Development of the agriculture, forestry, and aquaculture sectors in Dak Lak province
TS. Nguyễn Xuân Hoản
Trường Đại học Đông Đô
GS.TS. Phạm Thị Mỹ Dung
Viện Khoa học Phát triển Nông thôn
(Quanlynhanuoc.vn) – Những năm qua, ngành nông lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Đắk Lắk phát triển khá nhanh; đóng vai trò “trụ đỡ” cho tăng trưởng kinh tế; góp phần bảo đảm an ninh lương thực, an sinh xã hội, đời sống của người dân địa phương. Bài viết đánh giá thực trạng phát triển, chỉ ra các tồn tại và đề xuất giải pháp nhằm phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới, như: tổ chức sản xuất; đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đầu tư cơ sở hạ tầng; tăng cường liên kết vùng và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh.
Từ khóa: Nông nghiệp, vùng chuyên canh, chuỗi giá trị, chính sách, Đắk Lắk.
Abstract: In recent years, the agriculture, forestry, and fisheries sectors in Dak Lak Province have developed quite rapidly; they have served as a “pillar” for economic growth; and have contributed to ensuring food security, social welfare, and the livelihoods of local residents. This article assesses the current state of development, identifies existing challenges, and proposes solutions to promote the development of Dak Lak Province’s agriculture, forestry, and fisheries sectors in the coming period, such as: organizing production; promoting the application of science and technology; improving the quality of human resources; infrastructure investment; strengthening regional linkages; and improving mechanisms and policies to promote the development of the province’s agriculture, forestry, and fisheries sectors.
Keywords: Agriculture, specialized farming areas, value chains, policies, Dak Lak.
1. Đặt vấn đề
Tỉnh Đắk Lắk (mới) có diện tích tự nhiên là 18.096,40 km²; trong đó, diện tích đất nông, lâm nghiệp của tỉnh là 16.142,23 km² (chiếm 89,18% tổng diện tích tự nhiên). Điều kiện đất đai, địa hình, thổ nhưỡng đa dạng với các vùng đồng bằng ven sông, đồi gò, cao nguyên; miền núi cao và vùng ven biển với đường bờ biển dài 193 km. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông tỉnh chủ yếu có khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương; cùng với nguồn lao động dồi dào, dân số trên 3,3 triệu người; hệ thống giao thông gồm đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển thuận lợi và thị trường vùng Tây Nguyên cùng duyên Hải Nam Trung Bộ rộng lớn tạo nhiều lợi thế cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh.
Những năm qua, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh đã phát triển nhanh và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần ổn định kinh tế – xã hội và nâng cao đời sống nông dân; cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh của ngành; chú trọng ứng dụng khoa học – công nghệ, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường1. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế cần có các giải pháp tháo gỡ để phát triển trong thời gian tới.
2. Thực trạng phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Đắk Lắk
Tỉnh Đắk Lắk có địa hình đa dạng với các vùng đồng bằng ven sông, đồi gò, cao nguyên và miền núi cao, vùng bờ biển dài và ngư trường rộng lớn; đã tạo nhiều lợi thế cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh2.
Giai đoạn 2021-2025, GRDP ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh tăng trưởng bình quân là 5,24 %/năm; chiếm trên 34% trong GRDP của tỉnh; tổng giá trị xuất khẩu đạt gần 9 tỷ USD. Cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần diện tích các cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp như ngô, khoai lang, sắn…; tăng diện tích trồng cây ăn quả và cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao; tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp; nhiều sản phẩm chủ lực tiếp tục được duy trì và phát triển. Hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung; chú trọng ứng dụng khoa học – công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm như cà phê, cao su, sầu riêng, các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, vật nuôi và thủy sản có giá trị cao như cá ngừ, tôm hùm, tôm thẻ3…
Bảng 1. Diện tích và sản lượng một số cây hàng năm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
giai đoạn 2020-2025
| STT | Loại cây trồng | Năm 2020 | Năm 2025 | ||
| Diện tích (ha) | Sản lượng (tấn) | Diện tích (ha) | Sản lượng (tấn) | ||
| 1 | Cây lúa | 162.370 | 1.106.934 | 171.637 | 1.272.091 |
| 2 | Cây ngô | 91.914 | 536.242 | 81.800 | 601.050 |
| 3 | Cây khoai lang | 8.589 | 147.256 | 5.655 | 118.300 |
| 4 | Cây sắn | 73.627 | 1.561.561 | 67.495 | 1.647.320 |
| 5 | Cây mía | 37.834 | 2.355.470 | 44.959 | 3.147.220 |
| 6 | Cây lạc | 5.702 | 8.375 | 5.500 | 10.872 |
| 7 | Cây đậu tương | 1.896 | 3.174 | 1.700 | 2.822 |
| 8 | Rau, đậu các loại | 49.082 | 424.309 | 49.554 | 448.402 |
| 9 | Cây hàng năm khác | 18.542 | – | 24.577 | – |
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, 2025.
