Phát huy giá trị “nghĩa tình” trong hệ chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới

Promoting the value of “nghĩa tình” in the value framework of the Vietnamese people in the new era

TS. Vũ Ngọc Hoa
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong văn hóa truyền thống của Việt Nam, nghĩa tình được thể hiện ở đạo lý tri ân, uống nước nhớ nguồn; tình cảm gia đình gắn bó, yêu thương; lòng bao dung, vị tha và sự đồng cảm và chia sẻ trong cộng đồng. Trong điều kiện của đất nước phát triển, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phân tích nghĩa tình như một chuẩn mực mang chiều sâu văn hóa của con người Việt Nam, vừa bắt nguồn từ truyền thống văn hóa dân tộc, vừa có giá trị định hướng đối với sự phát triển con người mới là nhiệm vụ cấp thiết để mỗi người dân Việt Nam tiếp tục nhận thức và phát huy giá trị đạo đức “nghĩa tình” như một chuẩn mực hiện đại trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Nghĩa tình; chuẩn mực; văn hóa; phát huy giá trị; người Việt Nam.

Abstract: In Vietnam’s traditional culture, nghĩa tình (compassion, loyalty, and solidarity) is embodied in the moral principles of gratitude and remembrance of one’s roots, close-knit and loving family relationships, as well as tolerance, altruism, empathy, and mutual support within the community. In the context of national development, innovation, and deep international integration, examining nghĩa tình as a core cultural value of the Vietnamese people – one that is rooted in the nation’s cultural traditions while also serving as a guiding norm for the development of the new Vietnamese person is an urgent task. Such an endeavor will enable Vietnamese citizens to continue recognizing and promoting the ethical value of nghĩa tình as a modern moral standard for the new era.

Keywords: Nghĩa tình; moral values; culture; value promotion; Vietnamese people.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã hình thành và gìn giữ một hệ thống giá trị văn hóa đặc trưng, trong đó nghĩa tình không chỉ là phẩm chất đạo đức cá nhân mà đã trở thành một trong những chuẩn mực của con người Việt Nam. Chuẩn mực này được hun đúc, kết tinh trong đời sống cộng đồng qua hàng ngàn năm, thể hiện trong các hình thức diễn xướng dân gian, trong văn học dân gian cũng như trong mối quan hệ ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng.

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã khẳng định việc hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Tiếp nối quan điểm về xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030: “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”1. Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã khẳng định 8 chuẩn mực con người Việt Nam gồm: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo.

Quan điểm này được củng cố thêm qua nhiều công trình nghiên cứu học thuật. Trong công trình “Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai”, Trần Ngọc Thêm (2016)2 đã đề xuất nhóm giá trị định hướng cốt lõi, gồm: dân chủ, công bằng, pháp quyền; nhân ái, yêu nước; trung thực, bản lĩnh; trách nhiệm, hợp tác; tính khoa học, sáng tạo. Nguyễn Ngọc Thiện và Từ Thị Loan (2018)3 đưa ra hai phương án hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam, trong đó phương án đầy đủ gồm 7 giá trị: yêu nước, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo, trung thực, đoàn kết, nhân ái – thể hiện rõ tính tích hợp của giá trị nghĩa tình trong định hướng phát triển con người hiện đại. Nguyễn Hồng Phong (1999)4 cũng cho rằng, lòng yêu nước, yêu quê hương là giá trị cơ bản nhất, bên cạnh đó là những giá trị khác như lòng nhân ái, sự gắn bó cộng đồng, trọng đạo đức, học thức và yêu cái đẹp. Theo Trần Văn Giàu (1980)5 đã nêu 7 giá trị mang tính tổng quát nhất của dân tộc Việt Nam, đó là: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa.

Theo quan điểm của UNESCO (1996)6, phát triển phải gắn với nền tảng văn hóa và bản sắc của cộng đồng; văn hóa và giá trị con người là điều kiện của phát triển bền vững. Trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ trên mọi phương diện – từ kinh tế, giáo dục, pháp luật đến quản trị xã hội, việc tái định vị, nhận diện và phát huy giá trị nghĩa tình theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với tinh thần pháp quyền và chuẩn mực toàn cầu, là yêu cầu mang tính cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

2. Quan niệm về chuẩn mực con người

Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận khái niệm chuẩn mực con người từ lý thuyết giá trị, lý thuyết chuẩn mực xã hội, lý thuyết xã hội hóa. Trong lý thuyết giá trị của Shalom Schwartz (2006)7, giá trị không chỉ là cái con người cho là quan trọng mà còn là tiêu chuẩn để con người lựa chọn và đánh giá hành động, chính sách, con người và sự kiện. Trên cơ sở đó, có thể thấy giá trị là nền tảng để hình thành các yêu cầu chuẩn mực trong đời sống xã hội.

