Realizing the national development vision: the role and principles of translating commitments into action and societal transformation
PGS.TS. Trần Thị Thanh Thủy
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Tầm nhìn phát triển quốc gia có vai trò quan trọng gắn với sứ mệnh độc đáo của lãnh đạo công khi góp phần khẳng định tính chính đáng của hệ thống lãnh đạo công; giúp lãnh đạo công ứng phó và làm chủ trước các thách thức từ các nghịch lý trong theo đuổi các mục tiêu phát triển quốc gia; thể hiện đầy đủ nỗ lực và năng lực lãnh đạo công trong xây dựng liên minh, hợp tác với các bên liên quan; là cơ hội để xây dựng giá trị phát triển quốc gia trong tổng thể hệ giá trị công vụ và hệ giá trị quốc gia. Đến lượt nó, chất lượng của quá trình hiện thực hóa tầm nhìn, bao gồm triển khai, thích ứng, căn chỉnh hệ thống và tạo giá trị, sẽ quyết định các chuyển biến xã hội. Một số nguyên tắc chỉ đạo quá trình này là kết hợp kiên định và cởi mở, điều chỉnh để thích ứng; thông qua giá trị; thấu đáo và triệt để và lấy đồng thuận làm nền tảng cho tổ chức hoạt động.
Từ khóa: Tầm nhìn phát triển; phát triển quốc gia; hiện thực hóa tầm nhìn; các nguyên tắc tổ chức; hiện thực hóa tầm nhìn.
Abstract: A national development vision plays a pivotal role in relation to the distinctive mission of public leadership. It contributes to affirming the legitimacy of public leadership systems; enables public leaders to anticipate, navigate, and exercise agency in the face of permanent paradoxes inherent in pursuing national development objectives; demonstrates leadership capacity in convening coalitions and collaboration with diverse stakeholders; while providing an opportunity to embed national development values within the broader frameworks of public service values and national value systems. In turn, the quality of the vision’s realization process, including implementation, adaptation, alignment, and value creation, is decisive in determining whether anticipated societal. Our guiding principles are steadfastness with an openness to adapt, a value-driven approach, analytical thoroughness, disciplined execution, and the primacy of consensus as the foundation for collective action.
Keywords: National development; national development vision; vision realization; principles for organizing collective action; vision realization.
1. Đặt vấn đề
Bản chất của quá trình lãnh đạo và quản lý là tạo ra thay đổi ở các cấp độ. Ở cấp độ quốc gia, đó là quá trình chủ động tạo dạng tương lai xã hội thông qua thiết kế và thực thi các chiến lược, chính sách để tạo ra chuyển biến xã hội hài hòa với các chiều cạnh của cấu trúc xã hội, các mục tiêu phát triển và các cấp độ quản trị khác nhau. Tuy nhiên, lãnh đạo công – bao gồm lãnh đạo chính trị và lãnh đạo khu vực công nói chung – luôn phải đối mặt với nguy cơ thiếu nguồn lực, thiếu tập trung, bị phân mảng, biệt lập, bị thái quá, do cả những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Trong bối cảnh đó, tầm nhìn phát triển quốc gia xuất hiện như một điểm tựa nhận thức và hành động, cho phép hệ thống lãnh đạo đạt được điểm cân bằng cần thiết trong các chiều cạnh thời gian và không gian phát triển. Tuy nhiên, khoảng cách giữa tầm nhìn và thực tiễn phát triển vẫn luôn là một vấn đề thường trực trong lãnh đạo công, trong quản trị quốc gia.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, bài viết tập trung phân tích vai trò của hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia, đồng thời nhận diện một số nguyên tắc cơ bản trong việc tổ chức quá trình này.
2. Vai trò của hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia
Tầm nhìn phát triển của quốc gia góp phần thể hiện bản chất và thực hiện sứ mệnh của lãnh đạo công. Lãnh đạo công là quá trình tư duy và hành động nhất quán và không ngừng đổi mới trong huy động các nguồn lực nhằm dẫn dắt, chủ động kiến tạo tương lai – một trạng thái phát triển như kỳ vọng thông qua một mô hình phát triển một cách bền vững. Với sứ mệnh đó của lãnh đạo công, tầm nhìn, không đơn thuần là một tuyên bố định hướng mang tính biểu tượng mà là một cấu trúc nhận thức và hành động, giúp định vị mục tiêu phát triển và định hình cách thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực; và do đó, là cơ sở điều phối hành động tập thể trong điều kiện bất định1.
Chính vì vậy, hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia là một phương thức khẳng định tính chính đáng của lãnh đạo công. Một đảng cầm quyền và nhà nước chỉ có thể bảo vệ tính chính đáng của mình, tạo ra niềm tin xã hội khi có những năng lực cốt lõi, như: bảo vệ được chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, quản trị quốc gia theo một định hướng phù hợp để phát triển theo cách mình mong muốn, lựa chọn, với không chỉ lịch sử và đặc thù quốc gia, dân tộc mà cả các xu thế của thế giới và khu vực – điều này trước hết phụ thuộc vào năng lực xác định, diễn đạt tầm nhìn – một khát vọng lớn, mãnh liệt, nhận định và vun đắp vị thế “mình sẽ là ai” trên bản đồ thế giới và trong lòng dân và tiếp đó là năng lực từng bước hiện thực hóa tầm nhìn đó. Khi kể câu chuyện Dubai – Sự thần kỳ đến từ tầm nhìn của những nhà lãnh đạo trong việc đối mặt với các thách thức trong cuộc đua vươn tới sự vượt trội, một lãnh đạo của Tiểu quốc Dubai nhấn mạnh “Lòng tin đối với nhà lãnh đạo chỉ có thể được thiết lập thông qua hành động chứ không phải lời nói”2. Ngoài ra, tinh thần “nói đi đôi với làm” cũng là điều kiện để tạo động lực và truyền cảm hứng cho đội ngũ3.
Quá trình này còn là một phương thức giúp lãnh đạo công ứng phó và làm chủ các thách thức từ các nghịch lý trong việc theo đuổi các mục tiêu phát triển quốc gia. Trên thực tế, phát triển quốc gia không diễn ra trong một không gian tuyến tính hay ổn định mà luôn gắn với những nghịch lý mang tính cấu trúc trong quá trình xác định, diễn giải và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển. Những nghịch lý này không thể bị loại bỏ hoàn toàn mà cần được nhận diện và quản trị một cách hiệu quả. Trước nhất là sự căng thẳng thường trực trong việc theo đuổi các mục tiêu trước mắt và lâu dài, cụ thể là ở toàn cục.
