Quản trị địa phương và phát triển đô thị trực thuộc trung ương tại tỉnh Quảng Ninh: nhận diện và đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc

Local governance and urban development in the centrally governed city of Quang Ninh: identifying and countering distorted narratives

PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân
Học viện Hành chính và Quản trị công
ThS. Phan Thị Hải Yến
Trường Chính trị tỉnh Quảng Ninh

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 và Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/4/2026 của Bộ Chính trị đã xác lập định hướng xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Trên cơ sở phân tích các luận cứ khoa học và thực tiễn, bài viết làm rõ tính tất yếu, khả thi của chủ trương này đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực quản trị địa phương. Đồng thời, nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về mục tiêu, điều kiện và tính khả thi của chủ trương, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Từ khóa: Quảng Ninh; quản trị địa phương; phát triển đô thị; Kết luận số 20-KL/TW; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Abstract: Resolution No. 06-NQ/TW and Conclusion No. 20-KL/TW of the Politburo, this article outlines the orientation for establishing a centrally-run city in Quang Ninh. Through an analysis of scientific and practical arguments, the study clarifies the necessity and feasibility of this policy in meeting the requirements for enhanced local governance. Furthermore, it identifies and refutes distorted viewpoints regarding the policy’s objectives, conditions, and viability, thereby contributing to the protection of the Party’s ideological foundation.

Keywords: Quang Ninh; local governance; urban development; Conclusion No. 20-KL/TW; safeguarding the Party’s ideological foundation.

1. Đặt vấn đề

Xây dựng các đô thị động lực là định hướng chiến lược nhằm tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia và nâng cao năng lực quản trị địa phương. Theo Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 06-NQ/TW), các đô thị lớn đóng vai trò là cực tăng trưởng quan trọng. Cùng với tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, việc phát huy tiềm năng địa phương trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.

Quảng Ninh, với vị thế là cực tăng trưởng phía Bắc, đã hội tụ đầy đủ điều kiện về kinh tế, hạ tầng và năng lực quản trị để tiến tới mô hình thành phố trực thuộc Trung ương. Định hướng này đã được Bộ Chính trị xác lập tại Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/4/2026 về chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, trước các luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ trương này, việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên đặc biệt quan trọng. Bài viết làm rõ luận cứ khoa học và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, góp phần tạo đồng thuận xã hội đối với quyết sách chiến lược này.

2. Luận cứ khoa học và thực tiễn của chủ trương xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương

(1) Cơ sở chính trị, pháp lý

Về chính trị, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phân cấp, phân quyền, hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương; đồng thời ưu tiên phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các cực tăng trưởng và đô thị lớn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và quản trị địa phương trong giai đoạn phát triển mới. Nghị quyết số 06-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống đô thị Việt Nam phát triển bền vững, hiện đại, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế; đồng thời coi đổi mới quản trị đô thị là nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đối với Quảng Ninh, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030 đều nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò cực tăng trưởng của tỉnh, xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển, du lịch, dịch vụ và cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng của vùng Bắc Bộ. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/4/2026 về chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương, mở ra khuôn khổ chính trị mới nhằm nâng cao năng lực quản trị địa phương và phát huy hiệu quả các nguồn lực phát triển.

Về pháp lý, chủ trương này được bảo đảm bởi Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 về tiêu chuẩn và phân loại đơn vị hành chính, cùng các quy định hiện hành về quy hoạch, quản lý và phát triển đô thị. Những văn bản này tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức mô hình chính quyền phù hợp, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và sự thống nhất trong hệ thống hành chính nhà nước. Như vậy, chủ trương xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương không phải là quyết định mang tính tình thế, mà là kết quả của quá trình chuẩn bị về chính trị, pháp lý và thực tiễn, phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị địa phương trong giai đoạn mới.

