Refuting erroneous allegations of antagonism between the state economy and the private economy in Vietnam
TS. Nguyễn Thị Tình
Trường Kinh tế Phenikaa, Đại học Phenikaa
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích nền tảng lý luận của Đảng về phát triển đồng thời kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân; cập nhật thực trạng hai khu vực kinh tế bằng số liệu thực tế; đặc biệt, tập trung phản bác các luận điệu sai trái cho rằng, hai khu vực kinh tế đối lập, triệt tiêu nhau. Từ lập trường chính luận – học thuật, bài viết khẳng định sự bổ trợ vai trò giữa hai khu vực kinh tế, xác định rõ đây là hai trụ cột quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đặc biệt trong kỷ nguyên phát triển mới hiện nay.
Từ khóa: Kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đập tan luận điệu sai trái.
Abstract: This article analyzes the Communist Party of Vietnam’s theoretical foundations for the parallel development of the state sector and the private sector. It updates the current status of both sectors using empirical data and, in particular, critically examines and refutes the erroneous claims that the two sectors are inherently contradictory and mutually exclusive. From both theoretical and academic perspectives, the article affirms the complementary roles of the state and private sectors, arguing that they constitute two essential pillars of Vietnam’s socialist-oriented market economy, particularly in the current new era of development.
Keywords: Private sector; state sector; socialist-oriented market economy; refuting erroneous allegations.
1. Đặt vấn đề
Một thủ đoạn xuyên tạc được dựng lên về chiêu bài “xung đột” giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân nhằm công kích đường lối phát triển kinh tế của đất nước ta đã và đang xuất hiện. Tuy nhiên, cách mà những thế lực thù địch này làm không có gì lạ, vẫn là lối nghĩ: khi Đảng mở rộng không gian cho kinh tế tư nhân thì chúng hô hoán rằng, đó là “rút lui khỏi chủ nghĩa xã hội”; khi Đảng khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thì chúng quay sang quy kết là “bảo lưu đặc quyền, đặc lợi”; khi Đảng ta đồng thời ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước thì các thế lực phản động, thù địch này lại cố tình tách hai văn bản ra khỏi chỉnh thể nhận thức để mục đích rêu rao rằng, Đảng “mâu thuẫn với chính mình”. Nhưng bản chất của vấn đề không nằm ở sự mâu thuẫn của đường lối; mâu thuẫn nằm trong dụng ý của kẻ xuyên tạc, vì các thế lực phản động cố tình cắt đứt mối liên hệ biện chứng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để xuyên tạc, bác bỏ về đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng.
Khoản 2 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác lập rất rõ cấu trúc nền tảng của nền kinh tế nước: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; “các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Ở đây, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước rất rõ ràng: phát triển kinh tế nhà nước không đồng nghĩa với việc mọi nguồn lực đều phải tập trung vào khu vực công; phát triển kinh tế tư nhân không đồng nghĩa với xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đó là mô hình phát triển đặc thù, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều tiết, bảo vệ lợi ích của quốc gia và các cân đối lớn; còn kinh tế tư nhân là nguồn lực nội sinh lớn để giải phóng sức sản xuất, đổi mới sáng tạo và tạo công ăn việc làm.
Trong mô hình phát triển kinh tế của đất nước, vấn đề không phải là chọn giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân mà là đặt đúng vai trò, đúng phạm vi, đúng chức năng của từng khu vực kinh tế trong một chỉnh thể thống nhất để tất cả cùng hướng vào mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nói cách khác, phải đập tan ngay từ trong nhận thức thủ đoạn chia tách giả tạo giữa “chủ đạo” của kinh tế nhà nước và “động lực” phát triển của kinh tế tư nhân, giữa “kiến tạo” và “sáng tạo”, giữa “ổn định” và “phát triển”. Nếu cách hiểu sai ấy lan rộng, hậu quả không chỉ dừng ở ngộ nhận kinh tế, mà còn trực tiếp làm xói mòn niềm tin chính trị vào con đường phát triển mà Đảng đã lựa chọn và đang kiên định để hiện thức hóa mục tiêu.
2. Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân
Đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thành phần không phải là sản phẩm ứng biến nhất thời, mà là kết quả của một quá trình tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy và phát triển lý luận từ công cuộc Đổi mới đến nay. Từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng đã nhìn nhận khách quan về nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Trong Cương lĩnh năm 1991, tư duy đó tiếp tục được định hình trong suốt thời kỳ quá độ; Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) tạo thêm cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân; Đại hội X của Đảng (năm 2006) chính thức khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; Hiến pháp năm 2013 đưa ra nguyên tắc bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật của các thành phần kinh tế; Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) xác định phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đến năm 2025, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục đột phá khi dùng mệnh đề “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Đó là một đường thẳng phát triển nhận thức, không phải một đường gấp khúc ý chí.
