Political training in the military, 1952 – 1953: applicable value in current political and ideological work
Thượng tá, TS. Hoàng Văn Vân
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, việc chỉnh huấn chính trị có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững bản chất giai cấp của Đảng trong Quân đội. Bài viết làm rõ những vấn đề cơ bản về chính huấn chính trị trong Quân đội giai đoạn 1952-1953. Qua đó cho thấy, chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Những chủ trương của Đảng về chỉnh huấn chính trị trong Quân đội giai đoạn 1952 – 1953 có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Chỉnh huấn chính trị; Quân đội; giai đoạn 1952-1953; công tác tư tưởng.
Abstract: To build a politically strong army, political re-education plays a particularly important role in maintaining the class nature of the Party within the Army. This article clarifies the basic issues of political re-education in the Army during the 1952-1953 period. Through this, we can see the correct and creative leadership and guidance of our Party in building a strong army that is politically, ideologically, and organizationally strong. The Party’s policies on political re-education in the Army during the 1952-1953 period have profound theoretical and practical value for building a politically strong Vietnam People’s Army today.
Keywords: Political re-education; the Army; the period 1952-1953; ideological work.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, lấy vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, luôn là nguyên tắc cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử cách mạng, cuộc vận động Chỉnh huấn chính trị những năm 1952 – 1953 thể hiện tầm nhìn chiến lược và nghệ thuật lãnh đạo công tác tư tưởng sắc bén của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ lịch sử cho thấy, thực tiễn phát triển của quân đội và rút ra những giá trị sâu sắc để vận dụng vào việc nâng cao hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.
2. Tính tất yếu lịch sử của cuộc chỉnh huấn chính trị (1952 – 1953)
Sau chiến thắng Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân ta đã thoát khỏi thế bị bao vây, cô lập và bước sang một giai đoạn mới. Ta giành được quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, đồng thời bắt đầu tiếp nhận sự chi viện quý báu từ các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cục diện chiến tranh cũng ngày càng trở nên gay go, khốc liệt khi thực dân Pháp dưới sự tiếp sức và can thiệp sâu của đế quốc Mỹ, đã ráo riết thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Chúng không ngừng tăng cường viện trợ quân sự, đẩy mạnh bắt lính, phát triển ngụy quân, liên tiếp mở các cuộc càn quét lớn nhằm bình định hậu phương.
Trước tình hình đó, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 02/1951) đã xác định rõ ba nhiệm vụ cơ bản: “a) Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, làm cho Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập (phản đế); b) Xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân (phản phong kiến); c) Gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”1. Đây là ba nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong các nhiệm vụ này, Đảng khẳng định “nhiệm vụ cấp bách nhất của Đảng ngày nay là phải đưa kháng chiến đến thắng lợi”2 và để hoàn thành được mục tiêu đó thì “quân đội chính quy đóng vai trò quyết định”3. Yêu cầu xây dựng quân đội mạnh về mọi mặt, trước hết là vững mạnh về chính trị, tư tưởng làm “nòng cốt” trở thành đòi hỏi cấp bách hơn bao giờ hết.
Mặc dù đội ngũ cán bộ quân đội về cơ bản đều có lòng yêu nước, tinh thần xả thân, dũng cảm chiến đấu, song do tính chất kéo dài và khốc liệt của chiến tranh, cùng với sự tác động của những yếu tố khách quan, chủ quan, tư tưởng của một bộ phận không nhỏ cán bộ bắt đầu bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận thấy, đa số cán bộ xuất thân từ thành phần tiểu tư sản, nông dân, chưa được rèn luyện, cải tạo tư tưởng một cách căn cơ, hệ thống, lại ít có điều kiện học tập chính trị, lý luận. Chính vì vậy, trong những năm 1952 – 1953, tư tưởng tiêu cực đã xuất hiện dưới nhiều hình thức rất nguy hiểm: hoang mang, dao động trước sự đánh phá của địch; ngại khó khăn, gian khổ, sợ hy sinh; hoài nghi về sức mạnh của quân đội và về tiền đồ thắng lợi của cách mạng. Một số cán bộ có biểu hiện chấp hành mệnh lệnh không nghiêm, báo cáo sai sự thật để né tránh nhiệm vụ; hoặc nảy sinh tâm lý chủ quan, nôn nóng, quan liêu, độc đoán chuyên quyền, xa rời quần chúng, thậm chí tham ô, lãng phí. Một bộ phận cán bộ “ý chí tranh đấu chưa vững chắc, dễ lung lay, ngại khó khăn gian khổ, dễ thì làm, gặp khó thì giao động, còn nhiều hiện tượng thắng kiêu, bại nản”4. Thực trạng tư tưởng này nếu không kịp thời uốn nắn, khắc phục sẽ làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh chính trị tinh thần – nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh cách mạng.
