The effectiveness of digital transformation in the grassroots political system in contributing significantly to the protection of the Party’s ideological foundation
ThS. Đỗ Thị Thu Huyền
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích vai trò của chuyển đổi số trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở, coi đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ. Trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và quán triệt các chủ trương, định hướng của Đảng về chuyển đổi số, bài viết làm rõ yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, công tác tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số ở cấp cơ sở, góp phần củng cố “phòng tuyến tư tưởng” từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện phát triển xã hội số hiện nay.
Từ khóa: Chuyển đổi số; hệ thống chính trị cơ sở; nền tảng tư tưởng của Đảng; không gian mạng; xây dựng Đảng.
Abstract: This article analyzes the role of digital transformation in the grassroots-level political system, considering it as one of the key factors contributing to the protection of the ideological foundation of the Communist Party of Vietnam in the context of the Fourth Industrial Revolution and the ongoing strong national digital transformation process. Based on the application of Ho Chi Minh Thought and the thorough implementation of the Party’s guidelines and orientations on digital transformation, the article clarifies the need to promote the application of digital technologies in the operation of the grassroots political system in order to enhance governance efficiency, communication and propaganda work, the orientation of public opinion, and the fight against wrongful and hostile viewpoints in cyberspace. At the same time, the article proposes several solutions to improve the effectiveness of digital transformation at the grassroots level, thereby contributing to strengthening the “ideological frontline” early and from afar, and firmly safeguarding the ideological foundation of the Party in the current context of digital society development.
Keywords: Digital transformation; grassroots political system; ideological foundation of the Party; cyberspace; Party building.
1. Đặt vấn đề
Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số quốc gia, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đứng trước nhiều yêu cầu mới cả về nội dung, phương thức và không gian triển khai. Nếu trước đây hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng chủ yếu được thực hiện trên mặt trận lý luận, báo chí và hoạt động chính trị trực tiếp thì hiện nay, không gian mạng đã trở thành môi trường tác động rộng lớn, đa chiều và có tốc độ lan truyền thông tin nhanh. Đây vừa là môi trường thuận lợi để lan tỏa chủ trương, đường lối của Đảng vừa là địa bàn để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động chống phá bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, phức tạp hơn.
Trong bối cảnh chuyển động không ngừng của xã hội số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ dừng lại ở việc gìn giữ tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác – Lênin mà còn đòi hỏi một tư duy mới về cách thức truyền đạt và lan tỏa giá trị ấy. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa bản lĩnh chính trị vững vàng và khả năng thích ứng linh hoạt với công nghệ hiện đại nhằm đưa thông điệp cách mạng đến đúng nơi, đúng lúc, đúng đối tượng.
Trong tiến trình này, chính trị cơ sở giữ vị trí trụ cột, là nơi hiện thực hóa các nghị quyết, chủ trương của Đảng vào đời sống; đồng thời, là điểm nóng, dễ bị tổn thương trước làn sóng thông tin xuyên tạc, sai lệch trên không gian mạng. Chính vì vậy, năng lực phát hiện, ứng phó và xử lý kịp thời các nguy cơ từ “mặt trận tư tưởng ảo”1 trở thành yêu cầu thiết yếu đối với cấp cơ sở, nơi mà sự vững chắc về tư tưởng sẽ tạo nên vành đai bảo vệ vững vàng cho toàn hệ thống chính trị. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục xác định: “chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia…”2 và xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu phát triển toàn diện, hạ tầng số, dữ liệu số; Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số3; đồng thời, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và không gian mạng. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở không chỉ là yêu cầu kỹ thuật của tiến trình hiện đại hóa quản trị mà còn là giải pháp chiến lược nhằm củng cố niềm tin xã hội, tăng cường khả năng định hướng dư luận và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng từ chuyển đổi số ở cơ sở
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của cơ sở tổ chức trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong việc xây dựng Đảng và củng cố niềm tin chính trị trong Nhân dân. Người khẳng định: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, nếu chi bộ kém thì công việc không trôi chảy”4. Quan điểm này cho thấy, tổ chức cơ sở đảng không chỉ là nơi trực tiếp triển khai chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là cầu nối giữa Đảng với Nhân dân, giữ vai trò nền tảng trong việc củng cố sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn hệ thống chính trị.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “Dân là gốc” là nguyên lý xuyên suốt trong xây dựng Đảng và tổ chức bộ máy nhà nước. Theo đó, hiệu quả của công tác tư tưởng không chỉ phụ thuộc vào nội dung tuyên truyền mà còn được quyết định bởi khả năng gắn bó mật thiết với Nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ thực tiễn cơ sở. Chính trị, xét đến cùng, phải bắt nguồn từ lòng dân, dựa vào dân và phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần được triển khai ngay từ cơ sở, nơi trực tiếp hình thành sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin chính trị của quần chúng nhân dân.
Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của cơ sở tiếp tục có giá trị định hướng quan trọng. Nếu trước đây công tác tư tưởng chủ yếu được triển khai thông qua các hình thức trực tiếp thì hiện nay, môi trường số đã tạo ra những phương thức mới trong truyền tải thông tin, định hướng dư luận và tương tác với Nhân dân. Điều này đòi hỏi hệ thống chính trị cơ sở không chỉ giữ vững bản lĩnh chính trị mà còn phải nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số nhằm kịp thời truyền tải chủ trương của Đảng, đấu tranh phản bác thông tin sai trái và củng cố “thế trận lòng dân” trên không gian mạng.
Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đã nhấn mạnh yêu cầu chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng; tăng cường nhận diện, đấu tranh và xử lý kịp thời các thông tin xấu độc, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều này cho thấy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay không chỉ diễn ra trên mặt trận lý luận truyền thống mà còn gắn chặt với nhiệm vụ làm chủ không gian số và nâng cao năng lực truyền thông chính trị trong môi trường mạng.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và tăng cường sức đề kháng của xã hội trước các thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để các cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác xây dựng Đảng, quản lý xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới. Tiếp nối tinh thần Đại hội XIII, Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong môi trường số, nhấn mạnh việc nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng gắn với đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện. Đồng thời, yêu cầu tăng cường sức đề kháng của xã hội trước thông tin xấu độc, sai trái trên không gian mạng; phát huy vai trò của các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng các phương thức truyền thông hiện đại, linh hoạt và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội số.
2.2. Những thách thức đặt ra từ không gian mạng đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, không gian mạng đã trở thành môi trường truyền thông, tương tác xã hội và đấu tranh tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống chính trị – xã hội. Bên cạnh những giá trị tích cực, đây cũng là địa bàn để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động chống phá với phương thức ngày càng tinh vi, khó nhận diện và có tốc độ lan truyền nhanh chóng. Một trong những thủ đoạn phổ biến hiện nay là lợi dụng mạng xã hội và các nền tảng số để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.
Các thông tin sai sự thật thường được ngụy trang dưới dạng video ngắn, hình ảnh, livestream hoặc các nội dung có tính tương tác cao nhằm thu hút người dùng và tạo hiệu ứng lan truyền rộng rãi. Thay vì sử dụng các luận điệu đối đầu trực diện, nhiều thông tin được xây dựng theo hướng đặt nghi vấn, bóp méo sự thật lịch sử, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, phủ nhận thành quả cách mạng, kích động tư tưởng cực đoan hoặc cổ súy cho quan điểm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Những hoạt động này không chỉ làm xói mòn niềm tin chính trị mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự gắn kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trước thực trạng đó, Luật An ninh mạng năm 2018 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng để xuyên tạc lịch sử, chống phá Nhà nước, kích động gây rối hoặc phát tán thông tin sai sự thật. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm an ninh tư tưởng, an ninh thông tin và giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong điều kiện phát triển xã hội số.
Đáng chú ý, cấp cơ sở hiện đang là khu vực chịu nhiều tác động trực tiếp từ các luồng thông tin trái chiều trên không gian mạng. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi số ở nhiều địa phương vẫn còn gặp không ít khó khăn về hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và năng lực quản trị số. Ở một số nơi, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị còn thiếu tính đồng bộ; nhiều cán bộ cơ sở chưa thành thạo kỹ năng số, dẫn đến hạn chế trong khả năng tiếp cận, sàng lọc và xử lý thông tin trên môi trường mạng.
Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, chuyển đổi số phải được triển khai đồng bộ trên cả ba trụ cột, gồm: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trong đó, cấp cơ sở giữ vai trò trực tiếp tổ chức thực hiện, bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ số và thông tin chính thống một cách thuận lợi, minh bạch và an toàn. Điều này cho thấy chuyển đổi số ở cơ sở không chỉ là yêu cầu phát triển quản trị hiện đại mà còn là giải pháp quan trọng nhằm củng cố niềm tin xã hội và tăng cường hiệu quả công tác tư tưởng trong môi trường số.
Bên cạnh đó, sự chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các vùng miền, giữa các nhóm cán bộ theo độ tuổi và chuyên môn cũng tạo ra khoảng cách trong tiếp cận thông tin chính thống. Một bộ phận cán bộ trẻ có kỹ năng công nghệ nhưng còn hạn chế về chiều sâu lý luận chính trị; ngược lại, một số cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn lại gặp khó khăn trong việc sử dụng nền tảng số và công cụ truyền thông mới. Sự thiếu đồng bộ này làm giảm hiệu quả triển khai công tác chính trị – tư tưởng trong môi trường số. Ngoài ra, hệ thống cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý về quản trị dữ liệu, chia sẻ thông tin và bảo đảm an ninh mạng trong lĩnh vực chính trị – tư tưởng vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện. Điều này tạo ra những khoảng trống dễ bị lợi dụng để phát tán thông tin sai lệch, gây nhiễu loạn dư luận và tác động tiêu cực đến nhận thức chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân.
Trước những yêu cầu mới đó, việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở cần được xác định không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà còn là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường số. Chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản lý, điều hành mà còn là quá trình đổi mới phương thức tương tác giữa Đảng, Nhà nước và người dân trong xã hội số. Điều này đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao năng lực số với củng cố bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở; đồng thời, xây dựng hệ thống dữ liệu và nền tảng truyền thông số có khả năng kết nối, cập nhật và phản ứng kịp thời trước các vấn đề phát sinh trên không gian mạng.
3. Vai trò của chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở đối với bảo vệ nền tảng tư tưởng
3.1. Tăng cường hiệu quả truyền thông chủ trương, chính sách của Đảng
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ số trong công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đang tạo ra những chuyển biến quan trọng về phương thức truyền thông chính trị ở cơ sở. Việc số hóa các nội dung tuyên truyền giúp thông tin được truyền tải nhanh chóng, trực quan, dễ tiếp cận và phù hợp hơn với nhu cầu tiếp nhận thông tin của người dân trong môi trường số. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, góp phần củng cố nhận thức chính trị và tăng cường khả năng “miễn dịch thông tin” trước các luận điệu sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng.
Theo tinh thần của Quyết định số 749/QĐ-TTg, việc phát triển chính phủ số và xã hội số phải gắn với đổi mới phương thức phục vụ người dân, tăng cường khả năng tiếp cận thông tin chính thống và nâng cao hiệu quả quản trị công. Trong hệ thống chính trị cơ sở, điều này được thể hiện thông qua việc xây dựng các nền tảng thông tin điện tử, fanpage của đảng ủy, chính quyền cơ sở, hệ thống phản ánh hiện trường trực tuyến, cổng thông tin điện tử và các ứng dụng phục vụ quản lý, điều hành.
Thực tiễn cho thấy, nhiều địa phương đã bước đầu triển khai hiệu quả các mô hình chuyển đổi số trong công tác đảng và công tác tuyên truyền ở cơ sở. Đặc biệt là đã triển khai ứng dụng “Sổ tay Đảng viên điện tử” trong sinh hoạt chi bộ và bước đầu mang lại hiệu quả tích cực. Hệ thống này tích hợp cơ sở dữ liệu văn kiện Đảng từ Trung ương đến cơ sở; đồng thời, hỗ trợ cập nhật thông tin về công tác xây dựng Đảng, quản lý hồ sơ đảng viên và tra cứu tài liệu phục vụ sinh hoạt chi bộ. Việc ứng dụng nền tảng số trong quản lý và điều hành không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả công việc mà còn góp phần hiện đại hóa phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở.
Có thể thấy, chuyển đổi số đang tạo điều kiện để hệ thống chính trị cơ sở đổi mới phương thức truyền thông theo hướng chủ động, linh hoạt và tương tác cao hơn với người dân. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần tăng cường khả năng định hướng dư luận xã hội, củng cố niềm tin chính trị và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện phát triển xã hội số hiện nay.