Điều cần nhấn mạnh là sự phát triển nhận thức đó không hề làm phai nhạt vai trò của kinh tế nhà nước. Trái lại, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị nhấn mạnh rất rõ kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh, góp phần bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội. Ở chiều ngược lại, Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; đồng thời kinh tế tư nhân cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế.
Xét trên bình diện lý luận, quan điểm của Đảng là một hệ thống hoàn chỉnh chứ không phải một tập hợp khẩu hiệu rời rạc. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không có nghĩa là kinh tế nhà nước ôm đồm toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất không có nghĩa là tư nhân nắm quyền chi phối định hướng phát triển quốc gia. “Chủ đạo” là phạm trù nói về vai trò định hướng, dẫn dắt, điều tiết, bảo đảm nền tảng và kiểm soát các lĩnh vực thiết yếu; “động lực” là phạm trù nói về lực đẩy tăng trưởng, sự năng động, đổi mới sáng tạo và khả năng huy động nguồn lực xã hội. Hai phạm trù ấy khác nhau về chức năng, nhưng thống nhất ở mục tiêu phát triển quốc gia. Khi hiểu được sự khác nhau ấy, mọi luận điệu về “đối kháng giả tạo” tự khắc sụp đổ.
3. Thực trạng phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
Thực tiễn phát triển hiện nay càng cho thấy tính đúng đắn của cách tiếp cận “chủ đạo” của kinh tế nhà nước – “động lực” của kinh tế tư nhân mà Đảng đề ra. Về phía kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã chỉ ra “hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động…”.
Đối với khu vực kinh tế nhà nước, những năm đầu đổi mới mức đóng góp của khu vực này là hơn 40% GDP. Tuy nhiên, tỷ trọng này hiện giảm một nửa và quy mô doanh thu tăng gấp 7 lần so với cách đây hai thập kỷ1.

Số lượng doanh nghiệp của 2 khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân cũng có sự biến động tương đối trong thời gian qua (Bảng 1).
Bảng 1: Số lượng doanh nghiệp
| Loại hình doanh nghiệp | Bình quân giai đoạn 2016-2020 | 2022 | 2023 |
| Khu vực doanh nghiệp nhà nước | 2.300 | 1.880 | 1.804 |
| Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (Khu vực tư nhân) | 585.862 | 710.646 | 751.935 |
| Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài | 17.612 | 22.929 | 24.690 |
| Tổng | 605.774 | 735.455 | 778.429 |
Năm 2000, số lượng doanh nghiệp khu vực nhà nước là 5.759 doanh nghiệp, đến năm 2023, giảm còn 1.804 doanh nghiệp (giảm gần 3,2 lần), trong khi số lượng doanh nghiệp khu vực tư nhân tăng từ 31.767 doanh nghiệp năm 2000 lên đến 751.935 doanh nghiệp năm 2023 (tăng khoảng 23,6 lần)2. Số lượng doanh nghiệp tăng lên không đồng nghĩa với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tốt hơn nhưng nếu một khu vực kinh tế vừa mở rộng nhanh về quy mô, vừa tạo việc làm lớn nhất, lại vừa giữ tỷ trọng vốn xã hội cao nhất thì không thể coi đó là một thành phần phụ trợ.
Về phía kinh tế nhà nước, cần nhìn bằng khung khái niệm mà Nghị quyết số 79- NQ/TW đã xác lập, thay vì thu hẹp nó thành một vài doanh nghiệp công ích hay một vài tập đoàn, tổng công ty. Kinh tế nhà nước bao gồm đất đai, tài nguyên, ngân sách, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hệ thống kết cấu hạ tầng, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 50% vốn điều lệ trở xuống và các đơn vị sự nghiệp công lập3. Chính vì vậy, sức nặng của kinh tế nhà nước không chỉ đo bằng số lượng doanh nghiệp hay tỷ lệ lao động trực tiếp mà còn phải đo bằng năng lực giữ ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh tài chính, hạ tầng chiến lược, khả năng can thiệp khi thị trường xuất hiện thất bại và khả năng bảo đảm những dịch vụ công thiết yếu mà thị trường không thể hoặc không muốn cung ứng đầy đủ. Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng thẳng thắn chỉ rõ các hạn chế của khu vực kinh tế nhà nước, như: chính sách, pháp luật chậm đổi mới; quản lý, khai thác nhiều nguồn lực chưa hiệu quả; lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước còn diễn ra; doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa tương xứng với vị trí và nguồn lực nắm giữ; năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; chưa thực sự đi đầu trong đổi mới sáng tạo ở nhiều lĩnh vực then chốt,… Từ đó dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn của kinh tế nhà nước kém hơn khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Hình 2)4.