Nhận thức rõ điều đó, tháng 4/1952, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa II) đã khẳng định: “Công tác chỉnh quân, cụ thể là chỉnh huấn chính trị, đi đôi với công tác chỉnh Đảng, là một nhiệm vụ trung tâm hết sức quan trọng”5. Đây là khâu đột phá, mang tính tất yếu lịch sử nhằm cải tạo lập trường tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, xây dựng và củng cố nhân tố chính trị, tinh thần cho những trận quyết chiến chiến lược để đi đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
3. Chủ trương và sự chỉ đạo sắc bén của Đảng trong thực hành chỉnh huấn chính trị
Chủ trương chỉnh huấn chính trị của Đảng trong Quân đội giai đoạn 1952 – 1953 không phải là một chiến dịch bề nổi, ngắn hạn mà là một cuộc vận động chính trị sâu rộng, có hệ thống, được chuẩn bị hết sức chu đáo từ cấp Trung ương đến các đơn vị cơ sở. Quan điểm xuyên suốt của Đảng về chỉnh huấn chính trị phải kết hợp “việc giáo dục và cải tạo tư tưởng làm trọng tâm”6. Lấy giáo dục chính trị, cải tạo và nâng cao lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân làm gốc; lấy cán bộ làm trọng tâm, từ đó lan tỏa đến toàn thể đảng viên và chiến sĩ. Chỉnh huấn chính trị cốt để cán bộ nhận rõ ta, bạn và địch; thấu suốt đường lối kháng chiến trường kỳ, tự lực cánh sinh và nâng cao ý thức tổ chức, kỷ luật nghiêm minh. Thông qua chỉnh huấn giúp “nâng cao lòng tin tưởng của quân đội vào tiền đồ của cuộc kháng chiến trong nước cũng như vào cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới”7. Phương pháp“là liên hệ những điều học được với tư tưởng và công tác, để tiến hành kiểm thảo và tổng kết”8. Trung ương còn nhấn mạnh thêm: “đối với cán bộ, phần lớn là đảng viên, mục đích, yêu cầu, nội dung chủ yếu, phương pháp của công tác chỉnh quân đều thống nhất với công tác chỉnh Đảng, cho nên có thể nói rằng tiến hành chỉnh huấn chính trị đối với cán bộ trong quân đội là thực hiện công tác chỉnh Đảng”9.
Để hiện thực hóa chủ trương đó, Tổng Quân ủy và Tổng cục Chính trị đã triển khai một quy trình chỉ đạo chặt chẽ, bài bản trên các phương diện: xây dựng kế hoạch, đề án và chuẩn bị tư liệu: tổng cục Chính trị đã khẩn trương xây dựng các đề án chỉnh huấn cụ thể cho từng năm (1952 và 1953), quy định rõ nội dung, thời gian, phương pháp và phân định trách nhiệm cho từng cấp ủy. Tài liệu học tập được biên soạn và lựa chọn rất kỹ lưỡng, bao gồm các văn kiện cơ bản, như “Cách mạng Việt Nam” của Tổng Bí thư Trường Chinh, các báo cáo chiến lược của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và đặc biệt là các bài huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời gian chương trình “học tập chính trị 90%” dành cho cán bộ.
Thành lập bộ máy chỉ đạo và bồi dưỡng lực lượng cốt cán: Ban Chỉ đạo chính huấn chính trị toàn quân được thành lập để trực tiếp theo dõi, quản lý và điều hành các lớp học dành cho cán bộ trung, cao cấp. Đồng thời, Đảng chú trọng lựa chọn, tập huấn cho đội ngũ cán bộ cốt cán làm giảng viên, những người có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi và làm mồi lửa cho các cuộc thảo luận. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cổ động: các cơ quan báo chí, xuất bản, như: Báo Quân đội nhân dân, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân liên tục mở các chuyên mục, xuất bản hàng loạt đầu sách giáo dục, khơi dậy tinh thần ham học hỏi, uốn nắn thái độ học tập và cổ vũ bộ đội tự giác kiểm thảo, sửa chữa khuyết điểm.
Thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm túc: phương pháp chỉnh huấn căn bản là học tập lý luận kết hợp liên hệ thực tiễn tư tưởng và công tác của bản thân thông qua kiểm thảo. Quá trình này diễn ra rất gay go, quyết liệt trong nội tâm tư tưởng của mỗi người. Cán bộ phải tự soi, tự sửa, sử dụng vũ khí sắc bén “phê bình và tự phê bình” một cách thành tâm để giúp nhau tiến bộ. Trong tổ chức thực hiện, Đảng luôn chỉ đạo quán triệt phương châm: “Thận trọng, chắc chắn, đi từng bước một”, “làm gọn, ăn chắc”. Đặc biệt, sang năm 1953, trước hiện tượng một số nơi nảy sinh khuynh hướng hữu khuynh hoặc “tả khuynh” quá đà gây ra hiện tượng phân biệt thành phần giai cấp, kỳ thị cán bộ xuất thân tư sản, địa chủ, Tổng cục Chính trị dưới sự chỉ đạo của Trung ương đã kịp thời chấn chỉnh. Việc xác minh, phân loại các trường hợp “hiềm nghi” về chính trị được tiến hành cực kỳ cẩn trọng; tổ chức minh oan cho gần 20.000 cán bộ, chiến sĩ và điều động họ trở lại chiến trường, bảo đảm không một ai bị xử lý oan sai, đồng thời giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ.
Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, cuộc chỉnh huấn chính trị (1952 – 1953) đã đạt được mục đích và đáp ứng các yêu cầu đã đề ra. Những lệch lạc và suy nghĩ tiêu cực trong tư tưởng của đội ngũ cán bộ cơ bản đã được loại bỏ. Thay vào đó là một bầu không khí mới mang tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí kiên định, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Tinh thần vững vàng ấy đã được cán bộ, chiến sĩ mang trực tiếp ra chiến trường, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần vô song, góp phần quyết định làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi hoàn toàn.
4. Giá trị đối với công tác chính trị, tư tưởng trong quân đội hiện nay
Bối cảnh hiện nay đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Đất nước đang trong hòa bình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế một cách toàn diện. Quân đội nhân dân Việt Nam đang tiến hành cuộc cải cách tổ chức lực lượng lớn chưa từng có, hướng tới mục tiêu “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân”. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường, các biểu hiện tiêu cực trong xã hội, cùng chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đang tác động hằng ngày, hằng giờ đến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Trong bối cảnh phức tạp ấy, những bài học, giá trị cốt lõi từ cuộc Chỉnh huấn chính trị 1952 – 1953 có giá trị định hướng sâu sắc cho công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng bộ Quân đội.
Một là, chủ động nắm chắc, dự báo chính xác và đánh giá khách quan diễn biến của tình hình tư tưởng trong đội ngũ cán bộ.
Tư tưởng con người không bất biến mà luôn vận động, chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường xung quanh. Nếu cấp ủy, chỉ huy không sâu sát, không chủ động nắm bắt thì khó có thể thấy được những mầm mống sai lệch, như: sự hoang mang, ngại khó, ngại khổ hay tư tưởng hưởng thụ. Ngày nay, trước những biến động phức tạp của tình hình quốc tế và những khó khăn trong đời sống dân sinh, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng của bộ đội. Yêu cầu nắm tư tưởng phải tiến hành thường xuyên, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực. Nắm tư tưởng không thể chung chung, hời hợt mà phải thông qua sinh hoạt Đảng, qua thực tế thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và cả các mối quan hệ xã hội, gia đình của cán bộ. Coi trọng quản lý tư tưởng quân nhân thông qua “các tài khoản trên mạng xã hội của quân nhân, các biện pháp nắm dư luận tập thể của quân nhân và điều tra xã hội học”11. Phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng cả những mặt ưu điểm vững vàng lẫn những biểu hiện lệch lạc, suy thoái, “nhạt đảng, khô đoàn”, xa rời mục tiêu lý tưởng. Việc phát hiện sớm các biểu hiện tư tưởng tiêu cực chính là chìa khóa để “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, ngăn chặn hiệu quả từ xa các vi phạm kỷ luật và pháp luật.
Hai là, kiên định lấy giáo dục chính trị kết hợp cải tạo tư tưởng làm trọng tâm, nâng cao bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ.
Chỉnh huấn chính trị trong Quân đội những năm 1952-1953 thành công là nhờ Đảng định vị đúng gốc rễ của vấn đề: phải cải tạo lập trường tư tưởng bằng lý luận khoa học Mác – Lênin, giúp cán bộ thấu suốt đường lối cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, nội dung giáo dục chính trị phải tập trung vào việc bồi dưỡng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là các chủ trương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, giáo dục chính trị không thể rập khuôn, lý thuyết suông mà phải kết hợp chặt chẽ với việc “cải tạo tư tưởng”, tức là uốn nắn những nhận thức mơ hồ, lệch lạc của cán bộ trước những hiện tượng xã hội phức tạp. Phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về đối tượng, đối tác; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ vững sự kiên định về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân trong mọi tình huống.