3.2. Tạo dựng niềm tin chính trị thông qua công khai, minh bạch và tăng cường tương tác với người dân
Một trong những tác động quan trọng của chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở là góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành, từ đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Khi các quy trình xử lý công việc, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công được thực hiện trên nền tảng số, người dân có điều kiện giám sát tốt hơn hoạt động của cơ quan công quyền, đồng thời giảm thiểu các khâu trung gian và nguy cơ phát sinh tiêu cực.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định yêu cầu đẩy mạnh xây dựng chính phủ số, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, phát triển nền hành chính hiện đại, công khai và minh bạch5. Trong đó, chuyển đổi số ở cơ sở không chỉ nhằm nâng cao hiệu suất quản lý mà còn tạo lập môi trường tương tác thuận lợi giữa chính quyền với người dân, góp phần củng cố sự đồng thuận xã hội và tăng cường niềm tin chính trị trong nhân dân.
Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới, Đại hội XIV của Đảng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể và động lực của quá trình chuyển đổi số. Điều này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống chính trị cơ sở phải đổi mới mạnh mẽ phương thức phục vụ nhân dân, tăng cường tương tác số, công khai, minh bạch thông tin và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Qua đó, không chỉ nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở mà còn góp phần củng cố niềm tin chính trị, tăng cường đồng thuận xã hội và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong không gian số.
Trên cơ sở kết quả thí điểm tại một số địa phương, Ban Bí thư đã ban hành Quy định số 339-QĐ/TW ngày 10/7/2025 về sử dụng ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử trong toàn Đảng. Ứng dụng này được xây dựng với các chức năng chính, như: quản lý thông tin đảng viên; hỗ trợ sinh hoạt chi bộ; cung cấp văn kiện, tài liệu của Đảng; tổ chức học tập nghị quyết trực tuyến; tiếp nhận góp ý, phản ánh của đảng viên tới cấp ủy và tổ chức đảng. Quy định này xác lập nguyên tắc sử dụng thống nhất ứng dụng trên phạm vi toàn quốc; đồng thời, quy định rõ mục đích, yêu cầu và nội dung triển khai nhằm hỗ trợ đảng viên trong sinh hoạt đảng, học tập nghị quyết và tiếp cận thông tin chính thống trên môi trường số. Việc triển khai nền tảng này không chỉ góp phần hiện đại hóa công tác đảng mà còn tạo lập kênh giao tiếp hai chiều giữa cấp ủy với đảng viên, nâng cao hiệu lực lãnh đạo, chỉ đạo và chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong điều kiện chuyển đổi số.
Có thể khẳng định, chuyển đổi số đang góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại và phục vụ nhân dân; đồng thời, tạo cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin chính trị, tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với Nhân dân và nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.
3.3. Chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ngay từ cơ sở
Trong điều kiện chuyển đổi số và phát triển mạnh mẽ của truyền thông xã hội, việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là lực lượng trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, triển khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời giữ vai trò nòng cốt trong định hướng dư luận xã hội ở cơ sở.
Nghị quyết số 35-NQ/TW xác định rõ định hướng thông tin và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ tạo ra công cụ hỗ trợ quản lý mà còn mở ra phương thức mới để triển khai công tác chính trị – tư tưởng trong môi trường số.
Hiện nay, các thế lực phản động và cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số để phát tán thông tin sai lệch dưới nhiều hình thức khác nhau, như: video ngắn, hình ảnh, bài viết, livestream hoặc các nội dung có tính kích động dư luận. Những thông tin này thường được xây dựng theo hướng gây hoài nghi, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, phủ nhận thành quả cách mạng hoặc tác động tiêu cực đến nhận thức chính trị của người dân.
Trước thực trạng đó, việc trang bị kỹ năng số và kỹ năng truyền thông cho đội ngũ cán bộ cơ sở trở thành yêu cầu cấp thiết. Khi được nâng cao năng lực số, cán bộ cơ sở không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn có thể chủ động tham gia định hướng dư luận xã hội, kịp thời phát hiện, phân tích và phản bác các thông tin sai trái trên không gian mạng. Thông qua việc sử dụng linh hoạt các nền tảng số, cán bộ cơ sở có thể truyền tải thông tin chính thống bằng nhiều hình thức phù hợp, như: bài viết ngắn, infographic, video clip hoặc các nội dung truyền thông trực quan, dễ tiếp cận đối với người dân.
