Phát huy sức mạnh toàn dân trên nền tảng liên minh công – nông: Bài học từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Promoting the strength of the entire people on the foundation of the worker -peasant alliance: lessons from the August Revolution of 1945

TS. Vũ Thị Duyên
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(Quanlynhanuoc.vn) – Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng điển hình cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng trên nền tảng liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy sức mạnh toàn dân trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; đồng thời, làm rõ những bài học kinh nghiệm chủ yếu về xác lập liên minh công nông làm nền tảng chiến lược, xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng vận dụng nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Từ khóa: Cách mạng Tháng Tám năm 1945; liên minh công nông; sức mạnh toàn dân; đại đoàn kết toàn dân tộc; Đảng Cộng sản Việt Nam.

Abstract: The victory of the August Revolution stands as a vivid demonstration of the strength of the great national unity bloc built on the foundation of the worker–peasant alliance under the leadership of the Communist Party of Vietnam. The article analyzes the theoretical and practical foundations for promoting the strength of the entire people during the August Revolution of 1945, while clarifying key lessons concerning the establishment of the worker–peasant alliance as a strategic foundation, the formulation of a correct and creative revolutionary line, and the maintenance of the Party’s leadership role. On that basis, the article proposes several orientations for applying these lessons to promote the strength of great national unity in the current cause of national construction and defense.

Keywords: August Revolution of 1945; worker–peasant alliance; people’s strength; great national unity; Communist Party of Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc luôn được xác định là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng. Quan điểm đó vừa xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, vừa kế thừa sâu sắc truyền thống “lấy dân làm gốc” của dân tộc Việt Nam. Thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc xây dựng và củng cố liên minh công – nông đã tạo nền tảng chính trị – xã hội vững chắc để tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh yêu nước và giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là minh chứng sinh động cho giá trị của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong bối cảnh hiện nay, đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức mới dưới tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp 4.0 và những biến động nhanh chóng của tình hình thế giới, khu vực. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: Phát huy sức mạnh Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để tạo động lực phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới1. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục vận dụng sáng tạo bài học phát huy sức mạnh toàn dân trên nền tảng liên minh công – nông từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân và tạo nền tảng chính trị – xã hội vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

2. Cơ sở hình thành bài học phát huy sức mạnh toàn dân trên nền tảng liên minh công nông

Phát huy sức mạnh toàn dân trên nền tảng liên minh công – nông là quan điểm có tính nguyên tắc của cách mạng vô sản, đồng thời là cơ sở lý luận quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm này được hình thành trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và từng bước phát triển thành đường lối chiến lược xuyên suốt của Đảng trong tiến trình cách mạng.

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, là lực lượng quyết định sự phát triển của xã hội. Trong mọi cuộc cách mạng xã hội, nhân dân là đối tượng được giải phóng, lực lượng trực tiếp thực hiện sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, cách mạng muốn giành thắng lợi phải biết giác ngộ, tổ chức và phát huy sức mạnh của đông đảo quần chúng nhân dân. V.I. Lênin khẳng định: “Cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức và bóc lột”2; không có sự tham gia tích cực của quần chúng thì không thể có thắng lợi cách mạng.

Trong thời đại cách mạng vô sản, chủ nghĩa Mác – Lênin đặc biệt đề cao vai trò của liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Đây là cơ sở chính trị – xã hội quan trọng để giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo cách mạng. Giai cấp công nhân, với tính tiên tiến, tinh thần cách mạng triệt để và ý thức tổ chức, kỷ luật cao, là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản. Trong điều kiện các nước nông nghiệp, lực lượng công nhân thường không chiếm đa số trong xã hội; do đó, muốn tạo nên sức mạnh cách mạng rộng lớn, giai cấp công nhân phải xây dựng được liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân – lực lượng xã hội đông đảo nhất.

Lênin cho rằng, cách mạng chỉ có thể phát triển mạnh mẽ khi có sự tham gia của đông đảo quần chúng nông dân bên cạnh giai cấp vô sản. Ông khẳng định: “Quần chúng nông dân, với tư cách là người làm cách mạng tích cực, cùng hành động bên cạnh giai cấp vô sản, thì quy mô cách mạng mới thực sự phát triển”3. Do đó, liên minh công – nông không chỉ là yêu cầu khách quan của cách mạng mà còn là nền tảng để mở rộng khối đoàn kết xã hội, tập hợp các lực lượng bị áp bức tham gia đấu tranh cách mạng.

