Vận dụng phương pháp luận toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin trong đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị ở Việt Nam

Applying the comprehensive methodology of Marxism-Leninism to the reform and restructuring of the organizational apparatus of Vietnam’s political system

ThS. Nguyễn Phương Thùy
Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ việc vận dụng phương pháp luận toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin trong phân tích chủ trương đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở khẳng định quan điểm toàn diện là nguyên tắc nhận thức và hành động khoa học, bài viết chỉ ra việc đổi mới bộ máy phải được đặt trong chỉnh thể thống nhất giữa tổ chức, phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực, thể chế và con người. Cách tiếp cận này góp phần khắc phục tư duy phiến diện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, qua đó, tạo nền tảng đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Chủ nghĩa Mác – Lênin; hệ thống chính trị; quan điểm toàn diện; Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; tinh gọn bộ máy.

Abstract: The article clarifies the application of the comprehensive methodology of Marxism – Leninism in analyzing the policy of reforming and consolidating the organizational apparatus of the political system in the spirit of the 14th National Congress of the Communist Party. On the basis of affirming the comprehensive viewpoint as a scientific principle of cognition and action, the author argues that organizational reform must be placed within a unified whole encompassing structure, decentralization and delegation of authority, power control, institutions, and human resources. This approach helps overcome one-sided thinking, enhance the effectiveness and efficiency of governance, and thereby create a foundation for rapid and sustainable national development in the new period.

Keywords: Marxism – Leninism; political system; comprehensive viewpoint; Documents of the 14th National Congress; streamlining the organizational apparatus.

1. Đặt vấn đề

Gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã mang lại cho Việt Nam những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng và động lực để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn bộc lộ không ít hạn chế, như: cồng kềnh, chồng chéo chức năng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thực hiện những cải cách mang tính căn bản, hướng tới xây dựng một hệ thống chính trị tinh gọn, vận hành thông suốt và hiệu quả. Bên cạnh đó, những bất cập trong phân công, phân cấp, phân quyền và sự thiếu đồng bộ trong tổ chức bộ máy đòi hỏi phải có cách tiếp cận mang tính hệ thống, dựa trên nền tảng lý luận vững chắc và phù hợp với thực tiễn phát triển.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện bước tiến mới trong tư duy khi nhấn mạnh yêu cầu tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; đồng thời, bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương. Quan điểm này không chỉ là định hướng cải cách hành chính mà còn phản ánh sự phát triển trong nhận thức lý luận về tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước theo hướng khoa học, hiện đại.

Để triển khai hiệu quả chủ trương nêu trên, việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là phương pháp luận toàn diện của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa quan trọng. Phương pháp này cho phép xem xét các vấn đề trong mối liên hệ tổng thể, qua đó, khắc phục cách tiếp cận phiến diện, cục bộ trong tổ chức và vận hành hệ thống chính trị. Từ cách tiếp cận đó, bài viết tập trung làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phương pháp luận toàn diện; đồng thời, phân tích sự vận dụng phương pháp này trong chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.

2. Phương pháp luận toàn diện theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp luận giữ vị trí trung tâm, bởi nó không chỉ quy định cách thức con người nhận thức thế giới mà còn định hướng cho hoạt động cải biến thế giới đó. Với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác – Lênin đã thiết lập sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, trong đó phép biện chứng duy vật giữ vai trò hạt nhân. Trên nền tảng ấy, quan điểm toàn diện không phải là một yêu cầu mang tính kinh nghiệm đơn giản, mà là sự cụ thể hóa tất yếu của thế giới quan biện chứng, dựa trên hai nguyên lý cơ bản: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.

Phương pháp luận toàn diện trước hết được hình thành thông qua sự phê phán triệt để phương pháp tư duy siêu hình. Cách tiếp cận siêu hình, như Ph. Ăngghen đã chỉ ra, xem các sự vật và khái niệm như những thực thể riêng biệt, bất biến và tách rời: “Đối với nhà siêu hình học thì những sự vật và sự phản ánh của chúng trong tư duy, tức là những khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia”1. Chính cách nhìn này đã dẫn đến nguồn gốc của những sai lầm nhận thức mang tính phiến diện, khi tuyệt đối hóa tính độc lập của sự vật và làm mất đi bản chất liên hệ vốn có của thế giới.