Ba là, thực hiện nghiêm túc, thực chất việc phê bình và tự phê bình, chống các biểu hiện hình thức, nể nang.
Kiểm thảo, tự phê bình và phê bình là phương pháp tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về chất của cuộc chỉnh huấn chính trị trong những năm 1952 – 1953. Hiện nay, trong việc thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, việc tự phê bình và phê bình trong quân đội phải được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc và thực chất. Cần phải kiên quyết đấu tranh khắc phục triệt để căn bệnh “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, hoặc lợi dụng phê bình để đả kích, hạ bệ đồng chí, đồng đội. Người đứng đầu, cán bộ chủ trì các cấp phải luôn là người gương mẫu “tự soi, tự sửa” trước, thành tâm lắng nghe ý kiến góp ý của cấp dưới và quần chúng. Phê bình trên tinh thần tình đồng chí thương yêu, giúp nhau cùng tiến bộ, cùng sửa chữa khuyết điểm để xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu.
Bốn là, phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương, tính tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì.
Trong các đợt chỉnh huấn chính trị (1952 – 1953), Tổng cục Chính trị lưu ý: “Việc chỉnh huấn phải do cấp ủy thống nhất thực sự và tập trung lãnh đạo, các đồng chí phụ trách quân chính, trung cấp tự mình bắt tay làm lấy, đi sâu xuống dưới”12. Sự gương mẫu của người cán bộ phụ trách có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền. Trong giai đoạn quân đội tinh gọn tổ chức, điều chỉnh lực lượng hiện nay, tư tưởng của cán bộ ở các đơn vị sáp nhập, giải thể chắc chắn sẽ có những tâm tư, xáo trộn. Lúc này, vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì và cấp ủy viên các cấp có ý nghĩa quyết định. Cán bộ chức vụ càng cao càng phải thể hiện bản lĩnh, trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, không kén chọn vị trí, không vun vén lợi ích cá nhân. Sự dấn thân, mẫu mực của người chỉ huy trong công tác, sinh hoạt và lối sống chính là mệnh lệnh không lời, là điểm tựa tinh thần vững chắc để chiến sĩ tin tưởng, noi theo, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.
Năm là, đổi mới mạnh mẽ về hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền phù hợp với đối tượng và sự phát triển của công nghệ.
Nếu như những năm 1952 – 1953, công tác tuyên truyền được thực hiện hiệu quả thông qua hệ thống báo chí in, xuất bản sách và đội ngũ cốt cán trực tiếp, thì ngày nay, công tác tư tưởng phải đối mặt với sự bùng nổ của mạng xã hội và các phương tiện truyền thông hiện đại. Do đó, hình thức tuyên truyền, giáo dục chính trị trong quân đội không thể mãi duy trì phương pháp “đọc – chép” một chiều, xơ cứng. Cần tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số vào giảng dạy chính trị; đa dạng hóa các kênh thông tin, tuyên truyền thông qua các sản phẩm đa phương tiện, các cuộc thi trực tuyến và các bài viết chính luận sắc bén trên không gian mạng. Đồng thời, phải chủ động phát huy vai trò của các cơ quan báo chí quân đội, tăng cường các bài viết đấu tranh phản bác trực diện, sắc sảo các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội.
5. Kết luận
Giá trị của cuộc Chỉnh huấn chính trị những năm 1952 – 1953 là bài học quý báu, là nguồn tài sản tinh thần vô giá trong kho tàng lý luận về xây dựng Đảng và xây dựng Quân đội của Đảng. Công tác chỉnh huấn chính trị thực chất là cuộc đấu tranh tư tưởng gay go, quyết liệt nhằm gột rửa những gì cũ kỹ, lạc hậu, củng cố và xây dựng cái mới tiến bộ, cách mạng. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo những giá trị lịch sử ấy vào công tác chính trị, tư tưởng hiện nay không chỉ giúp Đảng bộ Quân đội luôn giữ vững trận địa tư tưởng mà còn trực tiếp xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội có đức, có tài, có bản lĩnh chính trị kiên định, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Đó chính là cái “gốc”, là bệ phóng vững chắc để Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu tiến lên hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Tổ quốc và Nhân dân giao phó trong thời kỳ mới.
Chú thích:
1, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 75, 283.
2. Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu (2015). Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954). H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 506 – 507.
4, 5, 6, 7, 8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 114, 111, 116, 116, 117, 117.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 115.
11. Cục Tuyên huấn (2022). Tài liệu bổ trợ học tập chính trị năm 2022. H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 206.
12. Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam (2009). Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam. Tập 1 (1944 – 1954). H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 378.