Đối với Việt Nam, việc phát huy sức mạnh toàn dân trên nền tảng liên minh công – nông còn bổ sung và phát triển bởi tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc. Kế thừa truyền thống “lấy dân làm gốc” của dân tộc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ sức mạnh đoàn kết của Nhân dân. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”4. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, chiến lược lâu dài, là nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liên minh công – nông giữ vai trò nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Người xác định công nhân và nông dân là “gốc cách mệnh”, là lực lượng chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp một cách máy móc mà luôn đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu trong điều kiện Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến. Trên nền tảng liên minh công – nông, cách mạng cần mở rộng đoàn kết với mọi giai cấp, tầng lớp, cá nhân yêu nước nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong đấu tranh giành độc lập.

Kế thừa chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công – nông là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam. Ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930, Đảng đã xác định công nhân và nông dân là lực lượng nền tảng của cách mạng, đồng thời chủ trương liên hiệp với các giai cấp, tầng lớp yêu nước để thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Quan điểm đó tiếp tục được bổ sung, phát triển trong các thời kỳ cách mạng, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, mọi thắng lợi của cách mạng đều gắn liền với việc phát huy sức mạnh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, cao trào dân chủ 1936 – 1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945, liên minh công – nông luôn giữ vai trò nòng cốt trong tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng. Chính trên nền tảng đó, Đảng đã xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân rộng lớn, tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đi đến thắng lợi.

Việc phát huy sức mạnh toàn dân trên nền tảng liên minh công – nông là sự kết hợp giữa lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nền tảng tư tưởng của thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà còn tiếp tục giữ nguyên giá trị định hướng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

3. Bài học kinh nghiệm phát huy sức mạnh toàn dân từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945

3.1. Kiên định liên minh công nông là nền tảng chiến lược của cách mạng

Một trong những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa xuyên suốt từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là Đảng luôn kiên định xác lập liên minh công – nông là nền tảng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc về chính trị và cơ sở quyết định để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 cho thấy, trong điều kiện xã hội thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là hai lực lượng xã hội cơ bản có quyền lợi gắn bó mật thiết với nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến, công nhân bị áp bức, bóc lột nặng nề trong các hầm mỏ, đồn điền, nhà máy; trong khi nông dân – lực lượng chiếm đại đa số dân cư – bị tước đoạt ruộng đất, đời sống cực khổ, lầm than. Chính điều kiện kinh tế – xã hội đó đã tạo nên cơ sở khách quan để hình thành liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân trong đấu tranh cách mạng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã xác định công – nông là lực lượng nền tảng của cách mạng. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng khẳng định phải “thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình”, đồng thời “dựa vào dân cày nghèo” để thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Quan điểm đó thể hiện sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, đồng thời phản ánh nhận thức sâu sắc của Đảng về vai trò của liên minh công – nông đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho thấy, việc giữ vững vai trò nền tảng của liên minh công – nông là điều kiện tiên quyết để xây dựng lực lượng cách mạng rộng lớn. Giai cấp công nhân, mặc dù số lượng chưa nhiều nhưng với tinh thần cách mạng triệt để, ý thức tổ chức và kỷ luật cao, đã giữ vai trò lãnh đạo thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản. Trong khi đó, giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, có khả năng tạo nên sức mạnh to lớn cho phong trào cách mạng. Chính sự liên kết chặt chẽ giữa hai giai cấp này đã tạo thành nền tảng chính trị – xã hội vững chắc để Đảng mở rộng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bài học kinh nghiệm cho Đảng về việc quan tâm giải quyết lợi ích thiết thực của công nhân và nông dân nhằm củng cố liên minh công – nông từ gốc rễ kinh tế – xã hội. Trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng đều đề ra các chủ trương phù hợp với nguyện vọng của quần chúng lao động như đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ; giảm tô, giảm tức; chia lại ruộng công; chống sưu cao, thuế nặng… Những chủ trương đó không chỉ động viên quần chúng tham gia cách mạng mà còn củng cố niềm tin của công nhân, nông dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chứng minh rằng, khi liên minh công – nông được xây dựng vững chắc thì cách mạng có cơ sở xã hội rộng lớn và sức mạnh chính trị to lớn để phát triển. Ngược lại, nếu xem nhẹ vai trò của liên minh công – nông hoặc xa rời lợi ích của quần chúng lao động thì phong trào cách mạng sẽ khó giữ được tính ổn định và sức mạnh bền vững. Chính vì vậy, kiên định liên minh công – nông không chỉ là bài học của thời kỳ đấu tranh giành chính quyền mà còn là nguyên tắc chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, cơ cấu xã hội đã có nhiều biến đổi, song bài học về giữ vững vai trò nền tảng của liên minh công – nông vẫn còn nguyên giá trị. Liên minh công nhân – nông dân – trí thức tiếp tục là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ sở chính trị – xã hội quan trọng để bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục củng cố liên minh công – nông, chăm lo lợi ích của người lao động và phát huy vai trò của Nhân dân vẫn là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