Trong quan niệm của Talcott Parsons (1961)8, cấu trúc của hệ thống xã hội được tạo thành bởi những mẫu hình văn hóa đã được thể chế hóa. Trong cấu trúc ấy, giá trị là thành tố ở cấp độ khái quát cao nhất, còn chuẩn mực là sự cụ thể hóa các giá trị thành những kỳ vọng của xã hội. Nếu giá trị biểu đạt quan niệm của cộng đồng về cái đúng, cái tốt thì chuẩn mực chính là sự chuyển hóa những quan niệm ấy thành khuôn mẫu điều chỉnh hành vi, thành thước đo để xã hội định hướng, đánh giá và duy trì trật tự của đời sống chung. Vì vậy, chuẩn mực không tồn tại không tách rời giá trị, mà là sự vận hành cụ thể của giá trị trong đời sống xã hội.

Tuy nhiên, theo quan niệm của Jill Morawski (2014)9, chuẩn mực con người không chỉ là những yêu cầu tồn tại ở bên ngoài cá nhân mà đã được chuyển hóa thành ý thức bên trong, thành động lực tự giác, thành khuôn mẫu tự điều chỉnh của nhận thức, thái độ và hành vi. Vì vậy, chuẩn mực con người mang đồng thời hai chiều kích: vừa là sự kỳ vọng của xã hội đối với con người, vừa là năng lực tự định hướng của con người trong xã hội.

Từ việc kế thừa lý thuyết giá trị, lý thuyết chuẩn mực xã hội, lý thuyết xã hội hóa, có thể quan niệm: chuẩn mực con người là sự kết tinh các giá trị tốt đẹp của dân tộc thành hệ chuẩn mực định hướng nhận thức, hành vi và trách nhiệm xã hội, qua đó góp phần hình thành mẫu hình con người trong một bối cảnh lịch sử – văn hóa cụ thể.

3. Những chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nêu ra 8 chuẩn mực con người Việt Nam, gồm: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt các chuẩn mực này trong quan hệ hữu cơ với hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình. Trong đó, các chuẩn mực này cũng gắn với yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại; gắn với thượng tôn pháp luật, trách nhiệm công dân trong không gian số, quy tắc ứng xử trên không gian số và việc kết hợp giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế. Vì vậy, chuẩn mực con người ở đây không chỉ là các phẩm chất đạo đức thuần túy mà phải được hiểu là một hệ tiêu chuẩn định hướng nhân cách, lối sống và hành vi của con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Xét từ kết cấu nội tại của hệ chuẩn mực, có thể thấy, 8 chuẩn mực con người Việt Nam trong Nghị quyết số 80-NQ/TW không phải là một phép cộng cơ học của các phẩm chất đạo đức mà là một chỉnh thể bao quát ba mối quan hệ nền tảng cấu thành đời sống con người: quan hệ của con người với quốc gia, quan hệ của con người với cộng đồng và quan hệ của con người với chính bản thân mình. Yêu nước là sợi dây bền chặt kết nối cá nhân với Tổ quốc. Đoàn kết và nghĩa tình giữ vững sự bền chặt của mối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng. Tự cường, trung thực, trách nhiệm đặt ra những đòi hỏi tự thân về bản lĩnh và đạo đức. Kỷ cương và sáng tạo định hướng cách con người hành động trong một xã hội hiện đại, để kiến tạo những giá trị mới cho xã hội và đời sống xã hội được vận hành trên nền tảng nguyên tắc và thượng tôn pháp luật. Bởi vậy, 8 chuẩn mực ấy phải được nhận thức như một chỉnh thể thống nhất cùng hướng tới xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới: kiên định về lý tưởng, bền chặt với cộng đồng, sáng ở đạo đức, mạnh ở ý chí, nghiêm ở kỷ luật, cao ở khát vọng, giàu ở năng lực sáng tạo và mãnh liệt ở tinh thần cống hiến vì quốc gia, dân tộc.

Bên cạnh đó, 8 chuẩn mực con người Việt Nam trong Nghị quyết số 80-NQ/TW có sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Yêu nước, đoàn kết, nghĩa tình, trung thực mang đậm giá trị truyền thống; kỷ cương, trách nhiệm, sáng tạo mang hơi thở đương đại; tự cường vừa là phẩm chất được hun đúc trong lịch sử dân tộc, vừa là yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Điều này thể hiện 8 chuẩn mực không nhằm định hình con người Việt Nam trong khuôn mẫu xưa cũ mà hướng tới hình thành một mẫu hình vừa thể hiện hồn cốt dân tộc, vừa có khả năng thích ứng trong thời hiện đại.

