Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay

Enhancing the Innovation Capacity of Political School Lecturers to Meet Current Training and Fostering Demands for Officials

TS. Lê Văn Tuyên
TS. Phan Hoàng Linh
Trường Chính trị thành phố Cần Thơ

(Quanlynhanuoc.vn) – Năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị đã trở thành một đòi hỏi gắn trực tiếp với chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và với tiến trình chuẩn hóa nhà trường hiện nay. Dựa trên kết quả khảo sát 1.306 phiếu từ cán bộ quản lý, giảng viên và chủ thể đánh giá độc lập, bài viết đánh giá thực trạng năng lực này ở các phương diện: đổi mới phương pháp giảng dạy; đổi mới nội dung bài giảng gắn với thực tiễn địa phương và cập nhật chính sách; gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn và chuyển hóa kết quả nghiên cứu; học tập, thích ứng với công nghệ mới. Bài viết phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế và đề xuất các giải pháp định hướng phát triển năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị hiện nay.

Từ khóa: Năng lực đổi mới sáng tạo; giảng viên trường chính trị; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; thực tiễn địa phương; chuyển đổi số.

Abstract: The innovation capacity of political school lecturers has become a requirement directly linked to the quality of training and fostering officials, as well as the current process of school standardization. Based on survey results from 1,306 questionnaires collected from managers, lecturers, and independent evaluators, this article assesses the current status of this capacity across several dimensions: innovating teaching methods; updating lecture content in line with local realities and policy changes; linking scientific research with practice and translating research findings; and continuous learning and adaptation to new technologies. The article analyzes the results achieved and existing limitations, and proposes targeted solutions to develop the innovation capacity of political school lecturers today.

Keywords: Innovation capacity; Political school lecturers; Training and fostering officials; Local realities; Digital transformation.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, đổi mới sáng tạo ngày càng được nhìn nhận như một trục phát triển quan trọng trong cả quản trị nhà nước, giáo dục và đào tạo cán bộ. Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu đổi mới sáng tạo như sự thay đổi công cụ hay cải tiến kỹ thuật đơn thuần thì chưa chạm tới bản chất sâu hơn của quá trình này. Theo Joseph Schumpeter1, đổi mới thực chất là sự tạo lập những “kết hợp mới” giữa các yếu tố của quá trình phát triển kinh tế – xã hội, qua đó làm xuất hiện những sản phẩm, phương thức tổ chức hoặc thị trường mới và chính những sự kết hợp mới ấy tạo nên động lực vận động của nền kinh tế hiện đại.

Vận dụng vào lĩnh vực giáo dục nói chung và đào tạo lý luận chính trị nói riêng, giá trị mới ấy không biểu hiện chủ yếu ở bản thân công nghệ, mà ở khả năng làm cho tri thức được tổ chức lại, được diễn giải lại và được truyền đạt theo cách sát thực tiễn, linh hoạt hơn, hiệu quả hơn. Vì vậy, năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị cần được hiểu là năng lực làm mới quá trình tổ chức tri thức, chuyển hóa tri thức và dẫn dắt tri thức trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ2.

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị

Từ tiếp cận kinh tế chính trị của triết học Mác – Lênin, hoạt động của giảng viên trường chính trị được hiểu là một loại lao động trí tuệ đặc thù, được cấu thành bởi đối tượng lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động3. Trong bản thảo Bản thảo kinh tế những năm 1857 – 1858 (Grundrisse), C. Mác nhấn mạnh: “tri thức xã hội phổ quát (general intellect) trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”4, qua đó, làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức lao động và cấu trúc của quá trình sản xuất xã hội. Điều này đặc biệt đáng lưu ý đối với trường chính trị, bởi lao động của giảng viên ở đây không dừng ở việc truyền đạt tri thức lý luận, mà còn trực tiếp tác động đến cách người học tư duy, phân tích và vận dụng vào thực tiễn công tác. Vì vậy, đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị thực chất là sự đổi mới trong cấu trúc lao động trí tuệ của họ, tức là đổi mới cách tiếp cận tri thức, tổ chức tri thức và tạo ra giá trị tri thức phục vụ đào tạo cán bộ5.