3.2. Xây dựng đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo để phát huy sức mạnh toàn dân tộc

Bài học kinh nghiệm nổi bật từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là Đảng đã xây dựng được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu khách quan của từng giai đoạn lịch sử.

Một là, Đảng luôn kiên định mục tiêu chiến lược của cách mạng nhưng rất linh hoạt trong xác định nhiệm vụ cụ thể và phương pháp đấu tranh. Trong điều kiện xã hội Việt Nam là thuộc địa nửa phong kiến, Đảng đã nhận thức đúng mâu thuẫn chủ yếu của xã hội là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân xâm lược và tay sai phản động. Trên cơ sở đó, Đảng kịp thời chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, coi độc lập dân tộc là mục tiêu trước mắt có ý nghĩa quyết định. Việc đặt nhiệm vụ dân tộc lên hàng đầu không đồng nghĩa với việc xem nhẹ vấn đề giai cấp. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn giữ vững quan điểm lấy liên minh công – nông làm nền tảng, đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữa mục tiêu lâu dài và nhiệm vụ trước mắt.

Trong phong trào dân chủ 1936 – 1939, Đảng chủ trương đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, chống chế độ phản động thuộc địa. Những yêu sách về giảm sưu thuế, tăng lương, cải thiện điều kiện lao động, quyền tự do dân chủ… đã đáp ứng đúng nguyện vọng thiết thực của quần chúng lao động, qua đó thu hút đông đảo công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào cách mạng. Đến giai đoạn 1939 – 1945, khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc trở nên cấp bách, Đảng tiếp tục đề ra các chủ trương, như: giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công, tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian.

Hai là, Đảng luôn chú trọng đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp vận động quần chúng phù hợp với từng đối tượng xã hội. Trên nền tảng liên minh công – nông, Đảng chủ trương xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo hay xu hướng chính trị. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh năm 1941 là minh chứng điển hình cho tư duy chiến lược đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong nghệ thuật tập hợp lực lượng cách mạng. Thông qua Mặt trận Việt Minh, Đảng đã kết nối được lợi ích của các giai tầng xã hội vào mục tiêu chung là giải phóng dân tộc. Công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, đồng bào các dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo và nhiều cá nhân yêu nước đều được tập hợp trong một mặt trận thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Việc Đảng vận dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp đấu tranh cách mạng. Từ đấu tranh chính trị, đấu tranh dân sinh, dân chủ đến đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa từng phần, Đảng đều lựa chọn phương thức phù hợp với tương quan lực lượng và yêu cầu thực tiễn của từng thời kỳ. Đảng đã kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, giữa đấu tranh ở nông thôn với đấu tranh ở thành thị, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Thực tiễn cách mạng, Đảng luôn gắn công tác xây dựng lực lượng với quá trình đấu tranh thực tiễn của quần chúng. Thông qua các phong trào cách mạng, quần chúng nhân dân giác ngộ về chính trị, rèn luyện ý chí đấu tranh, nâng cao tinh thần tổ chức và bản lĩnh cách mạng. Chính thực tiễn đấu tranh đã làm cho liên minh công – nông ngày càng trưởng thành, trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, giữ vai trò nòng cốt trong cuộc đấu tranh giành chính quyền.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khẳng định, phát huy sức mạnh toàn dân không thể chỉ dừng lại ở việc tập hợp lực lượng một cách cơ học mà phải được đặt dưới sự lãnh đạo của một đường lối cách mạng đúng đắn, khoa học và sáng tạo. Chỉ khi giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa tính nguyên tắc và sự linh hoạt trong phương pháp cách mạng thì mới có thể quy tụ và phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc.