4. Nhận diện và đập tan các luận điệu sai trái về sự đối kháng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân
Các luận điệu xuyên tạc về sự đối kháng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân ở Việt Nam tập trung vào một số vấn đề cốt lõi sau:
Một là, đánh tráo khái niệm “chủ đạo” của kinh tế nhà nước và “động lực” của kinh tế tư nhân.
Luận điệu này cố tình cho rằng, kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước “đối kháng” là một sản phẩm xuyên tạc có chủ ý, không phải là một nhận định khoa học. Nó không đứng vững cả về mặt khái niệm, pháp lý, thực tiễn lẫn logic chính trị. Sức sống của nó chỉ đến từ một thứ kỹ xảo rất rẻ tiền: đánh tráo thuật ngữ, cắt xén văn bản, lấy hiện tượng cục bộ thay bản chất của mô hình, rồi kích động tâm lý sợ hãi hoặc ngộ nhận trong xã hội. Nếu không bóc trần từng lớp ngụy biện ấy, người đọc rất dễ bị cuốn vào cái bẫy nghe có vẻ hợp lý nhưng thực chất là phản lý luận và phản thực tiễn.
Trò đánh tráo đầu tiên của các luận điệu sai trái là cố tình biến hai khái niệm khác chức năng thành hai khái niệm phải tranh ngôi. “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” là mệnh đề nói về vai trò dẫn dắt chiến lược, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, quốc phòng, an ninh và khả năng can thiệp khi cần thiết. “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” là mệnh đề nói về sức huy động vốn xã hội, tạo việc làm, đổi mới sáng tạo, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh. Một bên nhấn mạnh vào vai trò chủ thể kiến tạo và bảo đảm nền tảng; một bên nhấn mạnh vào lực đẩy tăng trưởng và sự năng động của thị trường. Chủ đạo không có nghĩa là bao trùm mọi hoạt động. Động lực không có nghĩa là chi phối mọi mục tiêu phát triển. Chỉ khi cố tình đánh tráo hai phạm trù ấy, người ta mới có thể dựng lên một cuộc chiến giành vai tưởng tượng. Đó là thủ đoạn tư duy thiếu lương thiện, bởi quan điểm, đường lối của Đảng và chế định của Hiến pháp đã khẳng định rõ: các thành phần kinh tế là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cùng cạnh tranh lành mạnh.
Hai là, thu hẹp và bóp méo phạm vi kinh tế nhà nước.
Trò đánh tráo tinh vi hơn khi những thế lực phản động cố tình thu hẹp kinh tế nhà nước thành một nhóm doanh nghiệp nhà nước kinh doanh chưa hiệu quả, rồi lại mở rộng kinh tế tư nhân thành một phần năng động nhất của nền kinh tế, sau đó đem hai đối tượng không cùng cấp độ để so sánh. Đó là một phép so sánh khập khiễng và sai từ gốc rễ. Nghị quyết số 79-NQ/TW đã nêu rõ: kinh tế nhà nước bao gồm toàn bộ nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, vì vậy, nếu chỉ dùng vài doanh nghiệp nhà nước thua lỗ để phủ nhận vai trò của toàn bộ kinh tế nhà nước thì cũng vô lý hệt như việc dùng vài doanh nghiệp tư nhân gian dối để kết luận toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân là làm ăn. Do đó, một lập luận công bằng là phải nhìn đúng phạm vi khái niệm, còn nếu một lập luận cố tình thu hẹp để bôi đen chính là ý đồ tuyên truyền xấu, độc hại.