(2) Cơ sở lý luận về quản trị địa phương và phát triển đô thị trực thuộc Trung ương

Quản trị địa phương (Local Governance) là một khái niệm được hình thành và phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XX trong bối cảnh cải cách khu vực công và xu hướng dân chủ hóa quản lý nhà nước trên thế giới. Lý thuyết về quản trị địa phương là sự kế thừa và phát triển của lý thuyết quản trị quốc gia, vận dụng ở cấp địa phương. Quản trị quốc gia được hiểu là quá trình Nhà nước với vai trò là trung tâm dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực phổ quát của quản trị tốt, sử dụng các công cụ, phương tiện, phương thức phù hợp huy động mọi nguồn lực của quốc gia và sự tham gia của các chủ thể trong xã hội để ban hành, tổ chức thực hiện các quyết sách, mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đưa quốc gia phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả (Nguyễn Bá Chiến, Lê Hải Bình, 2024).

Như vậy, khác với mô hình hành chính truyền thống dựa trên cơ chế mệnh lệnh – phục tùng, quản trị địa phương nhấn mạnh sự tham gia của đa chủ thể (chính quyền, doanh nghiệp, xã hội và người dân) vào mọi giai đoạn của chính sách công. Tại đây, chính quyền đóng vai trò kiến tạo, điều phối nguồn lực và thúc đẩy hợp tác để giải quyết hiệu quả các vấn đề kinh tế – xã hội tại địa phương. Theo Pierre và Peters, quản trị địa phương là quá trình phối hợp giữa các thiết chế nhà nước và các chủ thể xã hội thông qua cơ chế hợp tác, đối thoại và đồng quản lý để giải quyết các vấn đề công cộng (Pierre, J. & Peters, B.G, 2000). Cách tiếp cận này phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình “government” sang “governance”, trong đó hiệu quả quản lý không chỉ phụ thuộc vào quyền lực hành chính mà còn dựa trên năng lực huy động nguồn lực xã hội và khả năng phối hợp giữa các chủ thể tham gia quản trị. Bổ sung quan điểm này, Ostrom nhấn mạnh vai trò của mô hình “đa trung tâm” (polycentric governance), nơi nhiều chủ thể cùng tham gia giải quyết vấn đề phát triển thông qua cơ chế phối hợp linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng địa phương (Ostrom, E. (2010). Theo (OECD, 2015) chất lượng quản trị địa phương tác động trực tiếp đến năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng sống. Những địa phương có tính tự chủ cao, thể chế minh bạch và cơ chế phối hợp hiệu quả thường tăng trưởng bền vững hơn mô hình tập trung. Điều này khẳng định quản trị địa phương không chỉ là quản lý hành chính mà là năng lực kiến tạo phát triển và huy động nguồn lực nhằm tối ưu hóa môi trường kinh tế – xã hội.

Từ góc độ lý luận phát triển đô thị, các đô thị lớn không chỉ là nơi tập trung dân cư mà còn là trung tâm tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, liên kết vùng và hội nhập quốc tế. Theo nghiên cứu của Edward Glaeser Glaeser (2011), các đô thị giữ vai trò đầu tàu cần tổ chức mô hình quản trị phù hợp với quy mô dân số, trình độ phát triển và phạm vi ảnh hưởng vùng để nâng cao hiệu quả quản lý, phát huy lợi thế phát triển. Đồng thời, các báo cáo chuyên đề từ UN-Habitat (2022)(đặc biệt là World Cities Report) cũng nhấn mạnh rằng việc áp dụng các mô hình quản trị đô thị thông minh và linh hoạt là chìa khóa then chốt để các đô thị lớn thực hiện hiệu quả chức năng dẫn dắt tăng trưởng và hội nhập toàn cầu trong kỷ nguyên hiện đại.