Các mục tiêu trước mắt, như: tăng trưởng nhanh, ổn định kinh tế vĩ mô hay giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách – thường gắn với áp lực chính trị và kỳ vọng tức thời của xã hội, trong khi các mục tiêu dài hạn như phát triển bền vững, nâng cao chất lượng thể chế hay bảo vệ môi trường lại đòi hỏi chi phí hiện tại nhưng lợi ích chỉ hiện hữu trong tương lai. Sự bất cân xứng này khiến các quyết định công dễ bị lệch về phía “phiến diện”, “lợi ích nhìn thấy được”, “ăn đong, chắp vá”, thậm chí “tuyệt đối hóa” thành “đo lường được” trong khi các giá trị nền tảng hay lợi ích toàn cục có thể bị trì hoãn hoặc hy sinh. Bên cạnh đó, nguy cơ xung đột giữa tư duy nhiệm kỳ và tư duy dài hạn cũng luôn hiện diện trong mọi bối cảnh lãnh đạo và quản trị công. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hóa tầm nhìn dài hạn, nếu thiếu nhạy cảm với bối cảnh, cũng có thể dẫn đến duy ý chí và làm suy giảm tính chính danh của chính quyền khi không đáp ứng được nhu cầu trước mắt của người dân. Do đó, vấn đề không phải là lựa chọn giữa ngắn hạn và dài hạn mà là thiết lập một logic tích hợp, trong đó các quyết định hiện tại được thiết kế như những bước đi có tính tích lũy hướng tới mục tiêu dài hạn. Đó là điểm giao kết nơi việc xây dựng và hiện thực hóa tầm nhìn phát triển sẽ phát huy vai trò như một “thiết chế định hướng”, giúp ưu tiên hóa các lựa chọn, duy trì tính nhất quán chiến lược và tạo ra khả năng kiềm chế trước các áp lực ngắn hạn.
Nói cách khác, tầm nhìn và quá trình hiện thực hóa nó không chỉ là tuyên bố mục tiêu mà còn là công cụ để cân bằng các ưu tiên trong phát triển. Do đó, tầm nhìn phát triển có vai trò như một cơ chế điều phối hành động tập thể của quốc gia trong điều kiện xã hội hiện đại ngày càng phức tạp và phân mảnh. Các chính phủ hoạt động hiệu quả đều duy trì được một “đường nhìn chiến lược”, trong đó các chính sách cụ thể, các chương trình hành động và quyết định quản trị đều có thể truy nguyên về một mục tiêu phát triển dài hạn thống nhất. Điều này giúp giảm thiểu tình trạng xung đột chính sách, hạn chế các quyết định ngắn hạn mang tính phản ứng, đồng thời tạo ra sự nhất quán trong toàn bộ hệ thống. Bên cạnh đó, nghịch lý đến từ nhu cầu hài hòa giữa các chiều cạnh, cấp độ trong phát triển. Quá trình phát triển không diễn ra theo các “ngăn kéo” riêng biệt; mỗi quyết định trong một lĩnh vực hoặc một cấp độ đều có thể tạo ra các hiệu ứng lan tỏa tới các lĩnh vực và cấp độ khác nhau. Nguy cơ phát triển thiếu trọng tâm hoặc lệch tâm cũng có thể xuất hiện; sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển đã ban hành với yêu cầu phát triển mới và năng lực phối hợp giữa các cấp, các ngành4.
Trong bối cảnh này, quá trình hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia đóng một số vai trò, như: (1) Là một “khung tham chiếu tối cao”, giúp định hình thứ tự ưu tiên, điều phối các mục tiêu cạnh tranh và tạo ra sự liên kết giữa các cấp độ quản trị; nhờ đó, các chính sách ngành, chính sách vùng và các quyết định ở cấp địa phương, thay vì phân mảnh hoặc xung đột lẫn nhau, lại có thể vận hành trong một quỹ đạo chung, để đạt được thành tựu tổng thể. Nói cách khác, nó có thể được xem là một điều kiện để chuyển hóa sự đa dạng và phức hợp của các mục tiêu phát triển thành một tiến trình có trật tự và có ý nghĩa chiến lược; (2) Là một công cụ tích hợp, một khuôn khổ “logic chung” để Nhà nước và các bên liên quan có thể điều chỉnh hành vi theo một quỹ đạo phát triển thống nhất trong bối cảnh quản trị quốc gia mạnh mẽ chuyển từ mô hình hành chính thứ bậc sang quản trị đa trung tâm dẫn đến trong bối cảnh phân mảnh thể chế, nguy cơ phân tán mục tiêu và xung đột chính sách ngày càng gia tăng.
Đây cũng là quá trình thể hiện đầy đủ nỗ lực và năng lực lãnh đạo công trong xây dựng liên minh, hợp tác với các bên liên quan, trước nhất là trong nước, đặc biệt là cộng đồng và doanh nghiệp để thực hiện sứ mệnh lãnh đạo. Bởi vì, hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia không phải là một quá trình kỹ thuật đơn giản mà là một quá trình mang tính chính trị – xã hội sâu sắc, trong đó, lãnh đạo công phải liên tục cân bằng giữa các mục tiêu, các giá trị và các ràng buộc khác nhau gắn với nhu cầu của nhiều bên, chưa kể của nhiều lĩnh vực ngay trong hệ thống nhà nước. Chính vì vậy, trong bối cảnh quản trị đa trung tâm ngày càng phổ biến, quá trình tổ chức hiện thực hóa tầm nhìn có thể được xem như một “thiết chế mềm” định hình nguyên lý vận hành hệ sinh thái chính trị – quản trị của từng quốc gia. Theo đó, khi tạo ra kết quả trên thực tế, tầm nhìn phát triển quốc gia không đơn thuần định vị một điểm đến mà quá trình hiện thực hóa nó là cơ chế tạo ra sự liên kết giữa các hành động phân tán trong một hệ thống ngày càng phức hợp.
Tầm nhìn và quá trình hiện thực hóa tầm nhìn còn là cơ hội để xây dựng giá trị phát triển quốc gia trong tổng thể hệ giá trị công vụ và hệ giá trị quốc gia.
Để làm tốt các vai trò trên, tầm nhìn phát triển quốc gia hiệu quả cần đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu có tính tương trợ lẫn nhau, ví dụ như:
(1) Ở tầm khát vọng: tầm nhìn phát triển của một quốc gia, một địa phương hay một cơ quan cần được đưa ra từ những khát vọng lớn lao, ước mơ mãnh liệt về những điều lớn lao, thậm chí chưa từng có tiền lệ hơn là một ước mơ thông thường; tuy nhiên, nếu tầm nhìn quá xa rời thực tiễn, có thể trở nên phi thực tế và không thể dẫn dắt hành động cụ thể.