Phải khẳng định rõ, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nhà nước và thị trường không đứng ở hai đầu chiến tuyến. Nhà nước không mâu thuẫn với thị trường mà Nhà nước xây dựng thể chế, định hướng, điều tiết và can thiệp để thị trường vận hành hiệu quả hơn, công bằng hơn. Vì vậy, kinh tế nhà nước không được thiết kế để bóp chết động lực thị trường, mà được thiết kế để tạo nền tảng vật chất và năng lực can thiệp chiến lược mà một quốc gia hiện đại không thể thiếu. Hạ tầng lớn, an ninh năng lượng, an ninh tài chính, hạ tầng số, quốc phòng, các dịch vụ công thiết yếu và các cân đối lớn của nền kinh tế không thể chỉ phó mặc cho lợi ích ngắn hạn của từng doanh nghiệp riêng lẻ. Trên chính nền tảng ấy, kinh tế tư nhân mới có không gian an toàn, môi trường lành mạnh để đầu tư dài hạn, mở rộng sản xuất, tham gia chuỗi giá trị và đổi mới công nghệ.
Thực tiễn khu vực ngoài nhà nước đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong khi khu vực nhà nước vẫn duy trì vai trò đáng kể trong đầu tư dẫn dắt (Hình 3)5.

Tương quan này cho thấy, Nhà nước không hề ôm hết nguồn lực; ngược lại, khu vực tư nhân đang là lực lượng huy động vốn xã hội mạnh nhất. Nhưng chính điều đó cũng không làm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước mất đi, bởi một nền kinh tế không chỉ được đo bằng vốn đầu tư tư nhân mà còn được đo bằng chất lượng hạ tầng kinh tế xã hội, khả năng ứng phó biến động, an toàn hệ thống tài chính, khả năng bảo đảm những dịch vụ công thiết yếu và năng lực giữ ổn định vĩ mô trước các cú sốc. Ai cố tình chỉ lấy một chỉ tiêu để phủ quyết toàn bộ cấu trúc chức năng của nền kinh tế thực chất đang dùng cách nhìn cơ giới để xuyên tạc một mô hình phát triển phức hợp.
Một thủ đoạn khác là lấy những yếu kém có thật của doanh nghiệp nhà nước để kết luận rằng kinh tế nhà nước nói chung là gánh nặng, vật cản hoặc vùng cấm của cải cách. Cách suy diễn ấy đánh vào tâm lý bức xúc nên rất dễ gây cộng hưởng. Nhưng phải phân biệt cho rạch ròi: phê phán yếu kém và phủ định vai trò là hai việc hoàn toàn khác nhau. Nghị quyết số 79-NQ/TW không tô hồng khu vực này mà thừa nhận những hạn chế, bất cập của kinh tế nhà nước. Chính vì nhìn thẳng những hạn chế đó, Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, bao gồm từ đổi mới mạnh mẽ tư duy nhận thức đến hành động quyết liệt trong cải cách, rà soát, sáp nhập, giải thể… các đơn vị không hoạt động hiệu quả, tách bạch rõ hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh, áp dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế ở tất cả các khâu, các tổ chức, đơn vị. Nói cách khác, giải pháp của Đảng là nâng cao vai trò chủ đạo bằng cải cách, đổi mới, chứ không phải che giấu khuyết tật để duy trì sự trì trệ, yếu kém. Vì vậy, nếu có kẻ lợi dụng mặt yếu của doanh nghiệp nhà nước để phủ định toàn bộ chức năng của kinh tế nhà nước, nghĩa là đang cố tình xóa luôn cả yêu cầu bảo vệ lợi ích công và năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia.
Ba là, tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước.
Phải vạch trần một ngụy biện phổ biến: doanh nghiệp nhà nước chưa hiệu quả thì tư nhân hóa tự khắc hiệu quả. Lập luận này vừa phi khoa học, vừa phi thực tế. Tư nhân không tự động đồng nghĩa với hiệu quả tuyệt đối, minh bạch tuyệt đối hay trách nhiệm xã hội tuyệt đối. Trong bất kỳ khu vực nào, nếu thể chế lỏng lẻo, giám sát yếu, lợi ích nhóm lộng hành thì tiêu cực đều có thể xuất hiện. Không thể tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân để phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; cả hai khu vực đều có những đơn vị làm ăn hiệu quả và những đơn vị yếu kém cần khắc phục. Vấn đề không phải là xóa khu vực nào mà là xây dựng một khung thể chế đủ mạnh để khu vực nào cũng vận hành hiệu quả, lành mạnh, đúng luật, đúng chức năng và chịu trách nhiệm giải trình trước xã hội. Nếu bỏ mất điểm tựa lý luận ấy, rất dễ rơi vào thứ giáo điều mới: giáo điều thị trường cực đoan, coi mọi thứ công là kém, mọi thứ tư là tốt.