Về lĩnh vực trồng trọt, năm 2025 tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của tỉnh đạt 452.877 ha, tăng 0,74% so với năm 2020 (449.556 ha). Trong đó: diện tích cây lúa, cây rau màu các loại tăng; diện tích cây ngô, khoai lang và cây sắn giảm. Tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh năm 2025 đạt 382.726 ha, tăng 8,7% so với năm 2020 (352.114 ha). Trong đó, diện tích cây cà phê và cây điều tăng, diện tích cây cao su và hồ tiêu giảm; diện tích cây ăn quả (sầu riêng, cây bơ, cây mắc ca) tăng.
Bảng 2. Diện tích và sản lượng một số cây lâu năm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2020-2025
| STT | Loại cây trồng | Năm 2020 | Năm 2025 | ||
| Diện tích (ha) | Sản lượng (tấn) | Diện tích (ha) | Sản lượng (tấn) | ||
| 1 | Cà phê | 210.092 | 509.156 | 214.421 | 588.094 |
| 2 | Cao su | 38.670 | 38.521 | 33.350 | 39.162 |
| 3 | Hồ tiêu | 33.559 | 77.552 | 28.340 | 82.041 |
| 4 | Điều | 26.722 | 28.252 | 27.550 | 40.353 |
| 5 | Cây ăn quả | 43.071 | – | 79.075 | – |
| Tổng số | 352.114 | – | 382.736 | – | |
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, 2025.
Công tác triển khai hỗ trợ, cấp mã số vùng trồng được quan tâm thực hiện; đến nay trên địa bàn tỉnh có 320 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích hơn 9.500 ha và 52 cơ sở đóng gói xuất khẩu; có 75 mã số vùng trồng nội địa với tổng diện tích 1.260,57 ha. Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 764 sản phẩm OCOP (gồm: 02 sản phẩm đạt 5 sao, 01 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao, 10 sản phẩm tiềm năng 4 sao và 656 sản phẩm đạt 3 sao)4.
Về lĩnh vực chăn nuôi, thời gian qua, chăn nuôi đã phát triển mạnh, đa dạng về chủng loại vật nuôi, quy mô chăn nuôi; thu hút nhiều công ty lớn đầu tư phát triển chăn nuôi tại địa phương như công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, công ty cổ phần chăn nuôi BAF, Công ty Japfa Comfeed Việt Nam, Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam, Công ty Cổ phần Nông nghiệp Trường Hải (Thaco Agri), Tập đoàn TH,… Có nhiều mô hình chăn nuôi trang trại quy mô lớn, hiện đại ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi heo, bò sữa, bò thịt, gia cầm… Tuy nhiên, chăn nuôi hộ gia đình, quy mô nhỏ vẫn là chủ yếu5.
Bảng 3. Tổng đàn và sản lượng một số vật nuôi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2020-2025
| STT | Loại vật nuôi | Năm 2020 | Năm 2025 | ||
| Tổng đàn (con) | Sản lượng (tấn) | Tổng đàn (con) | Sản lượng (tấn) | ||
| 1 | Đàn trâu, bò | 449.117 | – | 432.880 | 41.412 |
| 2 | Lợn | 989.611 | – | 1.088.290 | 224.104 |
| 3 | Gia cầm | 18.309.000 | – | 20.718.000 | 111.755 |
| Tổng số | 19.747.730 | – | 22.239.170 | 377.271 | |
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, 2025.