(2) Có tính khả thi: một tầm nhìn chỉ có giá trị truyền động lực và khơi dậy cảm hứng, nhiệt huyết khi các bên liên quan tin rằng, nó có thể đạt được, nghĩa là, quá trình xây dựng tầm nhìn phải dựa trên các phân tích nghiêm túc về năng lực quốc gia, bao gồm cả nguồn lực vật chất, thể chế và con người. Tuy nhiên, tính khả thi không đồng nghĩa với khả năng dễ đạt được mà là sự cân bằng giữa tham vọng với năng lực chuyển hóa tuyên bố tầm nhìn thành hành động và kết quả.
3. Một số nguyên tắc chung trong tổ chức quá trình hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia cần một hệ thống hoạt động như hoạch định chiến lược, tổ chức tốt quá trình chính sách, dùng người, huy động và sử dụng nguồn lực, xây dựng văn hóa tổ chức và quản trị xung đột; quan hệ công chúng và đặc biệt là quản trị truyền thông và xây dựng hình ảnh lãnh đạo…
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia không đơn thuần là việc triển khai các kế hoạch hay chương trình hành động mà là quá trình chuyển hóa tầm nhìn thành các chuỗi hành động có tính hệ thống động, được định hướng bởi hệ giá trị và tác động toàn cục, lâu dài đến sự phát triển của quốc gia trong một bối cảnh luôn biến đổi. Cần xem quá trình hiện thực hóa tầm nhìn như một hệ sinh thái sống động không chỉ là một lựa chọn phương pháp luận, mà là một yêu cầu thực tiễn, thúc đẩy sự chuyển dịch từ tư duy “thực thi kế hoạch” sang tư duy “kiến tạo phát triển” thông qua hành động”, trong đó năng lực lãnh đạo được đo lường không chỉ bằng kết quả đạt được mà bằng khả năng định hình và duy trì một “cách chơi” hiệu quả, chính đáng và thích ứng.
3.1. Kết hợp kiên định với cởi mở điều chỉnh để thích ứng
Yêu cầu đồng thời hai năng lực – vừa kiên định – duy trì định hướng chiến lược ổn định gắn với việc bảo vệ các mục tiêu cốt lõi và các giá trị nền tảng và năng lực hoạch định, năng lực tổ chức thực thi một cách kiên định, nhất quán; với năng lực học hỏi và điều chỉnh, phản ứng liên tục trước biến động phản ánh một nghịch lý trung tâm trong quản trị phát triển. Hai năng lực này không loại trừ nhau, nhưng trong thực tiễn thường bị đặt trong trạng thái căng thẳng.
Về lý thuyết, năng lực kiên định gắn với khả năng duy trì các mục tiêu cốt lõi, các giá trị nền tảng và quỹ đạo phát triển dài hạn. Lãnh đạo quốc gia phải đồng thời xử lý nhiều tầng logic: ngắn hạn – dài hạn, cục bộ – toàn cục, hiệu quả – chính đáng. Hơn nữa, bối cảnh lãnh đạo và quản trị công liên quan đến rất nhiều biến số và quan hệ phức hợp, như công nghệ, tự nhiên, mưu cầu lợi ích của nhiều bên và liên minh lợi ích đa dạng, lãnh đạo công. Cần thể hiện sự kiên định, bản lĩnh để kiên định với tầm nhìn, hạn chế dao động, thậm chí “manh động” trước các cú sốc của thế giới hoặc các luồng dư luận. Vì nếu điều này xảy ra, sự thay đổi tầm nhìn phát triển một cách dễ dàng không chỉ dẫn đến tốn kém trong các đầu tư chiến lược toàn diện (nhân lực, tài chính, quan hệ đối tác…) mà quan trọng hơn, có thể vướng vào nguy cơ chệch khỏi ý thức hệ tư tưởng. Tuy nhiên, kiên định quá mức có thể dẫn đến bảo thủ, chậm thích ứng.Do đó, cần kiên định nhưng cởi mở đối với việc đặt lại hoặc thay đổi tầm nhìn phát triển.
Năng lực thích ứng và phản ứng nhanh lại đòi hỏi sự điều chỉnh liên tục về công cụ, phương thức và thậm chí là thứ tự ưu tiên trong ngắn hạn.
Trong các hệ thống phức hợp, hiệu quả không đến từ kiểm soát tập trung mà từ khả năng điều phối, học hỏi và điều chỉnh liên tục, nguyên tắc này xuất phát từ ý niệm “tiếp cận hệ thống động” trong lãnh đạo công có thể được hiểu là cách thức nhìn nhận các hệ thống xã hội, thực tiễn phát triển như một hệ thống mở, không vận hành theo logic tuyến tính mà chịu tác động của nhiều vòng phản hồi và các yếu tố phi tuyến, trong đó các yếu tố cấu thành luôn tương tác, biến đổi và tạo ra những hệ quả khó dự báo đầy đủ dẫn tới yêu cầu về năng lực cốt lõi của lãnh đạo công hiện đại là khả năng điều chỉnh chính sách trong khi vẫn duy trì tầm nhìn phát triển nói chung và định hướng chiến lược thông qua hệ thống các chính sách cụ thể được điều chỉnh liên tục dựa trên dữ liệu và thử nghiệm.
Quá trình hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia không thể được hiểu như một chuỗi tuyến tính các bước từ hoạch định đến thực thi mà cần được tiếp cận như một hệ sinh thái sống động, duy trì được logic vận hành nhất quán trong điều kiện biến động, trong đó các chủ thể, nguồn lực, thể chế và bối cảnh tương tác liên tục, đồng tiến hóa theo thời gian. Trong hệ sinh thái này, tầm nhìn không phải là một “bản thiết kế cố định” mà là một “trục định hướng” cho phép các thành tố vận hành trong trạng thái linh hoạt nhưng không mất phương hướng.
Nói cách khác, trong một số trường hợp, tầm nhìn có thể trở thành một khuôn khổ cứng nhắc, làm hạn chế khả năng thích ứng của hệ thống khi lãnh đạo công không kịp điều chỉnh và thích ứng với các giả định ban đầu khi bối cảnh thay đổi. Khi đó, tầm nhìn không còn là công cụ dẫn dắt mà có thể dẫn đến bảo thủ và chậm thích ứng; ngược lại, linh hoạt quá mức có thể làm xói mòn tính nhất quán và độ tin cậy của chiến lược, chính sách, trở thành rào cản tư duy đối với quá trình phát triển.