Một luận điệu khác cho rằng, nếu đề cao vai trò “động lực” của kinh tế tư nhân thì tất yếu sẽ dẫn tới tư nhân hóa các lĩnh vực trọng yếu, làm suy yếu an ninh kinh tế, thậm chí dẫn đến mất kiểm soát. Đây là kiểu xuyên tạc dựa trên nỗi sợ, thiếu căn cứ khoa học. Thực tế, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng xác định rõ các lĩnh vực then chốt, chiến lược là nơi kinh tế nhà nước phải giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, mở đường. Vậy lấy cớ phát triển kinh tế tư nhân để lu loa rằng, Đảng đang “buông” các lĩnh vực chiến lược chính là những lời nói bịa đặt trắng trợn.
Bốn là, phát triển kinh tế tư nhân là chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Một luận điệu đã cũ kỹ, xơ cứng tồn tại nhiều năm cho rằng, phát triển kinh tế tư nhân là biểu hiện “chệch hướng”, “bẻ lái” con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung 2025) bảo hộ quyền sở hữu tư nhân, quyền thừa kế, quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, đồng thời, khẳng định các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nghị quyết số 68-NQ/TW tiếp tục bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, xóa bỏ mọi rào cản, mọi phân biệt đối xử, xây dựng chính sách làm yên lòng nhà đầu tư, doanh nghiệp và doanh nhân. Như vậy, phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta không phải là bước lùi khỏi định hướng xã hội chủ nghĩa; trái lại, đó là cách giải phóng lực lượng sản xuất, huy động nguồn lực trong dân, tạo của cải vật chất, việc làm và nguồn thu để chính Nhà nước có thêm điều kiện thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội, an sinh, giáo dục, y tế, nhà ở xã hội và phát triển vùng khó khăn. Một chủ nghĩa xã hội nghèo nàn, cào bằng, triệt tiêu động lực sản xuất không phải là chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta lựa chọn. Mô hình của nước ta là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là dùng thị trường như công cụ để phát triển nhưng không buông Nhà nước khỏi trách nhiệm bảo đảm lợi ích công, chủ quyền kinh tế và công bằng xã hội.
Chỗ mà nhiều luận điệu xuyên tạc cố tình làm mờ đi, đó là đánh đồng sở hữu tư nhân với bản chất của chế độ chính trị, đây là một quan điểm sai lầm căn bản của các thế lực phản động, thù địch. Trong mô hình của chúng ta, kinh tế tư nhân phát triển trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, quy hoạch phát triển, chiến lược quốc gia và dưới sự lãnh đạo của Đảng; do đó, kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Khi những lời lẽ sai trái, cố tình dựng nên nỗi sợ phát triển tư nhân là trao quyền chính trị cho tư bản thì (hoặc là) lập lờ không hiểu mô hình Việt Nam, hay hiểu rất rõ nhưng cố ý xuyên tạc.
Một mũi xuyên tạc khác đánh vào tâm lý xã hội là đồng nhất phát triển kinh tế tư nhân với tham nhũng, lợi ích nhóm và sự núp bóng để trục lợi. Phải dứt khoát rằng: tham nhũng và tiêu cực không phải thuộc tính riêng của kinh tế tư nhân, càng không thể dùng vài hiện tượng sai phạm để kết án một đường lối phát triển. Quan điểm của Đảng và Nhà nước là chống tham nhũng trong cả khu vực công lẫn khu vực tư. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ đã mở rộng nhiều quy định phòng ngừa sang khu vực ngoài nhà nước, áp dụng đối với một số doanh nghiệp, tổ chức có nguy cơ cao; đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp xây dựng quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ, kiểm soát xung đột lợi ích và văn hóa kinh doanh liêm chính.
Năm là, các thế lực phản động cho rằng kinh tế nhà nước được ưu ái, nuôi dưỡng.
Một bộ phận cực đoan đã lợi dụng vai trò của kinh tế nhà nước để biện minh cho cơ chế riêng, ưu ái riêng, trì hoãn cải cách. Điều này không phải tinh thần của Đảng. Ngay trong Nghị quyết số 79-NQ/TW khẳng định một điều quan trọng không phải là mở rộng khu vực nhà nước mà là nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực công; không phải tạo ra đặc quyền mà là buộc những nguồn lực đó vận hành theo nguyên tắc thị trường, cạnh tranh và minh bạch. Đây là điểm đáng chú ý, bởi đường lối, quan điểm của Đảng là không dung túng cho tư duy bao cấp đội lốt chủ đạo. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng đòi hỏi phải kiên quyết cải cách, cắt bỏ đặc quyền vô lý, nâng chuẩn quản trị và minh bạch hóa khu vực nhà nước để khu vực này thực sự làm tốt vai trò dẫn dắt mà Đảng giao.
