy “bảo đảm việc làm” sang tư duy “nâng chất lượng việc làm”. Dữ liệu năm 2025 cho thấy, lao động làm việc trong doanh nghiệp FDI của tỉnh tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước, trong khi số trường hợp cấp mới, cấp lại và gia hạn giấy phép lao động cho lao động nước ngoài lên tới 20.31511. Điều này hàm ý rằng, thị trường lao động tỉnh Bắc Ninh đang vận động theo hướng ngày càng chuyên môn hóa và gắn chặt với chuỗi sản xuất toàn cầu. Vì vậy, muốn bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao động thì phải ưu tiên cơ chế tiền lương gắn với vị trí việc làm, nâng kỹ năng nghề và tăng năng lực thương lượng của người lao động ở cấp doanh nghiệp.

Thứ hai, tỉnh Bắc Ninh cần coi nhà ở xã hội và hạ tầng công nhân là bộ phận của chính sách lao động. Theo số liệu thống kê, tính đến hết tháng 11/2025, toàn tỉnh đã hoàn thành 15.685 căn nhà ở xã hội, đạt 98,47% chỉ tiêu được giao; riêng trong tháng 12, hoàn thành thêm 600 căn, vượt tổng chỉ tiêu năm 202512. Đây là kết quả tích cực và là tiền đề quan trọng để tỉnh tiếp tục kéo giảm chi phí sinh hoạt cho người lao động, nhất là lao động ngoại tỉnh. Kinh nghiệm của thành phố Đồng Nai và thành phố Đà Nẵng cho thấy, chính sách nhà ở xã hội nếu được gắn chặt với quy hoạch khu công nghiệp và hạ tầng thiết yếu sẽ góp phần trực tiếp bảo vệ thu nhập khả dụng của công nhân.

Thứ ba, tỉnh cần tiếp tục củng cố mạng lưới an sinh xã hội và tăng quyền giám sát của người lao động đối với việc thực hiện bảo hiểm. Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2025 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh, số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt trên 1,06 triệu người, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,38% dân số, tổng thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế ước đạt hơn 27,6 nghìn tỷ đồng13. Đây là nền tảng quan trọng, nhưng trong bối cảnh lực lượng lao động tập trung ngày càng lớn, tỉnh Bắc Ninh vẫn cần tiến thêm một bước là đẩy mạnh công khai thông tin, ứng dụng số để người lao động kiểm tra quá trình đóng và hưởng bảo hiểm xã hội; phối hợp chặt chẽ hơn giữa cơ quan bảo hiểm xã hội, công đoàn và doanh nghiệp. Kinh nghiệm từ thành phố Đà Nẵng đặc biệt hữu ích ở điểm này.

Thứ tư, tỉnh Bắc Ninh cần nâng chất lượng hoạt động công đoàn cơ sở và thương lượng tập thể. Bài học từ thành phố Đồng Nai cho thấy, khi phúc lợi được đưa vào thỏa ước lao động tập thể thì quyền lợi kinh tế của người lao động sẽ ổn định hơn và ít phụ thuộc vào biến động ngắn hạn của doanh nghiệp. Trong điều kiện tỉnh Bắc Ninh tập trung nhiều doanh nghiệp FDI quy mô lớn, cơ chế đối thoại định kỳ, thương lượng tập thể và giám sát thực hiện thỏa ước lao động tập thể cần được coi là công cụ phòng ngừa tranh chấp lao động hiệu quả hơn là chỉ xử lý khi xung đột đã phát sinh.

Thứ năm, tỉnh Bắc Ninh cần kết nối đồng bộ hơn giữa chính sách thu hút FDI và chính sách phát triển nguồn nhân lực. Tỉnh Hưng Yên đã cho thấy, gia tăng dự án FDI chỉ thật sự có ý nghĩa khi đi cùng với nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo và lao động có bằng cấp, chứng chỉ. Tỉnh Bắc Ninh có lợi thế lớn về vị trí, hạ tầng và chuỗi sản xuất điện tử, nhưng nếu thiếu chính sách đào tạo nghề và tái đào tạo lao động theo nhu cầu doanh nghiệp thì lợi ích kinh tế của người lao động sẽ khó cải thiện bền vững. Nói cách khác, chất lượng nguồn nhân lực phải được xem là “đầu vào” của lợi ích kinh tế chứ không chỉ là hệ quả của tăng trưởng.
4. Kết luận

Nghiên cứu kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên, thành phố Đồng Nai và thành phố Đà Nẵng cho thấy, bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong doanh nghiệp FDI chỉ thực sự hiệu quả khi được tiếp cận như một vấn đề quản lý nhà nước tổng hợp. Tiền lương, bảo hiểm, phúc lợi, thương lượng tập thể, đào tạo nghề, nhà ở xã hội và minh bạch thông tin không tồn tại rời rạc mà liên kết với nhau thành một cơ chế bảo vệ nhiều tầng.