Năm 2025, quy mô đàn gia súc, gia cầm trên toàn tỉnh là 22.239,17 nghìn con, tăng 12,61% so với năm 2020 (19.747,73 nghìn con), trong đó: đàn trâu, bò giảm 3,62% so với năm 2020; đàn lợn tăng 9,97% so với năm 2020; đàn gia cầm tăng 13,16% so với năm 2020. Sản lượng trứng các loại năm 2025 đạt 813 triệu quả6.
Về lâm nghiệp, đến cuối năm 2025, tổng diện tích đất lâm nghiệp của toàn tỉnh là 1.053.857,5 ha, tỷ lệ che phủ rừng là 41,06%. Trong đó, diện tích đất có rừng là 743.171,0 ha; diện tích đất chưa thành rừng là 310.386,5 ha (đất đã trồng rừng nhưng chưa đạt tiêu chí thành rừng). Những năm gần đây, công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác và tái sinh rừng trên địa bàn tỉnh phát huy hiệu quả. Tình hình khai thác gỗ giữ nhịp ổn định, bảo đảm nguồn cung cho công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh.Năm 20257, sản lượng gỗ khai thác đạt 946.812 m³ (chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy); sản lượng củi là 387.533 m³…
Về nuôi trồng và khai thác thủy hải sản, năm 2025 diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt 8.599 ha. Sản lượng thủy sản toàn tỉnh đạt 114.529,90 tấn, tăng 2,64% so với năm 2024, trong đó sản lượng thủy sản khai thác (cá ngừ đại dương, tôm, cá các loại, mực,…) là 73.750,40 tấn; sản lượng thủy sản nuôi trồng thủy sản nước ngọt và nuôi lồng bè, bể bồn (tôm hùm, tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá bớp, cá mú, cá hồng, hàu,…) là 40.779,50 tấn và sản lượng sản xuất giống thủy sản đạt 1.257 triệu con8.
Bảng 4. Hiện trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
giai đoạn 2020-2025
| STT | Hạng mục | Đơn vị tính | Năm 2020 | Năm 2025 | Tăng trưởng BQ (%) |
| I | Nuôi trồng thủy sản | ||||
| 1.1 | Diện tích nuôi trồng | ha | 10.439 | 9.578 | -1,71 |
| 1.2 | Sản lượng nuôi trồng | Tấn | 32.642 | 40.211 | 4,26 |
| II | Khai thác thủy sản | ||||
| 2.1 | Tổng số tàu cá | Chiếc | 3.173 | 2.559 | -4,21 |
| 2.2 | Sản lượng khai thác | Tấn | 63.881 | 73.071 | 2,72 |
| III | Tổng sản lượng thủy sản | Tấn | 96.523 | 113.282 | 3,25 |
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, 2025.
Thời gian qua, cho thấy lĩnh vực thủy sản của tỉnh luôn duy trì ổn định và có chuyển biến tích cực trên cả ba trụ cột: nuôi trồng, khai thác và quản lý nhà nước. Hoạt động nuôi trồng vẫn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, nguồn nước và khả năng đầu tư của người nuôi. Hoạt động khai thác thủy sản đạt kết quả tích cực theo hướng giảm khai thác ven bờ, tăng cường khai thác vùng khơi; rà soát, sắp xếp lại đội tàu, đăng ký, đăng kiểm và kiểm soát điều kiện hoạt động của tàu cá; kiểm soát, ngăn chặn khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU); Công tác sản xuất giống thủy sản có chuyển biến rõ rệt, góp phần nâng cao tính chủ động về nguồn giống phục vụ phát triển nuôi trồng của tỉnh.
Những kết quả trên là cơ sở, nền tảng quan trọng cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Đắk Lắk vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế.
Thứ nhất, mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu ngành nông, lâm, thủy sản của tỉnh chuyển đổi chậm, giá trị gia tăng thấp. Tăng trưởng của ngành vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô sản xuất và gia tăng năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi và thủy sản; hàm lượng khoa học – công nghệ, chế biến sâu và giá trị thương hiệu trong sản phẩm còn hạn chế.