Điểm then chốt nhất cần nhấn mạnh là sự cộng hưởng giữa hai khu vực. Sự chuyển dịch tư duy từ song hành sang liên kết giữa các khu vực kinh tế: doanh nghiệp nhà nước được định vị như hạt nhân kiến tạo hệ sinh thái ở các ngành then chốt, trong đó bao gồm: hạ tầng, năng lượng, logistics; doanh nghiệp tư nhân được mở rộng không gian tham gia, từ vai trò nhà cung ứng lên đối tác chiến lược trong chuỗi giá trị và các dự án lớn. Đây chính là lời đáp trực tiếp và sắc bén nhất cho những ai cố dựng lên thế đối đầu. Khi hạ tầng, năng lượng, logistics được Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước mở đường hiệu quả, kinh tế tư nhân không bị co hẹp mà ngược lại có thêm không gian sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng kết nối và phát triển lên những nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị. Đó là cơ chế cộng sinh, không phải triệt tiêu, chính sự cộng sinh đó mà phát triển kinh tế nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân phải diễn ra đồng thời, không cái nào được dùng làm cái cớ để trì hoãn cái kia.
Những luận điệu đối kháng giả tạo không chỉ sai về mặt học thuật; chúng còn nguy hại về mặt chính trị – xã hội. Bởi nếu xã hội bị dẫn dắt đến chỗ tin rằng kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân là hai “phe lợi ích” đối đầu nhau, niềm tin sẽ bị bào mòn theo cả hai hướng: doanh nghiệp thì ngờ vực chính sách, người dân thì ngờ vực cải cách, cán bộ thì sợ trách nhiệm, còn các lực lượng chống phá thì có thêm đất để kích động “mất định hướng”, “tư bản hóa”, “đặc quyền hóa”. Đó chính là cái đích sâu xa của các thế lực phản động, thù địch. Một khi Nhà nước mất niềm tin của doanh nghiệp, doanh nghiệp mất niềm tin của Nhà nước, và nhân dân mất niềm tin vào cả hai, thì kẻ hưởng lợi không phải là quốc gia mà là những kẻ thực hiện mưu đồ chia rẽ và chống đối.
5. Kết luận
Không phải ngẫu nhiên mà trong kỷ nguyên phát triển mới, Đảng ban hành những nghị quyết lớn về phát triển kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế nhà nước. Đó không phải là hai vế rời rạc, càng không phải là hai lực kéo ngược chiều nhau; đó là hai mặt của cùng một chiến lược huy động và tổ chức lại toàn bộ nguồn lực quốc gia. Kinh tế nhà nước phải tiếp tục được cơ cấu lại, hiện đại hóa quản trị, nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực công, tập trung đúng vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược. Kinh tế tư nhân phải tiếp tục được cởi trói về thể chế, được bảo vệ quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, được tiếp cận công bằng với đất đai, vốn, công nghệ, dữ liệu, thị trường và cơ hội phát triển. Chỉ trên nền cải cách đồng thời ấy, quan hệ “chủ đạo – động lực” mới phát huy trọn vẹn thành sức mạnh phát triển nền kinh tế quốc gia. Vì vậy, bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng về mối quan hệ giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa trực tiếp đối với sự phát triển chung của đất nước.
Chú thích:
1, 2, 4 Kinh tế nhà nước sau 40 năm Đổi mới. https://vnexpress.net/kinh-te-nha-nuoc-sau-40-nam-doi-moi-5005341.html.
3. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
5. Cục Thống kê (2024). Niên giám thống kê 2024. H. NXB Thống kê.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
2. Bộ Tài chính (2025). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2025. H. NXB Thống kê.
3. Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
4. Phản bác các luận điệu sai trái về phát triển kinh tế tư nhân trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. http://khoahocchinhtri.hcma.vn/Content/phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-trong-tien-trinh-xay-dung-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-152815
5. Vạch trần luận điệu sai trái về sự đối lập giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước. https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/vach-tran-luan-dieu-sai-trai-ve-su-doi-lap-giua-kinh-te-tu-nhan-va-kinh-te-nha-nuoc-1032593.
6. Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/5/27/kinh-te-tu-nhan-la-dong-luc-quan-trong-cua-nen-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam/