Trong bối cảnh các quốc gia đang đồng thời đối mặt với nhiều chuyển dịch lớn như chuyển đổi số với mức độ chiếm lĩnh của trí tuệ nhân tạo ngày càng tăng; xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, già hóa dân số, biến đổi khí hậu,… việc duy trì một cách tiếp cận cứng nhắc sẽ dẫn tới nguy cơ “trượt khỏi quỹ đạo” phát triển. Quá trình lãnh đạo hiệu quả không kỳ vọng tìm kiếm các “giải pháp tối ưu” theo nghĩa đầy đủ, mà thường phải chấp nhận các giải pháp “thích ứng đủ tốt”, đồng thời duy trì khả năng điều chỉnh liên tục.
Áp dụng nguyên tắc hay cách tiếp cận hệ thống động này cho phép lãnh đạo công bám sát mục tiêu, bám sát tổng thể trong khi nhìn nhận được các yếu tố riêng biệt và tính đặc thù, thậm chí biệt lệ của chúng; giúp hệ thống lãnh đạo này tránh hai cực đoan là cứng nhắc và tùy tiện. Đồng thời, cũng chỉ ra rằng tầm nhìn phát triển quốc gia dài hạn cần được rà soát và điều chỉnh định kỳ để phù hợp với bối cảnh mới.
Tuy nhiên, không thể bỏ qua nguy cơ đồng nhất “thích ứng” với “thay đổi mục tiêu”, dẫn đến tình trạng “trôi dạt chính sách”, nơi các quyết định ngắn hạn vô tình tái định hình mục tiêu dài hạn. Cũng không thể đồng nhất “thích ứng” với “thay đổi mục tiêu”. Trên thực tế, thích ứng hiệu quả không phải là thay đổi đích đến, mà là điều chỉnh con đường đi tới đích trong những điều kiện mới. Nếu không phân biệt rõ hai cấp độ này, hệ thống quản trị có thể rơi vào trạng thái “trôi dạt chính sách”, nơi các quyết định ngắn hạn liên tục tái định hình mục tiêu dài hạn một cách vô thức. Bên cạnh đó, linh hoạt quá mức có thể làm xói mòn tính nhất quán và độ tin cậy của chính sách.
Trong bối cảnh đó, tầm nhìn phát triển quốc gia đóng vai trò như một “neo chiến lược”, giúp phân tách rõ ràng giữa những yếu tố cần được bảo toàn và những yếu tố có thể điều chỉnh; tạo ra một hệ quy chiếu ổn định để các quyết định thích ứng không trở thành tùy tiện, đồng thời, cung cấp cơ sở để đánh giá mức độ phù hợp của các phản ứng nhanh trước các cú sốc. Nói cách khác, chính tầm nhìn là điều kiện để chuyển hóa tính linh hoạt thành năng lực thích ứng có định hướng, thay vì phản ứng bị động trước biến động.
Trong điều kiện môi trường phát triển biến động nhanh, tầm nhìn chiến lược của quốc gia góp giảm thiểu bất định chiến lược. Khi các quyết định chính sách không thể chỉ dựa trên thông tin hiện tại mà cần dựa trên kỳ vọng về tương lai thì tầm nhìn phát triển cung cấp một chiếc “neo nhận thức” giúp các chủ thể duy trì tính nhất quán trong hành động ngay cả khi điều kiện thực tiễn thay đổi và đặc biệt là có khả năng chủ động hơn trước các cú sốc ngắn hạn.
Khi hiện thực hóa tầm nhìn cũng không đánh đồng tính thích ứng với thay đổi thường xuyên và tùy tiện vì nó có thể làm suy yếu niềm tin và tính dự báo của chính sách. Vấn đề không nằm ở việc thiếu điều chỉnh chiến lược, chỉnh sửa chính sách mà ở chỗ, một mặt, các điều chỉnh chính sách thường mang tính phản ứng ngắn hạn, chưa dựa trên một khung phân tích hệ thống đầy đủ, dẫn đến nguy cơ tạo ra các hiệu ứng phụ ngoài mong muốn; hoặc quá trình hoạch định chính sách vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư duy cục bộ, thiếu liên thông và phản ứng chậm trước các vấn đề mới. Mặt khác, các điều chỉnh thiếu tính hệ thống, không dựa trên một logic chiến lược rõ ràng, dẫn đến nguy cơ “thích ứng phân mảnh” thay vì thích ứng có định hướng.
Do đó, trong hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia, lãnh đạo công cần: (1) Kiến tạo một môi trường trong đó các chủ thể có thể hành động một cách chủ động, sáng tạo nhưng vẫn hội tụ về mục tiêu chung; (2) Kiến tạo các động lực phát triển mới song song với duy trì các động lực truyền thống và thế mạnh vẫn còn phù hợp; (3) Không dựa vào các mô hình hoạch định (chiến lược, chính sách) tĩnh, mà cần liên tục điều chỉnh chiến lược dựa trên thông tin mới; (4) Xây dựng các kịch bản chính sách, tăng cường đánh giá tác động và mở rộng không gian thử nghiệm chính sách trở thành những công cụ thiết yếu; (5) Cải thiện chất lượng dự báo, nhất là dự báo chiến lược; (6) Xây dựng hệ thống dữ liệu để ra quyết định dựa trên dữ liệu khi có thể5.
Việc hiện thực hóa nguyên tắc này đòi hỏi ít nhất ba điều kiện, gồm: một là, năng lực tư duy chiến lược, cho phép phân biệt giữa mục tiêu có tính nền tảng (không dễ thay đổi) và công cụ, giải pháp (có thể điều chỉnh); hai là, hệ thống thông tin và phản hồi đủ tin cậy để nhận diện kịp thời những thay đổi của bối cảnh; ba là, một kiểu văn hóa tổ chức chấp nhận thử nghiệm và học hỏi, thay vì chỉ đề cao sự tuân thủ. Tuy nhiên, các điều kiện này thường khó đạt được đồng thời. Hạn chế về dữ liệu, sự phân mảnh thông tin giữa các cơ quan, cũng như tâm lý e ngại rủi ro trong khu vực công có thể làm suy giảm đáng kể khả năng “học hỏi trong hành động”. Vì vậy, trong tổ chức hiện thực hóa tầm nhìn phát triển thích ứng – hay tiếp cận hệ thống động – cần đi kèm với kỷ luật chiến lược.