3.3. Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng nhân tố quyết định phát huy sức mạnh toàn dân tộc

Về phương diện lý luận, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thông qua đội tiên phong chính trị là Đảng Cộng sản. Đảng là lực lượng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc; đồng thời là trung tâm lãnh đạo, tổ chức và định hướng phong trào cách mạng. Không có sự lãnh đạo của Đảng, phong trào quần chúng dù rộng lớn cũng khó tránh khỏi tình trạng phân tán, tự phát và thiếu định hướng chiến lược.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng. Người khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công”5. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng giữ vai trò đề ra đường lối đúng đắn, nhân tố quy tụ, tổ chức và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong đấu tranh cách mạng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với Việt Nam – một nước thuộc địa nửa phong kiến với nhiều giai cấp, tầng lớp và lực lượng xã hội khác nhau.

Thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho thấy, chính sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đã tạo nên sự thống nhất về mục tiêu, ý chí và hành động trong toàn dân tộc. Đảng không chỉ xây dựng được liên minh công – nông làm nền tảng mà còn biết mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc, tập hợp mọi lực lượng yêu nước hướng vào mục tiêu chung là giành độc lập dân tộc. Trong quá trình đó, Đảng luôn giữ vai trò trung tâm lãnh đạo, bảo đảm cho phong trào cách mạng phát triển đúng hướng, không rơi vào tình trạng thỏa hiệp, cải lương hoặc lệch hướng chính trị.

Bài học sâu sắc về giữ vững vai trò lãnh đạo, Đảng phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng của quần chúng nhân dân; đồng thời, biết dựa vào dân để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng. Chính mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân đã tạo nên cơ sở xã hội vững chắc cho vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định trong việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc và đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Đây là bài học lịch sử có giá trị sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trong bối cảnh mới, việc tiếp tục giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước.

4. Vận dụng bài học phát huy sức mạnh toàn dân trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “lấy dân làm gốc”, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Thực tiễn lịch sử đã khẳng định, sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ sức mạnh của Nhân dân. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, cần cụ thể hóa quan điểm này thành các cơ chế, chính sách bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nâng cao hiệu quả các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách công. Việc công khai, minh bạch thông tin, tăng cường đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân sẽ góp phần phát huy trí tuệ, trách nhiệm và tinh thần đồng thuận xã hội. Đây cũng là cơ sở quan trọng để củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân trong điều kiện mới.

Thứ hai, không ngừng củng cố và nâng cao chất lượng liên minh công nông trí thức, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong điều kiện hiện nay, liên minh công – nông – trí thức tiếp tục giữ vai trò nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, liên minh này cần được củng cố và phát triển ở trình độ cao hơn. Đảng và Nhà nước cần có chính sách đồng bộ nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Đối với công nhân, cần chú trọng bảo đảm việc làm, tiền lương, điều kiện lao động và an sinh xã hội. Đối với nông dân, cần thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập cho người dân. Đối với đội ngũ trí thức, cần xây dựng môi trường thuận lợi để phát huy năng lực sáng tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ. Đồng thời, cần tăng cường gắn kết giữa công nhân, nông dân và trí thức trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao trình độ dân trí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0. Ngoài ra, cần mở rộng liên minh này với đội ngũ doanh nhân và các lực lượng xã hội mới nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.

Thứ ba, đổi mới nội dung và phương thức tập hợp quần chúng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện mới.