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đó càng trở nên cấp bách khi đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được xác định là động lực quan trọng của giai đoạn phát triển mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị nhấn mạnh yêu cầu tạo đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia6; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng”7.

Trong giáo dục, chuyển đổi số không nên được hiểu đơn giản là đưa công nghệ vào lớp học, mà sâu hơn là tái tổ chức môi trường tri thức, phương thức tương tác và cách thức tổ chức hoạt động dạy học. Điều này làm thay đổi trực tiếp vai trò của giảng viên: từ người truyền đạt tri thức theo tuyến tính sang người tổ chức không gian học tập, định hướng tư duy, kết nối lý luận với thực tiễn và làm chủ các nguồn tri thức đa dạng. Tuy nhiên, trong trường chính trị, công nghệ chỉ có ý nghĩa khi được đặt dưới sự dẫn dắt của năng lực lý luận, bản lĩnh chính trị và phương pháp sư phạm. Nói cách khác, đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị không thể bị giản lược thành đổi mới công cụ; cốt lõi vẫn là đổi mới năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức tri thức của người giảng viên8.

Từ tiếp cận mô hình năng lực, năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên không hình thành một cách tự phát, mà chịu tác động đồng thời của thể chế, chính sách, môi trường tổ chức, hạ tầng công nghệ, năng lực cá nhân và môi trường thực tiễn địa phương9. Cách nhìn này giúp tránh lối đánh giá giản đơn, chỉ quy trách nhiệm đổi mới cho từng cá nhân giảng viên. Trên thực tế, một giảng viên có thể có động lực đổi mới rất rõ, nhưng nếu thiếu môi trường học thuật khuyến khích chia sẻ tri thức, thiếu điều kiện công nghệ, thiếu gắn kết với thực tiễn địa phương hoặc thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp, thì đổi mới sáng tạo khó trở thành một năng lực nghề nghiệp phát triển bền vững.

Về phương diện thực chứng, bài viết dựa trên kết quả khảo sát 1.306 phiếu, gồm 131 cán bộ quản lý, 287 giảng viên và 888 chủ thể đánh giá độc lập. Việc tổ chức khảo sát theo ba nhóm chủ thể cho phép nhận diện năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên không chỉ từ góc nhìn nội bộ nhà trường, mà còn từ phía đối tượng thụ hưởng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Thang đo năng lực đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu có độ tin cậy rất cao; hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,941 ở nhóm cán bộ quản lý, 0,932 ở nhóm giảng viên và 0,954 ở nhóm đánh giá độc lập10. Điều đó cho thấy, các nhận định rút ra trong bài viết không chỉ có cơ sở lý luận mà còn được bảo đảm bằng nền dữ liệu khảo sát tương đối vững chắc.

3. Thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị hiện nay

Một là, mặt bằng chung của năng lực đổi mới sáng tạo đã đạt mức từ khá đến cao.

Kết quả khảo sát cho thấy chỉ số tổng hợp năng lực đổi mới sáng tạo đạt 3,9251 điểm ở nhóm cán bộ quản lý, 4,0380 điểm ở nhóm giảng viên và 4,3225 điểm ở nhóm đánh giá độc lập (theo thang Likert 5 mức). Xét theo cơ cấu phân bố, tỷ lệ trường hợp có chỉ số từ 4,00 điểm trở lên chiếm 51,9% ở nhóm cán bộ quản lý, 61,3% ở nhóm giảng viên và tới 87,2% ở nhóm đánh giá độc lập11. Những con số này cho thấy đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị không còn là hiện tượng cá biệt, mà đã trở thành một xu hướng tương đối rõ trong hoạt động chuyên môn; đồng thời, mức độ ghi nhận tích cực từ phía chủ thể thụ hưởng còn mạnh hơn so với góc nhìn nội bộ.

Hai là, đổi mới nội dung bài giảng theo hướng bám sát thực tiễn địa phương và cập nhật chính sách mới là biểu hiện nổi bật nhất.

Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm nội dung bài giảng có mức điểm trung bình cao hơn các nhóm biểu hiện khác, đạt 4,09 ở nhóm cán bộ quản lý, 4,21 ở nhóm giảng viên và 4,39 ở nhóm đánh giá độc lập. Tỷ lệ đánh giá tích cực đối với hai biểu hiện “cập nhật nội dung theo thực tiễn địa phương” và “liên hệ chính sách mới với bài giảng linh hoạt” đạt từ 87,0% đến 90,0% ở nhóm cán bộ quản lý; từ 91,7% đến 93,4% ở nhóm giảng viên; và từ 95,8% đến 97,0% ở nhóm đánh giá độc lập12. Điều này cho phép khẳng định rằng điểm mạnh nổi bật nhất của giảng viên trường chính trị hiện nay không nằm ở thay đổi kỹ thuật lên lớp đơn thuần, mà ở khả năng làm cho bài giảng gắn chặt với đời sống thực tiễn và yêu cầu cập nhật chính sách trong bối cảnh mới.

Ba là, đổi mới phương pháp giảng dạy đã trở thành một biểu hiện tương đối rõ.

Nhóm biểu hiện này được đánh giá khá tích cực và tương đối ổn định ở cả ba nhóm chủ thể, với điểm trung bình chung đạt 3,97 ở nhóm cán bộ quản lý, 4,00 ở nhóm giảng viên và 4,29 ở nhóm đánh giá độc lập. Tỷ lệ đánh giá tích cực đối với việc giảng viên chủ động đổi mới phương pháp và giảm dần lối thuyết giảng một chiều dao động từ 78,6% đến 83,2% ở nhóm cán bộ quản lý; từ 86,1% đến 86,7% ở nhóm giảng viên; và từ 94,0% đến 96,6% ở nhóm đánh giá độc lập13. Điều đó cho thấy đổi mới phương pháp không chỉ là tự nhận thức của giảng viên, mà còn được cảm nhận rõ thành sự thay đổi trong tổ chức lớp học, trong mức độ tương tác và trong không khí học tập tích cực hơn.

Bốn là, năng lực đổi mới sáng tạo chưa phát triển đồng đều ở chiều sâu nghiên cứu khoa học và chuyển hóa kết quả nghiên cứu.

So với nhóm đổi mới nội dung bài giảng, nhóm biểu hiện gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn và chuyển hóa kết quả nghiên cứu có mức điểm thấp hơn tương đối, với điểm trung bình chung chỉ đạt 3,87 ở nhóm cán bộ quản lý và 3,95 ở nhóm giảng viên. Đặc biệt, biểu hiện chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào bài giảng hoặc tư vấn chính sách chỉ đạt 3,81 điểm ở nhóm cán bộ quản lý và 3,91 điểm ở nhóm giảng viên; tỷ lệ đánh giá tích cực cho nội dung này lần lượt là 69,4% và 75,9%14. Những dữ kiện này cho thấy hạn chế hiện nay không nằm ở chỗ đội ngũ thiếu hoàn toàn tinh thần nghiên cứu, mà ở chỗ năng lực chuyển hóa nghiên cứu thành giá trị giảng dạy và giá trị tư vấn vẫn chưa thực sự nổi bật, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển chiều sâu học thuật của trường chính trị.

Năm là, đổi mới sáng tạo gắn với môi trường tri thức số đã hình thành nhưng còn chênh lệch giữa các biểu hiện.

Ở nhóm giảng viên, điểm trung bình của nhóm học tập thích ứng với công nghệ mới đạt 4,07; trong đó, biểu hiện “tích cực học hỏi từ đồng nghiệp trên môi trường số” đạt 4,13 điểm và có tới 90,6% ý kiến đánh giá tích cực. Tuy nhiên, biểu hiện “sẵn sàng thử nghiệm phần mềm, ứng dụng mới trong giảng dạy” chỉ đạt 4,02 điểm ở nhóm giảng viên và 3,82 điểm ở nhóm cán bộ quản lý; tỷ lệ đánh giá tích cực ở nhóm cán bộ quản lý đối với nội dung này chỉ ở mức 68,7%15. Điều đó cho thấy đội ngũ giảng viên đã có tinh thần học hỏi và thích ứng khá rõ, nhưng từ học hỏi đến mạnh dạn thử nghiệm công cụ mới trong thực hành giảng dạy vẫn còn một khoảng cách nhất định. Đây chính là một điểm nghẽn mềm của quá trình đổi mới sáng tạo trong môi trường trường chính trị hiện nay.