Tiếp tục phê phán hạn chế đó, Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”2. Trái lại, phép biện chứng được xác lập như một phương pháp nhận thức khoa học khi “xem xét những sự vật và phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”3. Từ đó, nguyên tắc toàn diện được khẳng định như một yêu cầu tất yếu, xuất phát từ chính bản chất khách quan của thế giới. Thế giới tồn tại như một chỉnh thể thống nhất của các mối liên hệ, do đó, nhận thức khoa học phải tái hiện được mạng lưới liên hệ đó trong tư duy. Trên cơ sở này, Ph. Ăngghen đã khái quát bản chất của phép biện chứng là “khoa học về các mối liên hệ”4.

Tư tưởng về tính toàn diện tiếp tục được V.I. Lênin phát triển khi  nhấn mạnh: “… tư tưởng về mối liên hệ phổ biến, toàn diện, sống của tất cả với tất cả, và sự phản ánh của mối liên hệ ấy… trong những khái niệm của con người; những khái niệm này cũng phải được mài sắc, gọt dũa, mềm dẻo, năng động, tương đối, liên hệ với nhau, thống nhất trong những đối lập, để có thể bao quát vũ trụ”5. Ở đây, V.I. Lênin không chỉ khẳng định tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính “sống”, tức là tính vận động và biến đổi không ngừng của chúng; đồng thời, khẳng định: “Mỗi một khái niệm nằm trong một mối quan hệ nào đó, trong một mối liên hệ nào đó với tất cả các khái niệm khác”6 và “những quan hệ của mỗi sự vật, (hiện tượng…) không những là muôn vẻ mà còn là phổ biến, toàn diện. Mỗi sự vật (hiện tượng, quá trình…) đều liên hệ với mỗi sự vật khác”7. Những luận điểm này cho thấy, tính toàn diện không phải là sự lựa chọn chủ quan mà là sự phản ánh tất yếu của cấu trúc khách quan của thế giới.

Tuy nhiên, V.I. Lênin cũng cảnh báo nguy cơ của chủ nghĩa chiết trung khi tiếp cận nguyên tắc này một cách máy móc. Từ đó, ông khái quát yêu cầu phương pháp luận: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc”8.

Quan điểm toàn diện không tồn tại một cách độc lập mà luôn gắn liền với quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử – cụ thể. Một cách tiếp cận toàn diện đích thực không chỉ đòi hỏi xem xét sự vật trong tổng thể các mối liên hệ của nó mà còn phải đặt trong quá trình vận động, biến đổi và bối cảnh lịch sử – xã hội cụ thể mà nó tồn tại. Nếu chỉ nhìn nhận sự vật theo quan điểm toàn diện nhưng tách rời sự phát triển thì sẽ có một cách nhìn tĩnh tại, không thấy được những quy luật vận động và thay đổi của sự vật, từ đó, rơi vào tư duy bảo thủ, trì trệ. Nếu chỉ vận dụng quan điểm toàn diện mà không xét đến hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, sẽ có một cách nhìn chung chung, giáo điều, áp dụng máy móc các kết luận lý luận mà không phù hợp với thực tiễn. Một cách tiếp cận thực sự toàn diện không thể tách rời sự phát triển và bối cảnh lịch sử – cụ thể của sự vật, đây chính là sự biện chứng trong phương pháp luận của triết học Mác – Lênin.

Từ cách tiếp cận phương pháp luận toàn diện như đã phân tích, có thể thấy, việc nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn không thể tách rời khỏi việc đặt chúng trong tổng thể các mối liên hệ kinh tế, chính trị, xã hội và lịch sử cụ thể. Đặc biệt, đối với lĩnh vực tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị, yêu cầu toàn diện không chỉ dừng lại ở việc xem xét từng bộ phận riêng lẻ mà đòi hỏi phải nhìn nhận toàn bộ cấu trúc, cơ chế vận hành và sự tương tác giữa các yếu tố trong một chỉnh thể thống nhất; đồng thời, xác định đúng những khâu then chốt, những mối liên hệ mang tính quyết định để tạo ra sự chuyển biến thực chất. Chính trên cơ sở quán triệt sâu sắc phương pháp luận đó, Đảng đã không ngừng đổi mới tư duy và đề ra những chủ trương phù hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị. Trong bối cảnh mới, tinh thần này tiếp tục được thể hiện rõ nét trong các định hướng và giải pháp được xác lập tại Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là trong chủ trương đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

3. Vận dụng phương pháp luận toàn diện vào chủ trương đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Ngay từ năm 1989, Nghị quyết số 06-NQ/HNTW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI) đã nhấn mạnh vấn đề đổi mới tư duy, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, sắp xếp bộ máy tinh gọn và mở rộng kinh tế đối ngoại. Tiếp đó, trong các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh nhiệm vụ tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.