Từ góc độ tổ chức lãnh thổ hành chính, thành phố trực thuộc Trung ương là mô hình đô thị có vị trí đặc biệt trong hệ thống chính trị và hệ thống đô thị quốc gia. Đây không chỉ là đơn vị hành chính cấp tỉnh mà còn là trung tâm tổng hợp về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và giao lưu quốc tế, giữ vai trò động lực thúc đẩy phát triển vùng và quốc gia. Theo lý thuyết “cực tăng trưởng” của Perroux, các đô thị trung tâm đóng vai trò dẫn dắt thông qua hiệu ứng lan tỏa, tập trung nguồn lực và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy các vùng lân cận. Do đó, xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ là mở rộng không gian, mà là quá trình nâng cao năng lực quản trị, hoàn thiện bộ máy chính quyền để phát huy tối đa vai trò “đầu tàu” dẫn dắt tăng trưởng vùng (Perroux, F, 1955).

Ở Việt Nam, quản trị địa phương được tiếp cận dưới góc độ thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương trên cơ sở phân quyền, phân cấp hợp lý, bảo đảm tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý, điều hành và phát triển kinh tế – xã hội. Các nghiên cứu đều khẳng định rằng, việc nâng cao chất lượng quản trị địa phương là điều kiện quan trọng để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy tính năng động, sáng tạo của địa phương và đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế (Nguyễn Đăng Dung, 2011; Võ Kim Sơn, 2014; Nguyễn Hữu Hải, 2018).

Việc xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương đòi hỏi bước tiến về năng lực quản trị hiện đại, đồng thời hoàn thiện mô hình chính quyền tương xứng với vị thế “đô thị động lực” theo định hướng Nghị quyết số 06-NQ/TW.

Về thực tiễn, tỉnh Quảng Ninh cơ bản đáp ứng 7/7 tiêu chuẩn theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15. Tỉnh đã đạt các tiêu chuẩn về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, tỷ lệ phường, tỷ lệ đô thị hóa, chức năng trung tâm vùng/quốc gia và trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Đối với tiêu chí đô thị loại I, tỉnh đang hoàn thiện thủ tục trình Bộ Xây dựng công nhận. Lộ trình này phù hợp với quy định tại khoản 6 Điều 12 Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương.

(3) Cơ sở thực tiễn từ quá trình phát triển của tỉnh Quảng Ninh

Quá trình phát triển của Quảng Ninh trong giai đoạn 2021–2025 đã tạo lập những tiền đề quan trọng cả về kinh tế, hạ tầng, quản trị và thể chế, làm cơ sở thực tiễn cho mục tiêu xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương.

Về kinh tế – xã hội, Quảng Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, với mức tăng lần lượt đạt 10,28% (2021), 10,21% (2022), 11,03% (2023), 8,42% (2024) và 11,89% (2025). Quy mô GRDP năm 2025 đạt khoảng 368,4 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 54% so với năm 2021; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 10.402 USD, đứng đầu vùng Đồng bằng sông Hồng. Thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 84.500 tỷ đồng, thể hiện năng lực tự chủ tài chính và vai trò động lực tăng trưởng quan trọng của tỉnh đối với khu vực và cả nước (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2025).

Về hạ tầng và quản trị, Quảng Ninh đã hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ với hơn 176 km đường cao tốc, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, hệ thống cảng biển nước sâu và mạng lưới logistics kết nối liên vùng. Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 87%, thuộc nhóm cao nhất cả nước. Đồng thời, tỉnh nhiều năm liên tiếp giữ vị trí dẫn đầu hoặc nằm trong nhóm dẫn đầu về các chỉ số PCI, PAR INDEX, PAPI và SIPAS, phản ánh năng lực quản trị hiện đại và mức độ sẵn sàng cao cho mô hình chính quyền đô thị(UBND tỉnh Quảng Ninh, 2025).

Về điều kiện pháp lý và sự đồng thuận chính trị, Quảng Ninh đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15. HĐND tỉnh đã thông qua chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương với quy mô diện tích tự nhiên 6.231,27 km², dân số 1.523.400 người và 54 đơn vị hành chính cấp xã. Đặc biệt, Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/4/2026 của Bộ Chính trị đã tạo cơ sở chính trị quan trọng, khẳng định quyết tâm và định hướng phát triển lâu dài của Trung ương đối với Quảng Ninh.