3.2. Thông qua giá trị
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia, một mặt, quá trình này phản ảnh, phát huy hệ giá trị quốc gia. Các giá trị này có thể là vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “hòa bình” “độc lập”, “tự do”, “hạnh phúc”; đồng thời, bổ sung “thống nhất” “dân giàu” “nước mạnh”…6; mặt khác, làm giàu thêm, đóng góp giá trị vào hệ giá trị của quốc gia, hệ giá trị phát triển quốc gia. Lấy ví dụ như: “tự chủ chiến lược” được nhấn mạnh trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng ở nước ta.
Về bản chất, giá trị không chỉ là những tuyên bố mang tính chuẩn tắc mà là “cơ chế mềm” điều chỉnh hành vi, bổ sung cho các công cụ pháp lý và kinh tế. Khi các giá trị được chuyển hóa thành niềm tin xã hội, chúng tạo ra tính tự nguyện tuân thủ và giảm chi phí kiểm soát.
Lãnh đạo thông qua giá trị có thể được hiểu là cách thức định hướng hành động công dựa trên một hệ thống chuẩn mực được xã hội và hệ thống công vụ thừa nhận, trong đó, các quyết định không chỉ được đánh giá theo hiệu quả kinh tế mà còn theo tính chính đáng và phù hợp với lợi ích công. Nguyên tắc này nhấn mạnh yêu cầu kết hợp pháp trị và đức trị trong hiện thực hóa tầm nhìn phát triển.
Nguyên tắc này trước nhất xuất phát từ giới hạn của cách tiếp cận thuần túy kỹ trị. Các quyết định công thường liên quan đến phân bổ nguồn lực khan hiếm và giải quyết xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội, dẫn tới việc dữ liệu và bằng chứng không thể tự thân đưa ra câu trả lời, mà cần được diễn giải trong một khung giá trị nhất định. Khi mức độ nhất quán cao giữa giá trị tuyên bố và hành vi thực thi trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền thì giảm được chi phí kiểm soát, giảm chi phí tuân thủ, tăng tính tự giác trong thực thi, do đó, tăng hiệu quả chính sách, chiến lược.
Bên cạnh đó, nguyên tắc này xuất phát từ cách con người nhìn nhận thế giới. Một xu hướng phổ biến hiện nay khi khái quát diễn dịch thế giới là chuyển dịch mối quan tâm từ thế giới thế nào: VUCA (từ viết tắt tiếng Anh của biến động, bất định, phức tạp, mơ hồ) sang con người đang “cảm nhận” và bị tác động thế nào về thế giới đó: BANI (dễ gãy vỡ – dễ bị gãy vỡ, sụp đổ trước các cú sốc; gây nhiều áp lực – tổ chức và cá nhân luôn trong trạng thái căng thẳng, khó dự đoán; phi tuyến tính hay quan hệ nhân quả không rõ ràng; và khó hiểu – không dễ giải thích đầy đủ bằng logic thông thường). Do đó, nguyên tắc lãnh đạo thông qua giá trị xuất hiện để thừa nhận một thực tế quan trọng là tầm nhìn phát triển của một quốc gia chỉ có thể trở thành hiện thực khi được nội hóa thành hệ thống giá trị và niềm tin đủ mạnh để chi phối cảm xúc, hành vi của các chủ thể trong xã hội mà trước nhất là của hệ thống các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, việc nhấn mạnh vai trò của giá trị cũng có thể tạo ra một số tranh luận. Phân tích có phê phán có thể cho rằng nếu loại bỏ yếu tố giá trị và chỉ dựa vào tính toán hiệu quả, hệ thống có nguy cơ đánh mất tính chính đáng và niềm tin xã hội, nhưng việc dựa vào giá trị cũng có thể dẫn đến tính chủ quan, thậm chí bị lợi dụng để hợp thức hóa các quyết định mang tính duy ý chí. Bên cạnh đó, liệu việc nhấn mạnh giá trị có làm suy giảm tính hiệu quả của quyết định? Về lý thuyết, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và xu hướng đề cao tính hiệu quả kinh tế trong mọi quá trình xã hội – kể cả công hay tư – thì việc đặt quá nhiều ràng buộc đạo đức có thể làm giảm tốc độ ra quyết định. Mặc dù vậy, các nghiên cứu gần đây cho thấy ngược lại: các hệ thống quản trị dựa trên giá trị có xu hướng tạo ra niềm tin xã hội cao hơn, từ đó giảm chi phí thực thi chính sách.
Trong quá trình hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia, các giá trị công vụ, như: liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại, kiến tạo phát triển mà như ở Việt Nam đều xuất phát từ một giá trị gốc là “dân vi bản” – mọi sự thịnh – suy, tồn – vong, phát triển hay “dậm chân tại chỗ” hoặc tụt hậu đều là “của dân” “do dân” và “vì dân” theo nghĩa thực chất là hành động với tình yêu thương và lòng biết ơn; hạn chế thấp nhất cái giá phải trả vì những sai lầm chiến lược và chính sách.
Một giá trị phát triển khác cần được theo đuổi một sáng suốt và thực chất trong hiện thực hóa tầm nhìn phát triển là sự hài hòa giữa tính hiệu quả và tính đạo đức – bao quát các trụ cột như phúc lợi xã hội, an ninh sinh thái và tiếp nối văn hóa giúp duy trì và đem vào tương lai các niềm tin, giá trị, luân lý, đạo đức truyền thống vào một xã hội hiện đại và đang có xu hướng vật chất hơn. Trong đó, tính đến tầng bản chất của văn hóa là các giá trị, niềm tin, trông đợi – khi các tiêu chuẩn về luân lý, đạo đức, ứng xử của con người nhân văn với trái tim và cảm xúc cụ thể được quan tâm, chứ không phải chỉ là tư cách của công dân có quyền và nghĩa vụ pháp lý được chính quyền chịu trách nhiệm. Điều này phản ánh một cách tiếp cận mang tính tích hợp và đồng bộ đối với phát triển quốc gia trong đó các thành quả “hữu hình” như tăng trưởng kinh tế được đặt trong mối quan hệ hài hòa với các giá trị “vô hình” nhưng có ý nghĩa nền tảng như văn hóa và môi trường; tính đến những thành quả nhìn thấy được ngay trong khi không làm mất đi những nền tảng ngầm và ẩn sâu như văn hóa.