Ngày 25/10/2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết đề ra mục tiêu: tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải cách chính sách tiền lương.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các chủ trương trước đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cho thấy, bước tiến rõ nét về tính toàn diện trong tư duy và chỉ đạo đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Nếu như các giai đoạn trước chủ yếu tập trung vào yêu cầu “tinh gọn” và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, thì đến Đại hội XIV, vấn đề này được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, gắn kết chặt chẽ giữa tổ chức bộ máy với thể chế, con người và cơ chế vận hành quyền lực.

Đánh giá về cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, Văn kiện Đại hội XIV nhận định: “Việc đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đạt được kết quả quan trọng. Đặc biệt là từ tháng 10/2024, kế thừa kết quả thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, qua đó, một số kết quả nổi bật là: (1) Hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng vũ trang, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước từ Trung ương đến địa phương được sắp xếp, tổ chức lại đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; giảm các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương, cấp tỉnh, đầu mối bên trong và biên chế với quy mô lớn, góp phần tiết kiệm chi thường xuyên rất lớn, tăng chi đầu tư phát triển và an sinh xã hội. (2) Sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện, thống nhất vận hành hệ thống hành chính 3 cấp (Trung ương, tỉnh, xã). (3) Ban hành đồng bộ các chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các cơ quan, tổ chức và chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị tác động trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, tạo cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc cho việc triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn9.

Quan điểm về tổ chức, kiện toàn bộ máy của hệ thống chính trị đã được nâng lên thành một chỉnh thể biện chứng và được soi chiếu dưới góc nhìn của phương pháp luận toàn diện.

Một là, tính toàn diện thể hiện ở phạm vi tác động rộng khắp, bao trùm toàn bộ hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Việc sắp xếp không còn mang tính cục bộ, riêng lẻ mà được triển khai đồng bộ, liên thông, hướng tới khắc phục triệt để tình trạng phân tán, chồng chéo trong tổ chức và hoạt động. Vận dụng phương pháp luận toàn diện của chủ nghĩa Mác-Lênin cho thấy, bộ máy không phải là tổng số cơ học của các cơ quan, mà là một hệ thống cấu trúc, trong đó mỗi yếu tố chỉ có ý nghĩa khi nằm trong quan hệ chức năng với toàn bộ. Do đó, tinh gọn không thể hiểu như sự cắt giảm đơn thuần về số lượng mà là quá trình tổ chức lại các mối liên hệ nhằm đạt tới một cấu trúc hợp lý hơn, nơi chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm được phân định rõ ràng; đồng thời, loại bỏ những “điểm nghẽn” trong dòng vận động của quyền lực và quản lý. Tinh gọn chính là sự biểu hiện cụ thể của nguyên tắc toàn diện ở cấp độ tổ chức: làm cho hệ thống phản ánh đúng hơn tính chỉnh thể và tính hợp lý nội tại của nó. Đảng khẳng định, đây chính là sự đột phá, đổi mới tư duy trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, thực sự là cuộc cách mạng “sắp xếp lại giang sơn”.

Hai là, chủ trương của Đại hội XIV không dừng lại ở việc thu gọn đầu mối, giảm biên chế mà gắn chặt với đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền và kiểm soát quyền lực. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong tổng thể các mối liên hệ của nó, vì vậy, việc đổi mới tổ chức bộ máy không thể tách rời khỏi cơ chế phân bổ và kiểm soát quyền lực. Đây là bước phát triển quan trọng, bảo đảm sự cân đối giữa tính chủ động, sáng tạo của địa phương với yêu cầu quản lý thống nhất của trung ương, qua đó, nâng cao hiệu quả vận hành của toàn hệ thống.

Việc gắn tinh gọn bộ máy với phân cấp, phân quyền cho thấy, sự nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa “hình thức tổ chức” và “nội dung quyền lực”. Nếu chỉ thu gọn đầu mối mà không tái cấu trúc quyền lực thì nguy cơ tập trung quá mức hoặc phân tán thiếu kiểm soát đều có thể xảy ra, làm suy giảm hiệu lực quản trị. Do đó, phân cấp, phân quyền trở thành những khâu trung gian quan trọng, bảo đảm cho bộ máy sau khi sắp xếp có thể vận hành thực chất, hiệu quả. Phân cấp, phân quyền cũng không tồn tại biệt lập mà nằm trong mối liên hệ biện chứng với kiểm soát quyền lực. Việc mở rộng quyền tự chủ cho địa phương tất yếu phải đi đôi với cơ chế giám sát, kiểm tra và ràng buộc trách nhiệm rõ ràng: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với phương châm: địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”10. Đây chính là sự thống nhất giữa trao quyền và kiểm soát quyền lực, giữa tính năng động, sáng tạo với kỷ luật, kỷ cương, những yếu tố tưởng chừng đối lập nhưng lại bổ sung cho nhau trong một chỉnh thể thống nhất.