Thứ hai, quy mô sản xuất nông, lâm, thủy sản còn phân tán, nhỏ lẻ; kinh tế hộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn; vùng sản xuất tập trung thiếu tính thực chất; nhiều vùng được gọi là “tập trung” mới chỉ là sự liền kề về không gian giữa các cơ sở sản xuất, chưa thống nhất về giống, quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và đầu ra sản phẩm.
Thứ ba, doanh nghiệp và hợp tác xã chưa phát huy vai trò dẫn dắt. Kinh tế hộ vẫn là chủ thể sản xuất chính; mặc dù số lượng hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp tăng lên, song quy mô còn nhỏ, năng lực tổ chức sản xuất theo chuỗi, liên kết thị trường và quản trị còn hạn chế.
Thứ tư, chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ và xây dựng thương hiệu còn yếu. Nhiều nông sản vẫn được tiêu thụ ở dạng tươi hoặc sơ chế; khâu bảo quản, chế biến sâu và logistics sau thu hoạch chưa đáp ứng yêu cầu, dẫn đến giá trị gia tăng thấp và đầu ra thiếu ổn định, phụ thuộc nhiều vào thương lái.
Thứ năm, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số chưa được ứng dụng rộng rãi. Một số mô hình nông nghiệp ông nghệ cao, chuyển đổi số đã được triển khai nhưng chủ yếu ở quy mô thí điểm; việc quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường thông qua nền tảng số chưa trở nên phổ biến.
Thứ sáu, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ sản xuất chưa đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng nuôi trồng và khai thác thủy hải sản; năng lực chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và quản trị chuỗi giá trị còn hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển.
4. Một số giải pháp
4.1. Tổ chức sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản theo vùng sản xuất chuyên canh tập trung, liên kết chuỗi giá trị
Trọng tâm là quy hoạch và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh tập trung đối với các sản phẩm chủ lực như: cà phê, tiêu, điều, lúa, rau, cây ăn quả (sầu riêng, nhãn, vải), chăn nuôi gia súc (lợn, bò), gia cầm (gà, vịt), thủy sản (tôm hùm, tôm thẻ, nhuyễn thể),… từng bước hình thành các cụm kinh tế ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Thực hiện tái cơ cấu ngành thông qua rà soát, điều chỉnh cơ cấu cây trồng/vật nuôi (giảm cây trồng/vật nuôi hiệu quả kinh tế thấp, tăng diện tích cây trồng/vật nuôi có hiệu quả, giá trị kinh tế cao); nuôi trồng các loại thủy sản có hiệu quả, giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và thị trường.
Phát triển đa dạng các hình thức tổ chức sản xuất như tổ hợp tác, hợp tác xã, hình thành doanh nghiệp mới; thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học – công nghệ. Khuyến khích, hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp nông nghiệp có vai trò đầu tàu, đủ năng lực dẫn dắt chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ sản phẩm. Phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và thị trường tiêu thụ. Tăng cường liên kết chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi từ sản xuất, thu mua, chế biến đến tiêu thụ; trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt trong chuỗi giá trị.
4.2. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số
Để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất cần tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ trong các khâu then chốt như chọn tạo giống (cây trồng, vật nuôi, giống thủy sản); hoàn thiện quy trình sản xuất, bảo quản chế biến tiên tiến; ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa; chế biến sâu; logistics; xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại.
Trong trồng trọt, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo và nhân giống; sử dụng viễn thám, GIS, drone đa phổ để giám sát sinh trưởng, chẩn đoán dinh dưỡng và sâu bệnh; ứng dụng mạng cảm biến đất, vi khí hậu và IoT để phục vụ điều hành tưới tiêu, bón phân chính xác, giảm chi phí và phát thải.