Kế thừa bài học từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, việc tập hợp và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân cần được tiến hành bằng những hình thức linh hoạt, phù hợp với bối cảnh mới. Hiện nay, cơ cấu xã hội có nhiều biến đổi, xuất hiện nhiều nhóm xã hội mới với nhu cầu và đặc điểm khác nhau. Vì vậy, các tổ chức chính trị – xã hội cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động theo hướng thiết thực, hiệu quả và gần dân hơn. Công tác vận động quần chúng cần gắn với giải quyết những vấn đề cụ thể, thiết thực liên quan trực tiếp đến đời sống của Nhân dân. Phát huy vai trò của truyền thông, mạng xã hội và các nền tảng số trong tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội. Việc tăng cường đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân sẽ góp phần nâng cao sự đồng thuận xã hội và hạn chế các nguy cơ phát sinh mâu thuẫn. Bên cạnh đó, cần chú trọng phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong giám sát, phản biện xã hội và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhân dân. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển công nghệ thông tin, việc tập hợp quần chúng không chỉ diễn ra trong không gian thực mà còn trên không gian mạng. Vì vậy, cần xây dựng môi trường thông tin lành mạnh nhằm củng cố niềm tin xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữa mục tiêu lâu dài và lợi ích trước mắt của các tầng lớp nhân dân.

Một trong những bài học quan trọng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biết giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích để tập hợp lực lượng cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, bài học đó tiếp tục có giá trị sâu sắc đối với quá trình phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước cần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, cần quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội như chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội và khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Việc chăm lo đời sống của các nhóm yếu thế trong xã hội không chỉ mang ý nghĩa nhân văn mà còn góp phần củng cố ổn định chính trị – xã hội. Trong quá trình phát triển, cần kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong điều kiện hội nhập quốc tế và cạnh tranh kinh tế ngày càng gay gắt. Các chính sách phát triển phải hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi người dân. Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích sẽ góp phần tạo sự đồng thuận xã hội và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ năm, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với mở rộng đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát huy sức mạnh dân tộc cần gắn liền với tranh thủ hiệu quả các nguồn lực quốc tế. Việt Nam cần tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đồng thời, cần chủ động tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế nhằm nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại sẽ tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong việc quảng bá hình ảnh đất nước, thu hút đầu tư và chuyển giao tri thức. Công tác đối ngoại nhân dân cũng cần được tăng cường nhằm mở rộng tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Trong điều kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng phức tạp, Việt Nam cần giữ vững nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tận dụng các thành tựu của khoa học – công nghệ và chuyển đổi số để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc kết hợp hiệu quả giữa nội lực và ngoại lực sẽ góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước trong thời kỳ mới.

Thứ sáu, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng nhân tố quyết định bảo đảm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, việc giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng tiếp tục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đảng cần không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh chính trị để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng khoa học, dân chủ và sát thực tiễn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được đẩy mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Việc kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Bên cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn cao và tinh thần trách nhiệm trước Nhân dân. Đảng cũng cần tăng cường gắn bó mật thiết với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước.

5. Kết luận

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khẳng định sức mạnh của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công – nông dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây không chỉ là bài học lịch sử có giá trị lý luận sâu sắc mà còn là quy luật thành công của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục phát huy sức mạnh toàn dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đòi hỏi phải củng cố vững chắc liên minh công – nông – trí thức, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội và đổi mới phương thức tập hợp quần chúng phù hợp với điều kiện mới. Đồng thời, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng tiếp tục là nhân tố quyết định để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 10.
2, 3. V.I. Lênin toàn tập (1979). Tập 11. NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 131, 114.
4.  Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 453.
5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 289.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Tuyên giáo Trung ương – Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Trịnh Nhu, Trần Trọng Thơ (2012). Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi đầu tiên của cách mạng Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Tổng cục Chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam (2007). Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tập 1. H. NXB Quân đội nhân dân.
4. Viện lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tập 1 (1930 – 1945). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Tăng cường liên minh công – nông – trí theo tư tưởng Hồ Chí Minh. https://nhandan.vn/tang-cuong-lien-minh-cong-nong-tri-theo-tu-tuong-ho-chi-minh-post879749.html
6. Tăng cường liên minh công nhân – nông dân – trí thức – vấn đề chiến lược của cách mạng nước ta hiện nay. https://mattran.org.vn/chuong-trinh-phoi-hop/tang-cuong-lien-minh-cong-nhan-nong-dan-tri-thuc-van-de-chien-luoc-cua-cach-mang-nuoc-ta-hien-nay-56210.html
7. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân: thành tựu và giải pháp. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/17/phat-huy-suc-manh-khoi-dai-doan-ket-toan-dan-thanh-tuu-va-giai-phap/