Thực tiễn cho thấy, những địa phương quan tâm đào tạo kỹ năng truyền thông số cho đội ngũ cán bộ cơ sở thường có khả năng phản ứng nhanh hơn trước các tình huống truyền thông phát sinh trên không gian mạng, qua đó, hạn chế tác động tiêu cực của thông tin sai lệch đối với dư luận xã hội. Đồng thời, đội ngũ cán bộ này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kịp thời phát hiện các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để có biện pháp xử lý phù hợp.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển xã hội số hiện nay, việc chủ động tham gia không gian mạng bằng các hình thức truyền thông tích cực, hiện đại và phù hợp với nhu cầu tiếp nhận thông tin của người dân là yêu cầu quan trọng nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng trên cả không gian thực và không gian số. Khi tiếng nói của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ cơ sở được truyền tải bằng ngôn ngữ truyền thông hiện đại, nội dung chính thống sẽ có điều kiện lan tỏa sâu rộng hơn trong cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, định hướng dư luận xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số.
4. Đề xuất mô hình và giải pháp đột phá
4.1. Mô hình “Chi bộ số – Đảng viên số – Tuyên truyền viên số”
(1) Chi bộ số. Chi bộ số được hiểu là mô hình tổ chức sinh hoạt đảng và quản lý công tác đảng trên nền tảng số, trong đó, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ đảng viên, lưu trữ dữ liệu điện tử, tổ chức sinh hoạt chi bộ trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp – trực tuyến. Việc ứng dụng các nền tảng số giúp nâng cao tính minh bạch, chuẩn hóa quy trình sinh hoạt đảng, đồng thời, hỗ trợ tổng hợp, phân tích dữ liệu phục vụ đánh giá chất lượng hoạt động của tổ chức đảng. Trong tương lai, có thể nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích dữ liệu sinh hoạt chi bộ, hỗ trợ dự báo xu hướng tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng ở cơ sở.
(2) Đảng viên số. Đảng viên số là hình ảnh người đảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số, không chỉ thực hiện nhiệm vụ chính trị trên không gian thực mà còn chủ động tham gia không gian mạng với vai trò lan tỏa thông tin chính thống. Thông qua việc sử dụng hiệu quả các nền tảng, như: Sổ tay đảng viên điện tử và các kênh truyền thông số, mỗi đảng viên cần nâng cao năng lực tiếp cận, xử lý và chia sẻ thông tin một cách có trách nhiệm, trở thành một “điểm lan tỏa thông tin tích cực” trong môi trường số. Đồng thời, đảng viên cần có bản lĩnh chính trị vững vàng để nhận diện và đấu tranh với các thông tin sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng
(3) Tuyên truyền viên số. Tuyên truyền viên số là lực lượng nòng cốt trong công tác truyền thông chính trị ở cơ sở, có nhiệm vụ sản xuất và lan tỏa nội dung chính thống trên các nền tảng số. Đây là đội ngũ cần được trang bị đồng thời năng lực lý luận chính trị và kỹ năng truyền thông hiện đại, như: viết nội dung số, thiết kế đồ họa thông tin (infographic), sản xuất video ngắn và quản trị nền tảng mạng xã hội. Vai trò của lực lượng này là kịp thời phản bác thông tin sai trái, định hướng dư luận xã hội và nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách trong môi trường số.
4.2. Đột phá về hạ tầng và nguồn nhân lực
Để mô hình chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở phát huy hiệu quả, cần tạo ra những đột phá đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực.
Tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin ở cấp cơ sở, bao gồm: hệ thống mạng truyền dẫn tốc độ cao, nền tảng dữ liệu dùng chung, phần mềm quản lý điều hành và các công cụ hỗ trợ sinh hoạt đảng trên môi trường số. Việc bảo đảm hạ tầng đồng bộ là điều kiện tiên quyết để triển khai hiệu quả chính quyền số và công tác đảng số ở cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo hướng “kép”, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có năng lực sử dụng và khai thác hiệu quả công nghệ số. Đây là yêu cầu mang tính chiến lược nhằm đáp ứng yêu cầu mới của quản trị quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Đồng thời, có cơ chế huy động sự tham gia của lực lượng trẻ như sinh viên, đoàn viên, hội viên các tổ chức chính trị – xã hội vào các mô hình như “tổ công nghệ số cộng đồng” nhằm hỗ trợ chính quyền cơ sở trong triển khai chuyển đổi số, đồng thời, lan tỏa kỹ năng số trong cộng đồng dân cư.