Những kết quả nêu trên cho thấy Quảng Ninh đã hội tụ những điều kiện cần thiết về tiềm lực kinh tế, kết cấu hạ tầng, năng lực quản trị và cơ sở pháp lý để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn phát triển mới.

(4) Những hạn chế và vấn đề đặt ra

Quá trình chuyển đổi mô hình hành chính sang thành phố trực thuộc Trung ương không phải là một lộ trình bằng phẳng. Bên cạnh những thành tựu, Quảng Ninh đang đối diện với những thách thức khách quan đòi hỏi sự giải quyết đồng bộ:

Một là, hoàn thiện các tiêu chí định lượng: Mặc dù cơ bản đáp ứng các tiêu chuẩn, việc duy trì và nâng cao chất lượng một số chỉ tiêu đặc thù – nhất là mật độ dân số tại các khu vực đô thị mới và sự đồng bộ của hạ tầng kỹ thuật đô thị – vẫn cần lộ trình đầu tư dài hơi để đảm bảo tính ổn định bền vững theo tiêu chuẩn đô thị quốc gia (Bộ Xây dựng, 2024).

Hai là, áp lực quản trị đô thị quy mô lớn: Với quy mô dân số hơn 1,5 triệu người và không gian rộng lớn, việc chuyển đổi từ mô hình quản trị tỉnh truyền thống sang chính quyền đô thị cấp trực thuộc Trung ương đặt ra thách thức lớn về tư duy quản lý. Hệ thống hành chính cần sớm thích ứng với áp lực điều phối liên ngành phức tạp, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có năng lực quản trị thông minh và nhạy bén.

Ba là, thách thức về nguồn lực đầu tư: Nhu cầu vốn cho các công trình trọng điểm về hạ tầng số, hạ tầng giao thông kết nối và đô thị xanh là rất lớn. Việc huy động nguồn lực xã hội hóa trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động đòi hỏi tỉnh phải có các cơ chế tài chính linh hoạt, nhằm giảm áp lực ngân sách mà không làm chậm tiến độ các mục tiêu chiến lược.

Bốn là, thu hẹp chênh lệch phát triển vùng miền: Hiện nay, sự phát triển của tỉnh còn tập trung chủ yếu tại các trục đô thị ven biển. Bài toán đặt ra là phải khắc phục sự chênh lệch về hạ tầng xã hội và thu nhập giữa các vùng động lực với các khu vực miền núi, biên giới và hải đảo, đảm bảo phát triển bao trùm và công bằng xã hội.

Năm là, cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường: Trong quá trình đô thị hóa với tốc độ cao, việc kiểm soát ô nhiễm, quản lý rác thải và bảo tồn hệ sinh thái biển là những áp lực thường trực. Thách thức lớn nhất là duy trì chỉ số hạnh phúc của người dân gắn liền với tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển kinh tế không trả giá bằng môi trường.

Nhận diện rõ những hạn chế trên không phải để phủ nhận thành tựu, mà là cơ sở để Quảng Ninh tiếp tục tinh chỉnh lộ trình, khẳng định bản lĩnh của một địaphương tiên phong, không ngừng đổi mới để hiện thực hóa khát vọng thành phố trực thuộc Trung ương.

3. Nhận diện và phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương

Cùng với quá trình triển khai chủ trương xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị và một số tài khoản có định kiến trên không gian mạng đã gia tăng phát tán thông tin sai lệch nhằm phủ nhận tính đúng đắn của chủ trương này. Dưới nhiều hình thức khác nhau, các luận điệu xuyên tạc tập trung vào ba nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, luận điệu cho rằng tỉnh Quảng Ninh chưa đủ điều kiện để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là sự phủ nhận phiến diện những thành tựu phát triển toàn diện mà tỉnh đã đạt được trong nhiều năm qua. Trên thực tế, việc thành lập thành phố trực thuộc Trung ương không dựa trên ý chí chủ quan của địa phương mà phải tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn chặt chẽ theo Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2025 và Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc Bộ Chính trị đồng ý chủ trương tại Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/4/2026 chính là sự khẳng định chính trị và khoa học rằng, địa phương đã hội tụ đầy đủ các điều kiện cần thiết về hạ tầng giao thông đa phương thức, chất lượng đô thị hóa và năng lực quản trị hiện đại để đảm nhận vai trò cực tăng trưởng mới. Vì vậy, mọi hành vi cố tình phủ nhận các điều kiện thực tiễn của Quảng Ninh thực chất là phủ nhận thành quả đổi mới, cũng như sự nỗ lực bền bỉ trong chiến lược phát triển bền vững của Đảng bộ và Nhân dân toàn tỉnh.