Đối với tỉnh Bắc Ninh, nơi khu vực FDI tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, việc vận dụng các bài học nêu trên có ý nghĩa đặc biệt thiết thực. Tỉnh đã có những kết quả quan trọng về mở rộng lao động, phát triển nhà ở xã hội và bao phủ bảo hiểm, nhưng để nâng cao hơn nữa lợi ích kinh tế của người lao động, cần nâng cao chất lượng việc làm, tăng quyền thương lượng, đẩy mạnh số hóa giám sát bảo hiểm và gắn chính sách lao động với quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị. Đây không chỉ là giải pháp bảo vệ người lao động mà còn là điều kiện quan trọng để duy trì một môi trường đầu tư bền vững, có trách nhiệm và có sức cạnh tranh cao.

Chú thích:
1, 11. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng 12 và cả năm 2025 tỉnh Bắc Ninh.
2. Lý do nào Hưng Yên nổi lên như “cực hút” đầu tư khu vực phía Bắc?”. https://vov.vn/kinh-te/ly-do-nao-hung-yen-noi-len-nhu-cuc-hut-dau-tu-khu-vuc-phia-bac-post1252108.vov
3. Kế hoạch triển khai hoạt động giáo dục nghề nghiệp tỉnh Hưng Yên năm 2025. https://hungyen.gov.vn/ke-hoach-trien-khai-hoat-dong-giao-duc-nghe-nghiep-tinh-hung-yen-nam-2025-c210755.html
4. Đồng Nai: Thưởng Tết Nguyên đán 2026 cao nhất là 840 triệu đồng. https://tienphong.vn/dong-nai-thuong-tet-cao-nhat-840-trieu-dong-post1809093.tpo
5. Đồng Nai ký kết 1.784 thỏa ước lao động tập thể, trong đó 40% có quyền lợi cao. https://laodong.vn/cong-doan/dong-nai-ky-ket-1784-thoa-uoc-lao-dong-tap-the-trong-do-40-co-quyen-loi-cao-1620178.ldo
6. Đồng Nai: Tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh tháng 12 và 12 tháng năm 2025. https://sct.dongnai.gov.vn/vi/news/Chi-dao-dieu-hanh/dong-nai-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tren-dia-ban-tinh-thang-12-va-12-thang-nam-2025-52255.html
7. Tỉnh ủy Đồng Nai (2022). Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 22/8/2022 về phát triển nhà ở công nhân, nhà ở xã hội giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
8. TP. Đà Nẵng: 463 doanh nghiệp chậm đóng hơn 196 tỷ đồng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. https://ansinh.tapchikinhtetaichinh.vn/tp-da-nang-463-doanh-nghiep-cham-dong-hon-196-ty-dong-tien-bhxh-bhyt-694.html
9. Đà Nẵng bổ sung hơn 100 khu đất dự kiến xây nhà ở xã hội và thương mại. https://vietstock.vn/2025/06/da-nang-bo-sung-hon-100-khu-dat-du-kien-xay-nha-o-xa-hoi-va-thuong-mai-4222-1322815.htm
10. Đà Nẵng đặt mục tiêu hoàn thành 28.955 căn nhà ở xã hội đến năm 2030. https://danang.gov.vn/vi/w/da-nang-dat-muc-tieu-hoan-thanh-28955-can-nha-o-xa-hoi-den-nam-2030
12. Bắc Ninh: An cư cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp. https://thuonghieucongluan.com.vn/bac-ninh-an-cu-cho-doi-tuong-thu-nhap-thap-cong-nhan-khu-cong-nghiep-a297154.html
13. Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh đạt và vượt nhiều chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2025. https://ansinh.tapchikinhtetaichinh.vn/bhxh-tinh-bac-ninh-dat-va-vuot-nhieu-chi-tieu-nhiem-vu-nam-2025-135226.html
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (2025). Quyết định 2819/QĐ-UBND ngày 02/12/2025 ban hành Kế hoạch triển khai Đề án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội tại Đà Nẵng giai đoạn 2025 – 2030.
2. Tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tháng 12 và 12 tháng năm 2025. https://thongke.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=1302&CatId=93
3. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/08/03/nguyen-tac-bao-dam-loi-ich-kinh-te-cua-nguoi-lao-dong-trong-cac-khu-cong-nghiep-tren-dia-ban-tp-ha-noi/