4.3. Hoàn thiện thể chế và cơ chế thực thi
Song song với phát triển hạ tầng và nhân lực, việc hoàn thiện thể chế và cơ chế thực thi là điều kiện bảo đảm tính bền vững của quá trình chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở.
Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến bảo mật thông tin, quản lý, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu trong hệ thống chính trị, bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng trong lĩnh vực chính trị – tư tưởng. Mặt khác, xây dựng cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo trong công tác truyền thông chính trị số ở cơ sở, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên chủ động ứng dụng công nghệ mới trong tuyên truyền, định hướng dư luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan công quyền trên môi trường số, thông qua các nền tảng phản ánh hiện trường, dịch vụ công trực tuyến và cơ chế tương tác hai chiều giữa chính quyền và người dân. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và củng cố niềm tin xã hội đối với hệ thống chính trị.
5. Kết luận
Chuyển đổi số trong hệ thống chính trị cơ sở không đơn thuần là quá trình ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản lý, điều hành, mà là một bước chuyển mang tính tất yếu trong tiến trình hiện đại hóa phương thức lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực thi chủ trương của Đảng trong bối cảnh xã hội số. Đây là sự thích ứng chiến lược của công tác tư tưởng trước sự biến đổi sâu sắc của môi trường truyền thông, nơi thông tin vận hành theo tốc độ cao, đa chiều và khó kiểm soát.
Về bản chất, chuyển đổi số không chỉ tạo ra sự thay đổi về công cụ, mà quan trọng hơn là sự tái cấu trúc phương thức truyền tải và tiếp nhận tư tưởng chính trị theo hướng hiện đại, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Khi dữ liệu, nền tảng số và công nghệ truyền thông trở thành hạ tầng mới của quản trị công, công tác tư tưởng cũng đồng thời được mở rộng không gian hoạt động, chuyển từ phương thức truyền đạt một chiều sang mô hình tương tác, kết nối và phản hồi liên tục giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Trong điều kiện đó, nếu được triển khai đồng bộ, bài bản và hiệu quả, chuyển đổi số không chỉ góp phần nâng cao năng lực quản trị ở cấp cơ sở mà còn trở thành một “tuyến phòng thủ mềm” nhưng vững chắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm sự thống nhất về nhận thức chính trị và củng cố niềm tin xã hội đối với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cấp cơ sở, với vai trò là điểm tiếp xúc trực tiếp giữa hệ thống chính trị và đời sống nhân dân, chính là nơi hội tụ cả cơ hội lan tỏa thông tin tích cực và nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch, do đó cần được tăng cường “sức đề kháng” bằng cả thể chế, công nghệ và con người.
Vì vậy, sự kết hợp hài hòa giữa chuyển đổi số và chuyển hóa tư duy chính trị – tư tưởng, giữa công nghệ hiện đại và nền tảng niềm tin của nhân dân, chính là hướng đi mang tính chiến lược lâu dài. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong không gian số, một không gian vừa mở ra cơ hội phát triển, vừa đặt ra những thách thức mới đối với sự ổn định chính trị – xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Chú thích:
1. Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 31.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 14. H. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, tr.193.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 129.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
4. Quốc hội (2018). Luật An ninh mạng năm 2018
5. Ban Bí thư (2025). Quy định số 339-QĐ/TW ngày 10/7/2025 về sử dụng ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử.
6. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác đảng. https://nhandan.vn/day-manh-chuyen-doi-so-trong-cong-tac-dang-post860910.html, ngày 05/4/2026.
7. Dấu ấn chuyển đổi số trong Đảng tại Hà Nội: Truyền động lực và cảm hứng. https://hanoimoi.vn/dau-an-chuyen-doi-so-trong-dang-tai-ha-noi-truyen-dong-luc-va-cam-hung-698745.html, ngày 05/4/2026.
8. Áp dụng mạnh mẽ chuyển đổi số vào cuộc sống. https://ttbc-hcm.gov.vn/ap-dung-manh-me-chuyen-doi-so-vao-cuoc-song-1001869.html, ngày 05/4/2026.