Thứ hai, luận điệu quy chụp việc xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương chỉ là “chạy theo danh xưng” hay “phục vụ lợi ích nhóm”.

Nhận diện: Các thế lực thù địch thường sử dụng thủ đoạn đánh tráo khái niệm nguy hiểm, cố tình hạ thấp tầm vóc chiến lược của một quyết sách quốc gia thành những mục tiêu vụ lợi cục bộ, từ đó gieo rắc hoài nghi nhằm cản trở tiến trình hiện đại hóa bộ máy nhà nước. Về cơ sở khoa học và pháp lý: đây là luận điệu thiếu căn cứ, bởi chủ trương này không phải là ý chí đơn phương mà là sản phẩm của quá trình nghiên cứu khoa học kỹ lưỡng, được cụ thể hóa từ Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển bền vững đô thị Việt Nam. Quyết sách này là mảnh ghép không thể tách rời trong bản đồ phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng, phục vụ trực tiếp cho chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế.

Về thực tiễn: việc chuyển đổi mô hình hành chính ở Quảng Ninh thực chất là quá trình tái cấu trúc thể chế để khai mở các động lực phát triển mới, cụ thể thông qua: (1) Nâng cấp hạ tầng giao thông và số hóa quy trình quản trị để tạo “đường băng” cho dòng vốn FDI chất lượng cao; (2) Tăng cường liên kết vùng để hóa giải các điểm nghẽn về logistics và chuỗi cung ứng; (3) Tối ưu hóa nguồn lực địa phương nhằm tạo ra một cực tăng trưởng có khả năng tự chủ ngân sách, từ đó giảm áp lực lên ngân sách trung ương.  Vì vậy, bất kỳ sự quy chụp nào về “lợi ích nhóm” đều là sự xuyên tạc thô bạo, cố tình phớt lờ các luận chứng pháp lý và những thành quả thực tiễn mà Quảng Ninh đã đóng góp cho nền kinh tế quốc gia trong nhiều năm qua. Đây hoàn toàn là luận điệu phiến diện, thiếu cả căn cứ thực tiễn lẫn tư duy chiến lược.

Thứ ba, luận điệu cho rằng việc xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương sẽ làm phình to bộ máy, gây lãng phí nguồn lực, gia tăng nợ công và là biểu hiện của “bệnh thành tích” là cách nhìn phiến diện, hoàn toàn thiếu căn cứ.

Về cấu trúc bộ máy, đây là sự xuyên tạc phản khoa học khi phủ nhận xu hướng hiện đại hóa quản trị công. Thực tế, chủ trương này hướng tới mô hình chính quyền đô thị tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, tiêu biểu là việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận và ứng dụng mạnh mẽ quản trị số, dữ liệu dùng chung để vận hành hiệu quả mà không cần tăng thêm biên chế. Mô hình này hoàn toàn nhất quán với tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hoạt động vì lợi ích nhân dân.