Thực trạng hiện nay cho thấy đội ngũ giảng viên trường chính trị đã có nền đổi mới khá rõ, nhưng mức phát triển giữa các phương diện vẫn chưa hoàn toàn đồng đều. Điểm mạnh nổi bật nằm ở đổi mới nội dung bài giảng gắn với thực tiễn địa phương và chính sách mới; đổi mới phương pháp giảng dạy đã hình thành khá rõ; tinh thần học hỏi và thích ứng nghề nghiệp cũng đã xuất hiện tích cực. Trong khi đó, những hạn chế tương đối lại tập trung ở chiều sâu nghiên cứu, khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào bài giảng và mức độ mạnh dạn làm chủ các xu hướng công nghệ mới trong hoạt động chuyên môn16. Điều này có nghĩa là giảng viên trường chính trị đã đi được một bước khá rõ trong đổi mới sáng tạo, nhưng quá trình ấy vẫn đang thiên về chiều cập nhật và ứng dụng, hơn là đổi mới có chiều sâu học thuật và công nghệ.

4. Giải pháp định hướng phát triển năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị

Từ thực trạng trên, có thể đề xuất bốn định hướng phát triển năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị trong giai đoạn tới.

Thứ nhất, tiếp tục chuẩn hóa, đổi mới nội dung bài giảng như hạt nhân trung tâm của đổi mới sáng tạo trong trường chính trị.

Những kết quả đạt được hiện nay cho thấy đây là thế mạnh rõ nhất của đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở sự linh hoạt của từng cá nhân thì đổi mới sẽ khó tạo thành nền tảng bền vững. Điều cần thiết hơn là xây dựng cơ chế cập nhật thường xuyên thực tiễn địa phương, vấn đề mới nảy sinh trong đời sống chính trị – xã hội và chủ trương, chính sách mới vào quá trình thiết kế bài giảng, tổ chức giảng dạy và đánh giá kết quả học tập. Khi đó, đổi mới nội dung không còn là biểu hiện rời rạc, mà trở thành năng lực nghề nghiệp có thể duy trì và lan tỏa trong toàn bộ nhà trường17.

Thứ hai, đưa hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn trở thành nguồn lực trực tiếp của đổi mới sáng tạo.

Trong môi trường trường chính trị, nếu tri thức lý luận không được nuôi dưỡng bằng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, bài giảng rất dễ dừng ở mức an toàn, đúng nhưng chưa đủ sức thuyết phục và chưa đủ chiều sâu. Vì vậy, phát triển năng lực đổi mới sáng tạo không thể chỉ dựa vào cải tiến phương pháp hay cập nhật tài liệu, mà cần gắn với việc làm cho giảng viên thực sự trở thành chủ thể nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và chuyển hóa kết quả đó thành giá trị giảng dạy, giá trị tư vấn và giá trị học thuật. Ở đây, điểm cần nhấn mạnh là: đổi mới trong giảng dạy sẽ khó bền nếu không được nuôi bằng nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn.

Thứ ba, nhìn nhận đổi mới sáng tạo trong quan hệ chặt chẽ với môi trường tổ chức và điều kiện bảo đảm của nhà trường.

Kết quả nghiên cứu theo mô hình năng lực cho thấy đổi mới sáng tạo của giảng viên không chỉ là câu chuyện của cá nhân, mà luôn chịu tác động của môi trường học thuật, cơ chế khuyến khích, hạ tầng công nghệ và mức độ gắn kết với thực tiễn địa phương. Nếu giảng viên được yêu cầu đổi mới nhưng thiếu cơ chế hỗ trợ, thiếu học liệu số, thiếu cơ hội chia sẻ học thuật, thiếu kết nối với thực tiễn địa phương, thì đổi mới sáng tạo khó có thể phát triển theo hướng ổn định và có chiều sâu. Vì vậy, phát triển năng lực đổi mới sáng tạo phải đồng thời là quá trình cải thiện môi trường tổ chức và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới trong nhà trường.