Ở Việt Nam, các giá trị quản trị, các giá trị cộng đồng như “nước mất nhưng làng không mất”… vốn là gốc rễ của sức mạnh dân tộc trong giành và giữ độc lập, tự do dân tộc thì không nên để bị mai một nếu không muốn rơi vào tình trạng “gia nhập thị trường nhưng vô hướng”; cũng tương tự với các giá trị luân lý đạo đức xã hội như “có trên có dưới” “có trước có sau”, “tiên học lễ, hậu học văn”,… Tích hợp được cả 4 chiều cạnh trên trong hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia sẽ thể hiện được “trách nhiệm thế hệ” – một giá trị có tính sống-còn về đạo đức trong hiện tại và về cả đạo đức và kinh tế trong tương lai trong lãnh đạo công, quản trị công. Việc xác lập rõ các trụ cột này giúp định hướng các lựa chọn chính sách, tránh tình trạng thiên lệch hoặc đánh đổi không cần thiết giữa các mục tiêu.
Một giá trị nữa trong hệ giá trị phát triển quốc gia nằm ở liêm sỉ của tính chính đáng – khi nỗ lực kết nối giữa nói và làm, giữa tuyên bố và hành động. Tuy nhận thức được rằng quá trình hiện thực hóa tầm nhìn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố chủ quan và khách quan, chủ động dự báo và bất khả kháng,… nhưng đây vẫn là một giá trị có tính then chốt nhất để vừa đóng góp, vừa làm trụ cột cho các giá trị công. Điều này đòi hỏi năng lực thiết lập một hệ sinh thái thể chế – con người – xã hội cho phép tầm nhìn đó được chuyển dịch từ ý niệm thành phát ngôn, từ phát ngôn thành văn và từ thể chế, quy định thành thực tiễn. Điều này đòi hỏi sự thực hành một cách nghiêm túc tinh thần phụng sự trong thực thi công vụ – tận tụy mà không đòi đền đáp. Nguyên tắc chỉ đạo này xuất phát từ khó khăn lớn nhất của lãnh đạo thông qua giá trị là nằm ở khoảng cách giữa “giá trị tuyên bố” và “giá trị vận hành”. Mà khi các giá trị không được phản ánh nhất quán trong hành vi của hệ thống công vụ, chúng sẽ dần mất vai trò định hướng và trở thành hình thức. Do đó, vấn đề cốt lõi không phải là “có hay không có giá trị”, mà là làm thế nào để các giá trị được thể chế hóa và kiểm chứng thông qua hành động.
Để đối mặt với thách thức bảo đảm rằng các giá trị này được thể hiện một cách nhất quán trong hành vi công vụ và trong thiết kế thể chế, quá trình tổ chức hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia dựa trên giá trị cần: (1) Xác định tầm nhìn phát triển; đưa ra tuyên bố về tầm nhìn chiến lược để cung cấp căn cứ cho hành động thực hiện trách nhiệm và trách nhiệm giải trình; (2) Dùng các giá trị như các tiêu chí thực chất để lựa chọn giữa chiến lược, các phương án chính sách, cũng như các tiêu chí vận hành cụ thể, có thể quan sát và đánh giá; (3) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản trị quốc gia7; (4) Kết hợp giữa giáo dục giá trị, cải cách chế độ công vụ và tăng cường trách nhiệm giải trình; (5) Thực hành các giá trị công và công vụ trước nhất trong nội bộ giới lãnh đạo; (6) Các nhà lãnh đạo biết biết định vị bản thân trong mối quan hệ với công dân, xã hội; có khả năng tự dằn vặt trước những hành động trái đạo đức công vụ; và biết hành động để sửa lỗi8.
3.3. Thấu đáo và triệt để
Nguyên tắc thấu đáo và triệt để phản ánh yêu cầu về chiều sâu phân tích và tính toàn diện trong nhận diện và giải quyết vấn đề phát triển. Một quá trình hành động được coi là thấu đáo khi nó xác định và có ưu tiên (chứ không dàn trải, cào bằng); dựa trên phân tích liên ngành; có khả năng dự báo các tác động dài hạn; tiếp cận vấn đề ở mức độ bản chất thay vì dừng lại ở xử lý bề mặt, xử lý “triệu chứng” hoặc nửa vời mà không giải quyết được gốc rễ, căn nguyên của vấn đề; tính đến cả các tác động khó lường từ bối cảnh và thậm chí từ trong tâm lý con người trong các quá trình tư duy và hành động; và được coi là triệt để khi nó giải quyết được các mâu thuẫn cấu trúc thay vì chỉ điều chỉnh cục bộ (ví dụ, tính đến không chỉ thể chế mà cả tài chính công, không chỉ cơ cấu tổ chức mà cả nguồn nhân lực), triển khai giải pháp một cách nhất quán, tránh tình trạng “nửa vời”; và “hành động hàng ngày với một tầm nhìn trong đầu”.
Nguyên tắc này đối lập với cách tiếp cận mang tính “đối phó”, “nửa vời”, “đánh trống bỏ dùi”, trong đó các động thái chiến lược và chính sách hướng tới tầm nhìn chỉ xử lý triệu chứng mà không chạm tới nguyên nhân gốc rễ; hoặc xử lý vấn đề theo đợt, thiếu tính liên tục và không đi đến cùng các giải pháp đã lựa chọn, dẫn đến giảm hiệu quả tích lũy của chính sách và tạo ra vòng lặp của các vấn đề tương tự.
Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của các “vấn đề công” hiện đại – thường là các vấn đề có tính phức hợp, khó dự đoán, thậm chí có tính nan giải, không có ranh giới rõ ràng, và cùng lúc chịu tác động của nhiều yếu tố cả vĩ mô và vi mô, cả các xu hướng đại trà lẫn những yếu tố đặc thù. Trước những thách thức đó, bối cảnh đó, nếu không nhận diện đúng bản chất vấn đề, các giải pháp có thể tạo ra những hệ quả ngoài mong muốn, thậm chí làm trầm trọng thêm vấn đề ban đầu. Đối với các tổ chức công, tính khó dự đoán của bối cảnh còn làm gia tăng tính phức tạp trong quá trình thực thi9.
Tuy nhiên, vẫn có một vấn đề cần thảo luận: liệu có nên trì hoãn hành động cho đến khi đạt được sự “thấu đáo đầy đủ”? Việc theo đuổi các giải pháp triệt để có thể làm chậm quá trình ra quyết định, đặc biệt trong bối cảnh khẩn cấp; vì vậy, cần có sự phân biệt giữa cải cách dài hạn và giải pháp tình thế, tránh tuyệt đối hóa một phía. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy trong nhiều trường hợp, cách tiếp cận phù hợp là kết hợp giữa hành động và học hỏi, tức là triển khai các giải pháp ở quy mô kiểm soát được, đồng thời theo dõi và điều chỉnh dựa trên kết quả thực tế. Như vậy, “thấu đáo” không phải là điều kiện tiên quyết tuyệt đối trước hành động mà là một quá trình được hoàn thiện dần thông qua thực tiễn.