Về kinh tế và nợ công, các lập luận cho rằng đây là gánh nặng ngân sách hoàn toàn thiếu cơ sở về kinh tế vĩ mô. Thực tế, đầu tư cho các đô thị trung tâm đóng vai trò “vốn mồi” tạo hiệu ứng tích tụ, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và xã hội hóa để tái tạo nguồn thu bền vững, tạo sức lan tỏa tăng trưởng cho toàn vùng thay vì gây mất cân bằng. Các đô thị trực thuộc Trung ương hiện nay đang đóng góp lớn cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tạo tiềm lực tài chính để Trung ương điều tiết, hỗ trợ ngược lại cho các vùng khó khăn và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia. Do đó, đây chính là giải pháp tối ưu hóa hiệu quả đầu tư công chứ không phải nguyên nhân gây nợ công. Về tính minh bạch và “bệnh thành tích”, việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương bắt buộc phải đáp ứng hệ thống tiêu chí định lượng khắt khe về dân số, hạ tầng và năng lực tự cân đối ngân sách theo quy định pháp luật. Toàn bộ quy trình lập đề án, thẩm định và phê duyệt đều được thực hiện công khai, dựa trên chiến lược phát triển dài hạn, hoàn toàn loại trừ yếu tố “bệnh thành tích” hay cảm tính nhiệm kỳ. Việc đồng nhất phát triển đô thị với lãng phí chỉ là luận điệu thiếu căn cứ, nhằm kích động tâm lý hoài nghi và cản trở sự đồng thuận xã hội đối với các chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước.

Những luận điệu nêu trên tuy khác nhau về hình thức biểu hiện nhưng đều có điểm chung là cố tình phủ nhận cơ sở khoa học, pháp lý và thực tiễn của chủ trương xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái này không chỉ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội và động lực chính trị quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong thời gian tới.

4. Giải pháp bảo vệ và triển khai hiệu quả chủ trương xây dựng Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

Một là, tăng cường thông tin, truyền thông, tạo sự đồng thuận xã hội.

Cấp ủy, chính quyền các cấp cần đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền về mục tiêu, lộ trình và ý nghĩa chiến lược của việc xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương theo tinh thần Kết luận số 20-KL/TW của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Cần khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” của Vùng mỏ làm nguồn lực nội sinh củng cố niềm tin. Đồng thời, chủ động nắm chắc tình hình tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng bằng thông tin chính thống; lấy thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội làm luận cứ sinh động để “bẻ gãy từ sớm, từ xa” các luận điệu gây hoài nghi đối với chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Hai là, thực hiện các khâu đột phá, chuyển dịch mô hình quản trị đô thị.

 Vận hành hệ thống chính trị theo hướng “tinh – gọn – mạnh – hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả” để đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại. Tập trung ba đột phá chiến lược gắn với nâng cao chất lượng đô thị hóa, ưu tiên phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức và liên kết vùng. Đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh tế số đóng góp quan trọng vào GRDP, tạo nền tảng tăng trưởng bền vững. Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, phát triển các khu kinh tế và cửa khẩu thông minh để định hình rõ nét cấu trúc đô thị biển đa trung tâm tích hợp theo mô hình “biển – đảo – biên giới – di sản”.

Ba là, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người và công bằng xã hội.

Quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, sử dụng thành quả kinh tế để nâng cao chỉ số hạnh phúc của nhân dân, duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP ổn định gắn với xóa bỏ hoàn toàn hộ nghèo theo chuẩn đa chiều. Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các đô thị động lực với vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Ưu tiên xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị hiện đại, hoàn thiện cơ chế thu hút nhân tài nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính trong kỷ nguyên phát triển mới.

Để hiện thực hóa chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị theo Kết luận số 20-KL/TW, đồng thời tạo xung lực bứt phá để Quảng Ninh sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh kiến nghị các cơ quan thẩm quyền hỗ trợ các nhóm giải pháp vĩ mô sau:

(1) Đối với Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ. Sớm ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, tập trung vào phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trong các lĩnh vực quản lý đầu tư công, quy hoạch đô thị, đất đai, kinh tế biển và liên kết vùng. Đây là yếu tố then chốt để địa phương chủ động phát huy lợi thế chiến lược và nâng cao năng lực quản trị. Đặc biệt, đề nghị cho phép thí điểm khung thể chế đột phá tại Vân Đồn theo mô hình đặc khu kinh tế thế hệ mới và cửa khẩu thông minh tại Móng Cái, nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng thu hút các tập đoàn chiến lược và dòng vốn FDI công nghệ cao.