Thứ tư, gắn phát triển năng lực đổi mới sáng tạo với quá trình chuẩn hóa trường chính trị trong giai đoạn mới.

Chuẩn hóa đội ngũ không nên chỉ được hiểu theo nghĩa truyền thống là chuẩn hóa học vị, chức danh, chứng chỉ hay các tiêu chí hành chính, mà phải bao gồm cả các năng lực nghề nghiệp mới như khả năng tổ chức tri thức, đổi mới nội dung bài giảng, gắn lý luận với thực tiễn, học hỏi trong môi trường số và chuyển hóa kết quả nghiên cứu vào giảng dạy. Theo Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn: “tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực số của đội ngũ giảng viên trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu”18 là một trong những yêu cầu quan trọng. Khi chuẩn hóa đội ngũ theo hướng này, năng lực đổi mới sáng tạo sẽ không còn là một yêu cầu phụ trợ, mà trở thành một trong những thước đo quan trọng của chất lượng giảng viên trường chính trị.

5. Kết luận

Từ kết quả khảo sát, có thể khẳng định năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị hiện nay đã được hình thành tương đối rõ và đang vận động theo chiều hướng tích cực. Điều này thể hiện ở chỉ số tổng hợp năng lực đổi mới sáng tạo đạt từ mức khá đến cao ở cả ba nhóm khảo sát; đồng thời ở việc hơn một nửa số trường hợp của hai nhóm nội bộ và gần chín phần mười số trường hợp của nhóm đánh giá độc lập đạt từ 4,00 điểm trở lên. Đặc biệt, nhóm biểu hiện về đổi mới nội dung bài giảng luôn đạt mức nổi trội hơn so với các cấu phần còn lại; trong khi những hạn chế tương đối lại tập trung ở chiều sâu nghiên cứu, chuyển hóa kết quả nghiên cứu và thử nghiệm công cụ mới trong giảng dạy. Những dữ kiện đó cho thấy đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị hiện nay đã có nền tảng khá rõ, nhưng vẫn đang thiên về chiều cập nhật và ứng dụng, hơn là đổi mới có chiều sâu học thuật và công nghệ.

Từ góc độ thực tiễn, phát triển năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên trường chính trị thực chất là quá trình nâng cấp chất lượng lao động trí tuệ trong nhà trường Đảng. Chỉ khi đổi mới sáng tạo được đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa bản lĩnh chính trị, năng lực lý luận, năng lực nghiên cứu, môi trường tổ chức và điều kiện tri thức số, nó mới thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và góp phần thúc đẩy quá trình chuẩn hóa, hiện đại hóa trường chính trị trong giai đoạn phát triển mới.

Chú thích:
1. Schumpeter, J.A. (1934). The Theory of Economic Development. Harvard University Press. P.65-66.
2, 5, 8. Hoàng Văn Hoan (2026). Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động lao động của giảng viên trường chính trị. Kỷ yếu hội thảo khoa học phục vụ đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm: “Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng hiện nay”. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2026.
3. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 23. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.228.
4. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 46 (Bản thảo kinh tế 1857 – 1858 – Grundrisse). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.228.
6. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.31.
9. Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2026). Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh ở Việt Nam: tiếp cận từ mô hình năng lực. Kỷ yếu hội thảo khoa học phục vụ đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm: “Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng hiện nay”. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2026). Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm “Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng hiện nay”. Nội dung 5: Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay, mục 1.1.3; 1.4.1; 1.3.1; 1.5.1; 1.6.1; 1.7.2; 1.8.2.
18. Ban Bí thư (2026). Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về trường chính trị chuẩn.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Bí thư (2026). Quy định số 393-QĐ/TW ngày 05/01/2026 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố.
2. Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên trường chính trị tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/04/11/giai-phap-xay-dung-doi-ngu-can-bo-giang-vien-truong-chinh-tri-tinh-khu-vuc-dong-bang-song-cuu-long-dap-ung-yeu-cau-xay-dung-truong-chinh-tri-chuan/.
3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/05/02/nang-cao-chat-luong-doi-ngu-giang-vien-truong-chinh-tri-tinh-tay-ninh-dap-ung-yeu-cau-xay-dung-truong-chinh-tri-chuan/.