Bên cạnh đó, cách tiếp cận toàn diện còn thể hiện ở sự kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu của quyền lực nhà nước. Nếu phân cấp mở rộng không gian thực thi quyền lực theo lãnh thổ, thì phân quyền lại làm rõ nội dung, thẩm quyền và trách nhiệm trong từng cấp, từng khâu. Sự kết hợp này giúp khắc phục tình trạng vừa chồng chéo, vừa bỏ trống chức năng, vốn là một hạn chế kéo dài trong tổ chức bộ máy trước đây. Quan trọng hơn, việc đặt phân cấp, phân quyền trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị còn cho thấy, sự gắn kết giữa tổ chức bộ máy với các yếu tố thể chế, con người và điều kiện thực thi. Điều này phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc toàn diện là không chỉ nhận diện đầy đủ các yếu tố cấu thành mà còn phải xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa chúng.

Chủ trương của Đại hội XIV của Đảng không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật quản lý mà là sự tái cấu trúc quyền lực trên nền tảng nhận thức toàn diện, góp phần bảo đảm cho hệ thống chính trị vận hành đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả trong điều kiện phát triển mới.

Ba là, sự kết hợp chặt chẽ giữa sắp xếp tổ chức bộ máy với hoàn thiện hệ thống thể chế và chính sách liên quan. Việc ban hành đồng bộ các quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã tạo nền tảng pháp lý và điều kiện thực thi vững chắc, khắc phục tình trạng cải cách nửa vời hoặc thiếu tính bền vững trước đây.

Dưới góc nhìn của phương pháp luận toàn diện, nội dung này thể hiện rõ yêu cầu cải cách đồng bộ giữa tổ chức bộ máy, thể chế và con người. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi không tách rời các yếu tố này, bởi bộ máy chỉ vận hành hiệu quả khi được bảo đảm bằng khuôn khổ pháp lý rõ ràng và đội ngũ thực thi phù hợp. Việc gắn sắp xếp tổ chức với hoàn thiện thể chế giúp thống nhất giữa “hình thức” và “quy định”, khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu căn cứ pháp lý. Đồng thời, ban hành chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức tạo điều kiện thực thi và ổn định tâm lý, bảo đảm cải cách không mang tính hình thức. Sự kết hợp này cho thấy, cách tiếp cận toàn diện trên cả ba phương diện: tổ chức – thể chế – con người, qua đó, nâng cao tính đồng bộ, hiệu quả và bền vững của quá trình đổi mới hệ thống chính trị.

Bốn là, tính toàn diện còn được thể hiện ở việc gắn đổi mới tổ chức bộ máy với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân. Việc tinh gọn bộ máy đi đôi với tiết kiệm chi thường xuyên, tăng nguồn lực cho đầu tư phát triển và an sinh xã hội cho thấy, cách tiếp cận không tách rời giữa tổ chức bộ máy và hiệu quả phát triển tổng thể của đất nước.

Nguyên tắc toàn diện yêu cầu không xem tổ chức bộ máy như một cấu trúc hành chính thuần túy mà là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh và đời sống Nhân dân. Việc tinh gọn bộ máy đi đôi với cơ cấu lại nguồn lực cho thấy, sự kết nối giữa “cải cách tổ chức” và “hiệu quả phát triển”. Giảm chi thường xuyên không chỉ là mục tiêu kỹ thuật mà còn tạo dư địa để tăng đầu tư cho phát triển và an sinh xã hội. Đây chính là biểu hiện của việc xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tiết kiệm và phát triển, giữa trước mắt và lâu dài.

Đồng thời, cách tiếp cận này còn thể hiện sự gắn kết giữa ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế – xã hội. Một bộ máy tinh gọn, hiệu lực không chỉ nâng cao năng lực quản trị mà còn củng cố niềm tin của xã hội, tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Như vậy, từ phương diện toàn diện, đổi mới tổ chức bộ máy không phải là mục tiêu tự thân mà là phương tiện để tối ưu hóa hiệu quả phát triển tổng thể, bảo đảm sự hài hòa giữa các lĩnh vực và hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

So với các giai đoạn trước, chủ trương Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện rõ tính toàn diện cả về nhận thức và hành động: từ phạm vi, nội dung đến phương thức triển khai và mục tiêu hướng tới. Đây chính là biểu hiện sinh động của việc vận dụng nguyên tắc toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thực tiễn đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.