(2) Đối với các Bộ, ban, ngành Trung ương. Đề nghị Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính cùng các cơ quan liên quan hỗ trợ tỉnh hoàn thiện Đề án phân loại đô thị, bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chí định lượng theo Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15. Ưu tiên nguồn lực hỗ trợ địa phương đồng bộ hóa hệ thống hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng số và cửa khẩu thông minh. Việc này không chỉ hoàn thiện tiêu chí đô thị loại I mà còn tối ưu hóa năng lực logistics, phát huy vai trò cực tăng trưởng động lực và tạo sức lan tỏa cho toàn vùng Đông Bắc.

(3) Đối với Ủy ban Điều phối vùng Đồng bằng sông Hồng và các địa phương phụ cận. Đẩy mạnh thực chất hóa các chương trình liên kết vùng quy mô lớn, tập trung chia sẻ hạ tầng cốt lõi (cao tốc, sân bay Vân Đồn, hệ thống cảng biển) và phối hợp quản lý môi trường biển.Liên kết chuỗi cung ứng công nghiệp xanh và hành lang du lịch di sản là giải pháp quan trọng bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa đô thị trung ương Quảng Ninh với không gian kinh tế vùng.Đây là luận cứ thực tiễn để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc về sự mất cân bằng phát triển, khẳng định tầm nhìn phát triển bao trùm trong kỷ nguyên mới.

5. Kết luận

Chủ trương xây dựng các thành phố trực thuộc Trung ương là định hướng chiến lược mang tầm vóc quốc gia, nhằm tái cấu trúc không gian phát triển, hình thành các cực tăng trưởng có sức lan tỏa và nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới. Trong dòng chảy chiến lược đó, Quảng Ninh đã và đang khẳng định vị thế của một địa phương “chín muồi” về mọi mặt, từ tiềm lực kinh tế, năng lực quản trị, hạ tầng đồng bộ đến khát vọng đổi mới. Những thành tựu thực tiễn là luận cứ đanh thép nhất để bẻ gãy mọi quan điểm sai trái, phiến diện về áp lực nợ công hay lợi ích nhóm. Sự phát triển của thành phố Quảng Ninh trong tương lai không chỉ là niềm tự hào của địa phương mà còn là đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng một nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hùng cường trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:
1. Đinh Nguyễn An (2026). Phản bác luận điệu xuyên tạc về tổ chức chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam. Tạp chí Cộng sản, ngày 18/5/2026.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
4. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
5. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
6. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
7. Bộ Chính trị (2026). Kết luận số 20-KL/TW ngày 07/4/2026 về chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương.
8. Bộ Xây dựng (2025). Báo cáo tổng kết Đề án “Phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030”.
9. Nguyễn Bá Chiến, Lê Hải Bình (đồng chủ biên) (2024). Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả: Cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
10. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030.
11. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển đất nước: Hiện trạng – Vấn đề đặt ra – Định hướng trong giai đoạn mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
12. Glaeser, E. (2011). Triumph of the City: How Our Greatest Invention Makes Us Richer, Smarter, Greener, Healthier, and Happier. Penguin Books.
13. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
14. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính.
15. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 về tiêu chuẩn đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính.
16. UBND tỉnh Quảng Ninh (2025). Báo cáo tình hình phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025.
17. UBND tỉnh Quảng Ninh (2026). Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương.
18. UN-Habitat (2022). World Cities Report 2022: Envisaging the Future of Cities. United Nations Human Settlements Program.
19. United Nations (2025). World Economic Situation and Prospects: Global Urban Governance and Sustainable Development. United Nations, New York.
20. World Economic Forum (2025). The Future of Urban Development and Services: Integrated Governance for Modern Cities. Geneva.