Tuy nhiên, việc theo đuổi tính thấu đáo và triệt để trong hiện thực hóa tầm nhìn phát triển không phải lúc nào cũng khả thi. Những trở lực phổ biến có thể là: (1) Những ràng buộc thể chế, khi các giải pháp “triệt để” có thể đụng chạm đến lợi ích của nhiều nhóm khác nhau, làm gia tăng chi phí chính trị của quyết định; (2) Sự hạn chế về năng lực phân tích; thông tin và dữ liệu không đầy đủ, bị sai lệch hoặc bị diễn giải méo mó theo các lợi ích khác nhau khiến việc phân tích căn nguyên trở nên khó khăn; (3) Áp lực thời gian và yêu cầu phản ứng nhanh, đặc biệt trong các tình huống khẩn cấp dẫn đến xu hướng lựa chọn các giải pháp “dễ làm trước” hoặc phải chấp nhận các giải pháp chưa hoàn toàn thấu đáo; (4) những bất cập trong phối hợp liên ngành cũng có thể là nguyên nhân làm cho các ý tưởng tốt đẹp của tầm nhìn khó có thể đi qua được giai đoạn văn bản mà chỉ còn mang tính hình thức; (5) Sự xáo trộn không cần thiết các nhân sự lãnh đạo ở cấp cao (trung ương và địa phương).
Do đó, để bảo đảm tính thấu đáo và triệt để trong hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia, cần: (1) Thực hiện thường xuyên việc rà soát pháp luật, giảm bớt xung đột pháp luật, giảm các điều kiện giải thích pháp luật bằng nhiều hình thức văn bản thuộc thẩm quyền thấp hơn; (2) Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn trong ra quyết định và sử dụng nguồn lực; như ở Việt Nam còn cần hoàn thiện cơ chế pháp luật để bảo vệ và khuyến khích người “dám nghĩ” “dám làm” và trách nhiệm giải trình trong bối cảnh kết hợp cơ chế lãnh đạo cá nhân và lãnh đạo tập thể; (3) Đầu tư xây dựng và phát huy được một hệ thống thông tin, dữ liệu có chất lượng, đại diện được thực tiễn đa đạng; (4) Đầu tư vào năng lực phân tích chính sách; (5) Phát huy vai trò của các tổ chức nghiên cứu độc lập và cải thiện chất lượng tham vấn chính sách; (6) Xử lý những vấn đề mang tính cấu trúc như chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động, hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực thể chế.
3.4. Lấy đồng thuận làm nền tảng cho tổ chức hoạt động.
Nếu mô tả một cách ngắn gọn rằng lãnh đạo là quá trình gồm 3 hành động chính được tóm gọn trong 3 từ: Định hướng, Điều hành, và Động viên, thì tác động trông đợi đối với thực tiễn lãnh đạo nói chung và lãnh đạo quá trình hiện thực hóa tầm nhìn phát triển nói riêng được tóm gọn trong 5 từ “đồng”, cụ thể là: Đồng cảm, thấu hiểu; Đồng lòng nội bộ; Đồng bộ nỗ lực; Đồng thuận xã hội; Đồng sáng tạo tương lai.
Theo đó, đồng thuận xã hội không chỉ là kết quả mà còn là một điều kiện để các bên liên quan trong xã hội và ngoài thế giới chủ động, tự nguyện chung tay đồng sáng tạo tương lai- hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia, dân tộc. Đồng thuận là cơ sở cho huy động trí tuệ, nguồn lực cho quá trình công, bao gồm cả tài chính thông qua các cơ chế hợp tác công – tư.
Đồng thuận trong lãnh đạo có thể được hiểu là sự thống nhất về mục tiêu, nguyên tắc và định hướng hành động giữa các chủ thể lãnh đạo, cho phép hệ thống phát đi các tín hiệu chiến lược, chính sách nhất quán. Đây có thể xem là điều kiện trước nhất cho đồng thuận xã hội và niềm tin xã hội đối với tầm nhìn phát triển.
Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng, trong các hệ thống chính trị – hành chính phức hợp, sự đồng thuận trong nội bộ lãnh đạo không chỉ là yếu tố hỗ trợ mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa tầm nhìn. Về lý thuyết, vai trò của đồng thuận gắn liền với vấn đề chi phí điều phối trong hệ thống quản trị. Một hệ thống thiếu đồng thuận ở cấp lãnh đạo sẽ dẫn đến tín hiệu chính sách không nhất quán, làm gia tăng chi phí tuân thủ và giảm hiệu quả thực thi. Khi các chủ thể lãnh đạo theo đuổi các mục tiêu hoặc cách tiếp cận khác nhau, chi phí phối hợp tăng lên, làm chậm quá trình ra quyết định và giảm hiệu quả thực thi. Sự đồng thuận trong lãnh đạo giúp bảo đảm tính nhất quán và ổn định của chính sách. Tuy nhiên, đồng thuận quá mức cũng có thể dẫn đến tình trạng tư duy cóp nhặt, lắp ghép ý tưởng của các thành viên hay ý kiến của các cơ quan lại với nhau, dẫn đến suy giảm khả năng phản biện. Ngược lại, một mức độ đồng thuận đủ cao giúp giảm chi phí này và tạo điều kiện cho hành động tập thể.
Trong lãnh đạo tập thể, đồng thuận không đồng nghĩa với đồng nhất về quan điểm mà là sự thống nhất về mục tiêu và cam kết hành động, cho phép các khác biệt được giải quyết trong khuôn khổ chung, là kết quả của quá trình trao đổi, tranh luận và điều chỉnh lẫn nhau. Nói cách khác, đồng thuận không có nghĩa là đồng nhất tuyệt đối, mà là sự thống nhất về mục tiêu và nguyên tắc hành động, cho phép tồn tại khác biệt về cách thức.