4. Một số kiến nghị

Một là, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, ít đầu mối, không trùng lắp, không chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Thực hiện rà soát, tổ chức lại đơn vị có chức năng, nhiệm vụ trùng lặp, loại bỏ tầng nấc trung gian. Song song với việc sắp xếp, cần quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, bảo đảm “một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ”, tránh tình trạng lạm quyền hoặc trốn tránh trách nhiệm.

Hai là, xây dựng cơ chế vận hành của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị bảo đảm thống nhất, thông suốt, nhanh nhạy, hiệu lực, hiệu quả. Các mối quan hệ ngang, dọc giữa các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, mối quan hệ lãnh đạo, quản lý giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân người đứng đầu và tập thể, quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức cùng cấp… phải được xác định hợp lý, đồng bộ, nhịp nhàng. Chú trọng chuyển đổi quy trình nội bộ cũng như mối quan hệ giữa các cấp, cơ quan, tổ chức trong bộ máy trên cơ sở ứng dụng công nghệ số.

Ba là, tăng cường, đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương theo hướng bảo đảm quản lý thống nhất của trung ương; đồng thời, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Phân cấp, phân quyền phải rành mạch, rõ việc, rõ địa chỉ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm. Phân định nhiệm vụ phải gắn với thẩm quyền và trách nhiệm tương ứng, phù hợp với điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị, vùng núi, hải đảo và với đặc thù của từng ngành, lĩnh vực kinh tế – xã hội. Phân cấp, phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải bảo đảm điều kiện cần thiết về nguồn lực tài chính – ngân sách, nguồn nhân lực và điều kiện cần thiết khác. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhưng phải gắn với cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Bốn là, tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, thực tài, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn không đơn thuần là cắt giảm số lượng, mà còn phải chú trọng cải thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ, bảo đảm mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải có đủ trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc cũng như có đầy đủ phẩm chất đạo đức, tâm huyết, trách nhiệm. Đồng thời, phải xác định biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh, xây dựng cơ chế đánh giá minh bạch, khoa học, dựa trên kết quả công việc cụ thể nhằm khích lệ người làm việc tốt; đồng thời, loại bỏ cá nhân không đáp ứng yêu cầu, qua đó, nâng cao hiệu suất công việc.

Năm là, đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị phải bảo đảm thu hút, mở rộng sự tham gia và vai trò giám sát của người dân; tăng cường, củng cố mối quan hệ mật thiết với Nhân dân, phát huy quyền làm chủ thực sự của Nhân dân. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Đảng xác định là tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh; củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chú trọng đặt quyền lợi của người dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối với mục đích cuối cùng là người dân được thụ hưởng thành quả của sự nghiệp cách mạng.

5. Kết luận

Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị không chỉ là cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, mà còn là cuộc cách mạng thay đổi tư duy với tầm nhìn và nhận thức mới. Chính bởi vậy, đây cũng là cuộc cách mạng đầy khó khăn, thách thức, phức tạp, cam go và có cả sự cản trở, đòi hỏi bản lĩnh, ý chí, trí tuệ, đoàn kết, thống nhất, sự dấn thân, dũng cảm và hy sinh của công chức, viên chức cũng như của các cán bộ lãnh đạo. Quán triệt và vận dụng nhất quán phương pháp luận toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị, mà còn tạo nền tảng tư duy và động lực thực tiễn để Việt Nam bước vào một kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên của quản trị hiện đại, phát triển nhanh và bền vững, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chú thích:
1, 2, 3, 4. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 36, 38, 38, 38.
5, 6, 7. V.I. Lênin toàn tập (1980). Tập 29. H. NXB Tiến bộ Mátxcơva, tr. 155 -156, 210, 239.
8.  V.I. Lênin toàn tập (1977). Tập 42. H. NXB Tiến bộ Mátxcơva, tr. 364.
9, 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 60 – 61, 128.
Tài liệu tham khảo:
1. Phạm Văn Đức (2025). Chủ nghĩa duy vật biện chứng: nguyên lý cơ bản và những đề xuất, bổ sung từ thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh mới. H. NXB Đại học sư phạm.
2. Nguyễn Ngọc Hà (2019). Bàn về phương pháp nhận thức. H. NXB. Khoa học xã hội.
3. Quán triệt nguyên tắc khách quan và quan điểm toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh – yêu cầu quan trọng hàng đầu trong đánh giá, bổ nhiệm đúng cán bộ. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/821650/quan-triet-nguyen-tac-khach-quan-va-quan-diem-toan-dien-theo-tu-tuong-ho-chi-minh—yeu-cau-quan-trong-hang-dau-trong-danh-gia%2C-bo-nhiem-dung-can-bo.aspx