Trong chăn nuôi, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống như thụ tinh nhân tạo, nuôi cấy và truyền phôi nhằm cải tạo đàn bò, lợn, gia cầm; đẩy mạnh nghiên cứu và sản xuất các chế phẩm sinh học, thuốc thú y và vắcxin; ứng dụng công nghệ chuồng lạnh, sử dụng hệ thống cho ăn, uống, dọn vệ sinh, kiểm soát thức ăn tự động;…
Trong lâm nghiệp, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại (như công nghệ sinh học, viễn thám, AI, IoT) vào quy trình trồng, quản lý, bảo vệ và chế biến lâm sản; sử dụng drone, ảnh vệ tinh và công nghệ viễn thám để khảo sát, theo dõi sự sinh trưởng của rừng, lập bản đồ và phát hiện sớm cháy rừng hoặc dịch bệnh,…
Trong ngành thủy sản, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến như quan trắc môi trường thông minh, AI/IoT quản lý ao nuôi, hệ thống tuần hoàn (RAS), công nghệ Biofloc (BFT) và lồng bè HDPE,… Trong khai thác thủy hải sản, sử dụng định vị vệ tinh, dò cá; áp dụng các thiết bị bảo quản sau thu hoạch để giữ chất lượng hải sản tốt nhất.
Ứng dụng đồng bộ công nghệ thông tin, AI và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi giá trị từ quản lý, tổ chức sản xuất, chế biến đến kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm. Chú trọng xây dựng và quản lý thương hiệu, nhãn hiệu, bao bì, mã số, mã vạch cho các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản chủ lực.
4.3. Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản lý
Phát triển nông nghiệp hiện đại đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản lý nhà nước. Trọng tâm là đào tạo lao động nông nghiệp số, kỹ sư nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn,… cán bộ công nghệ thông tin và AI; tập huấn cho nông dân chuyển sang sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, tuần hoàn. Đào tạo, bồi dưỡng chủ doanh nghiệp, nông dân và thợ giỏi có trình độ kỹ thuật, quản lý và marketing, hình thành các hạt nhân lan tỏa tại địa phương; chính họ trở thành các chủ thể dẫn dắt và vận hành các chuỗi giá trị nông, lâm, thủy sản. Kết hợp đào tạo trong nước với tham quan, học tập kinh nghiệm quốc tế.
Tăng cường đào tạo chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý, công chức và cán bộ khuyến nông, nhất là trong lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch, tư vấn kinh tế – kỹ thuật và pháp lý. Bố trí đội ngũ cán bộ có năng lực, tư duy hệ thống và sáng tạo làm công tác tham mưu lập quy hoạch, kế hoạch, xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và môi trường.
4.4. Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản
Tập trung nguồn lực triển khai các chương trình, dự án đầu tư cho cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất – kinh doanh như: đường giao thông, đường điện, hồ thủy lợi, cảng nghề cá, chuồng trại, ao hồ nuôi trồng thủy hải sản; kiên cố hóa kênh mương phục vụ tưới tiêu, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cảng cá trên địa bàn tỉnh; xây dựng, nâng cấp khu neo đậu, tránh trú bão cho tàu cá; đầu tư xây dựng chợ đầu mối, cơ sở chế biến, kho lạnh; đầu tư xây dựng các cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu cá kết hợp với các cảng cá nhằm đáp ứng nhu cầu đóng mới và sửa chữa tàu cá của tỉnh.
Hỗ trợ đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực cho một số cơ sở sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, giống thủy sản chủ lực; các cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản của tỉnh. Đầu tư xây dựng “Trung tâm đổi mới, sáng tạo về nông nghiệp, nông thôn tỉnh Đắk Lắk” làm đầu mối định hướng sản phẩm, thị trường và khoa học công nghệ; đầu tư xây dựng các khu, cụm, điểm công nghiệp chế biến, logistics liên quan đến sản xuất kinh doanh sản phẩm nông, lâm, thủy sản của tỉnh,…
Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ xúc tiến thương mại dưới nhiều hình thức: xây dựng trung tâm thương mại; khu triển lãm để quảng bá, kết nối thương mại trong nước và khu vực, quốc tế; xây dựng các website, các sàn thương mại điện tử, chợ online của tỉnh, ngành, doanh nghiệp… Tập trung, ưu tiên phát triển hạ tầng lâm nghiệp phục vụ công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và khai thác lâm sản trên địa bàn tỉnh,…
4.5. Tăng cường liên kết vùng và phối hợp trong phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản
Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường với các địa phương trong vùng; với các cơ quan, ban ngành ở trung ương và địa phương trong công tác quy hoạch, xây dựng và triển khai các chương trình, đề án, dự án phát triển nông, lâm, thủy sản và bảo vệ môi trường; tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện. Đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong xây dựng, thẩm định và triển khai các chính sách, chương trình phát triển nông, lâm, thủy sản; kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh. Tăng cường hợp tác với các bộ, ngành Trung ương trong huy động nguồn lực, triển khai các chương trình, dự án ứng dụng khoa học công nghệ và xúc tiến thương mại sản phẩm.