Tuy nhiên, có một số nguy cơ thường xuất hiện bên cạnh các nỗ lực xây dựng sự đồng thuận lãnh đạo: việc theo đuổi sự hài hòa tuyệt đối có thể dẫn đến “đồng thuận hình thức”, nơi sự nhất trí bề ngoài che lấp các khác biệt thực chất, dẫn đến chất lượng quyết định thấp. Đồng thuận hiệu quả phải được xây dựng trên cơ sở tranh luận thực chất, minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Bên cạnh đó, có thể cũng rơi vào một dạng “bẫy đồng thuận”, trong đó hệ thống trở nên thận trọng quá mức, làm chậm quá trình ra quyết định và suy giảm khả năng hành động trong những bối cảnh đòi hỏi tính khẩn cấp hoặc đột phá. Điều này cho thấy rằng sự đánh đổi là không thể tránh khỏi; vấn đề đặt ra không phải là loại bỏ đánh đổi, mà là quản trị các đánh đổi đó một cách minh bạch, có cơ sở và nhất quán với định hướng phát triển dài hạn. Ngoài ra, đồng thuận không đồng nghĩa với né tránh trách nhiệm. Nếu quá coi trọng đồng thuận, hệ thống có thể rơi vào tình trạng chậm ra quyết định. Do đó, cần kết hợp giữa đồng thuận và cơ chế phân định trách nhiệm rõ ràng. Cuối cùng, đồng thuận cũng có thể trở thành một “con dao hai lưỡi” khi nó đạt được bằng cách loại bỏ hoặc làm suy yếu các ý kiến phản biện, hệ thống có nguy cơ rơi vào “tư duy bầy đàn” dẫn đến các quyết định thiếu sáng suốt.
Do đó, vấn đề không phải là tối đa hóa đồng thuận, mà là thiết lập được cơ chế đồng thuận có tranh luận – nơi các ý kiến khác biệt được thảo luận đầy đủ trước khi đi đến quyết định chung. Nghiên cứu về quản trị của Singapore cho thấy, đồng thuận trong nội bộ lãnh đạo được xây dựng thông qua các cơ chế thảo luận, tham vấn nội bộ chặt chẽ, đảm bảo vừa có tranh luận, vừa có thống nhất trước khi đưa ra công chúng, còn sau khi quyết định được đưa ra, hệ thống vận hành với mức độ thống nhất cao.
Để xây dựng và phát huy được đồng thuận trong lãnh đạo trong tổ chức quá trình hiện thực hóa tầm nhìn phát triển quốc gia đòi hỏi một số điều kiện như: (1) Cấu trúc thể chế, đặc biệt là các quy định phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; năng lực điều phối của các thiết chế trung tâm; cơ chế phối hợp, cơ chế báo cáo; phân định quyền tự quyết trong mối quan hệ với phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; (2) Văn hóa tổ chức của từng loại cơ quan và trong toàn hệ thống chính trị; không chỉ cải thiện cơ chế phối hợp nội bộ, mà còn xây dựng một “văn hóa tranh luận chính sách” lành mạnh, trong đó các ý kiến khác biệt được coi là nguồn lực để nâng cao chất lượng quyết định, thay vì là trở ngại đối với sự thống nhất. Do đó, vấn đề không phải là có hay không có đồng thuận mà là thiết kế được cơ chế tạo ra “đồng thuận có tranh luận” thông qua tăng cường tham vấn chính sách, mở rộng sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà nước và phát huy vai trò của các thiết chế tư vấn chiến lược, phát huy mạng xã hội và phát huy AI.
Ở nước ta, tầm nhìn phát triển đến năm 2045 là một mục tiêu dài hạn, vượt qua nhiều chu kỳ lãnh đạo và biến động bối cảnh nơi hệ thống lãnh đạo vận hành theo nguyên tắc tập thể, yêu cầu về đồng thuận càng trở nên quan trọng khi nếu thiếu sự đồng thuận chiến lược, các chính sách có thể bị gián đoạn, thay đổi hoặc thực thi không nhất quán giữa các cấp, các ngành. Do đó, thách thức nằm ở việc bảo đảm đồng thuận không chỉ ở cấp trung ương mà còn trong toàn bộ hệ thống nhiều cấp, nhiều ngành, trong khi cơ chế phối hợp liên ngành còn cần tiếp tục cải thiện.
4. Kết luận
Thực tế lãnh đạo công đặt ra vấn đề không phải là thiếu tầm nhìn mà là khoảng cách giữa tầm nhìn và cơ chế hiện thực hóa. Khoảng cách giữa tầm nhìn phát triển quốc gia và thực thi, nếu không được thu hẹp, sẽ làm suy giảm vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước và khiến tầm nhìn mất dần ý nghĩa thực tiễn. Khoảng cách này có thể xuất phát từ một số nguyên nhân, như: tầm nhìn chưa được chuyển hóa thành các hệ thống mục tiêu trung gian có thể đo lường; thiếu cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh; sự không đồng đều về năng lực thực thi giữa các cấp chính quyền;… Vì vậy, cần vận hành hệ sinh thái hoạt động hiện thực hóa tầm nhìn theo những nguyên tắc nhất định.
Chú thích:
1, 8. Trần Thị Thanh Thủy (2014). Lãnh đạo thông qua tầm nhìn. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 01/2014.
2. Mohammed bin Rashid Al Maktoum (2012). Tầm nhìn thay đổi quốc gia – Điều kỳ diệu ở Dubai. TP. Hồ Chí Minh. NXB Thế giới. tr. 9.
3. Trương Cộng Hòa, Trần Thị Vành Khuyên (2025). Khơi dậy động lực phụng sự của công chức trong bối cảnh cách mạng tinh gọn bộ máy hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 350 (tháng 3/2025), tr. 3 – 8.
4. Nguyễn Thanh Nghị, Nguyễn Đức Hiển (đồng chủ biên) (2026). Kinh tế Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026: Tạo lập nền tảng vững chắc cho đột phá tăng trưởng giai đoạn 2026-2030. Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương.
5. Trần Thu Trang (2024). Ra quyết định dựa trên dữ liệu trong khu vực công. Tạp chí Lãnh đạo và Chính sách, số 5 (tháng 6/2025), tr. 29-37.
6. Nguyễn Quốc Sửu (2025). Một số định hướng xây dựng hệ giá trị quốc gia trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Tạp chí Lãnh đạo và Chính sách, số 9 (tháng 5/2025), tr. 9 – 16.
7. Lương Thanh Cường (chủ biên) (2026). Xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả: Cơ sở lý luận, thực tiễn và định hướng chính sách (Sách chuyên khảo). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
9. Jie-Shin Lin và Po-Yu Lee (2011). Performance Management in Public Organizations: A Complexity Perspective. International Public Management Review. 12 (2), pp. 81 – 96.