Mở rộng hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, chế biến sâu, logistics, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại. Tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp để phát triển chuỗi giá trị; thúc đẩy mô hình liên kết “4-5 nhà”. Đẩy mạnh liên kết vùng với các địa phương trong vùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước trong phát triển vùng nguyên liệu, cung ứng dịch vụ đầu vào, thu mua, chế biến và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; đồng thời phối hợp quản lý chất lượng vật tư và an toàn thực phẩm.
4.6. Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy đầu tư vào ngành nông, lâm, thủy sản
Rà soát, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách của trung ương và tỉnh nhằm tháo gỡ các rào cản đối với đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản và ngành nghề nông thôn. Ban hành các chính sách ưu đãi đặc thù về đất đai, tín dụng, công nghệ cao, xúc tiến thương mại và đào tạo nhân lực. Xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư theo chuỗi giá trị, hỗ trợ tích tụ đất đai, phát triển sản xuất quy mô lớn theo hướng hỗ trợ sau đầu tư. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi để các đối tượng liên quan được thụ hưởng chính sách.
Tổ chức thực hiện hiệu quả quy hoạch phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn 2050; bảo đảm định hướng phát triển dài hạn, bền vững, khai thác tối đa tiềm năng và nâng cao vị thế nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Đắk Lắk trong vùng và cả nước.
5. Kết luận
Phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Đắk Lắk theo hướng nhanh và bền vững nhằm đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản; bảo vệ môi trường; đảm bảo an sinh xã hội và đời sống cho người dân. Tỉnh Đắk Lắk hiện nay có lợi thế về đất đai, bờ biển, khí hậu, lao động và thị trường; có tiềm năng phát triển các vùng chuyên canh tập trung và các mô hình nông, lâm nghiệp và thủy sản bền vững như trồng cây công nghiệp (cà phê, cao su, hạt tiêu,…); cây ăn quả (sầu riêng, ca cao, mắc ca,…); chăn nuôi gia súc, gia cầm; nuôi trồng thủy hải sản ao hồ và ven bờ; khai thác, đánh bắt hải sản vùng khơi.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, tỉnh Đắk Lắk cần triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, trong đó các giải pháp đột phá là: (1) Tổ chức lại mô hình sản xuất (lập và thực hiện quy hoạch vùng sản xuất chuyên canh tập trung, tái cơ cấu sản phẩm, phát triển chuỗi giá trị gắn với chế biến sâu và xây dựng thương hiệu). (2) Đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ – chuyển đổi số. (3) Nâng cao hiệu quả việc phối hợp, liên kết vùng. (4) Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản lý phát triển nông nghiệp, nông thôn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm trên sẽ tạo nền tảng để nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Đắk Lắk chuyển sang phát triển theo chiều sâu, hiệu quả, nhanh và bền vững, từng bước trở thành trung tâm nông, lâm nghiệp và thủy sản sinh thái, công nghệ cao của vùng Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ.
Chú thích:
1. Tỉnh ủy Đắk Lắk (2025). Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
2. Bùi Thị Hải Nhung (2009). Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp – Số 4 năm 2009, tr. 15 – 24.
3, 5. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk (2025). Báo cáo tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới tỉnh Đắk Lắk.
4, 6, 7. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk (2025). Báo cáo đánh giá Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2025; Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026 – 2030 của ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk.
8. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk (2026). Báo cáo về việc phối hợp triển khai lập điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đối với các nội dung liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
9. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk (2025). Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk.
Tài liệu tham khảo:
1. UBND tỉnh Đắk Lắk (2025). Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
2. Phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững tại tỉnh Đắk Lắk. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/12/19/phat-trien-nong-nghiep-theo-huong-ben-vung-tai-tinh-dak-lak/