Tuy nhiên, 8 chuẩn mực nêu trên không bao quát đầy đủ toàn bộ các phương diện của phát triển con người. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng thể hiện quan điểm này khi khẳng định phát triển con người toàn diện về đức – trí – thể – mỹ, hình thành thế giới quan khoa học, nâng cao trí tuệ, tự hoàn thiện nhân cách. Theo đó, những phương diện như thẩm mỹ, thể chất… mặc dù vô cùng quan trọng nhưng không được nêu thành chuẩn mực riêng trong hệ cấu trúc 8 chuẩn mực con người Việt Nam. Trong phạm vi của bài viết, chỉ đề cập giá trị đạo đức “Nghĩa tình” – một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam từ truyền thống và trở thành chiến lược phát triển con người toàn diện trong thời đại mới, thời đại kỷ nguyên phát triển.

Nghĩa tình của người Việt được thể hiện với nhiều cung bậc, hình thái khác nhau nhưng tựu chung gồm những giá trị cốt lõi, như: đạo lý tri ân, uống nước nhớ nguồn; tình cảm gia đình gắn bó, yêu thương; lòng bao dung, vị tha; sự đồng cảm, chia sẻ.

Một là, đạo lý tri ân, uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam.

Truyền thống biết ơn (tri ân) là một trong những giá trị đạo lý cốt lõi làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử và lan tỏa trong đời sống tinh thần dân tộc. Tư tưởng “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” không chỉ xuất hiện như lời nhắc đạo lý mà còn định hình cách ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng, quốc gia và cả với thiên nhiên – môi trường sống của con người. Biết ơn không chỉ dừng lại ở tình cảm cá nhân mà được nâng lên thành hệ giá trị thiêng liêng, thể hiện sâu sắc trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên, lễ hội tưởng niệm anh hùng dân tộc. Thờ cúng tổ tiên là một tập quán của người Việt từ ngàn đời. Dù ở miền xuôi hay miền ngược, từ nông thôn đến thành thị, hầu hết các gia đình đều có bàn thờ gia tiên – nơi linh thiêng kết nối giữa người sống và người đã khuất. Đây không chỉ là nghi lễ mang tính hình thức, thờ cúng tổ tiên thể hiện lòng biết ơn, sự kính trọng đối với công sinh thành, dưỡng dục của các bậc tiền nhân, là cách mà con cháu hướng về nguồn cội.

Không dừng lại ở phạm vi gia đình, truyền thống tri ân còn được thể hiện ở quy mô cộng đồng, quốc gia thông qua các lễ hội tưởng niệm các bậc tiền nhân, cac vị anh hùng có công dựng nước và giữ nước. Lễ hội Đền Hùng được tổ chức hằng năm vào ngày 10/3 âm lịch nhằm tưởng niệm các vua Hùng và đẩy mạnh truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam, như: lễ hội Đền Trần (để Nhân dân tưởng nhớ các vua Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – người ba lần đại thắng quân Nguyên Mông); lễ hội Nguyễn Trung Trực (lễ hội lớn nhất vùng Tây Nam Bộ, thể hiện lòng tôn kính đối với vị anh hùng chống Pháp quả cảm).

Người Việt không chỉ tri ân tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc mà còn tri ân tự nhiên – nguồn sống và môi trường sinh tồn căn bản của con người, điển hình như: cư dân ven biển Việt Nam, phổ biến từ miền Trung đến miền Nam có tục thờ Cá Ông (cá Voi), bởi cư dân miền biển tin rằng, cá Voi thường cứu giúp tàu thuyền gặp nạn, bảo vệ ngư dân vượt qua phong ba bão táp; đồng thời, tổ chức cúng tế hằng năm như một cách tri ân, tưởng nhớ công ơn cứu giúp của loài cá này.

Hai là, tình cảm gia đình gắn bó, chăm sóc và yêu thương nhau giữa các thành viên trong gia đình.

Trong văn hóa dân gian Việt Nam, các mối quan hệ gia đình như cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em ruột thịt không chỉ tạo nên nền tảng thiết chế xã hội mà còn kết tinh sâu sắc của các giá trị đạo lý, đặc biệt là hiếu nghĩa với cha mẹ, thủy chung vợ chồng và tình yêu thương, gắn bó giữa anh em. Lòng hiếu thảo thể hiện qua sự kính trọng, biết ơn và báo đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, là một chuẩn mực đạo lý cốt lõi trong văn hóa Việt, được biểu hiện sâu sắc và phong phú trong kho tàng văn hóa dân gian.

Bên cạnh đó, sự thủy chung trong quan hệ vợ chồng được đề cao như một biểu hiện của nghĩa tình sâu nặng và trách nhiệm, về tình cảm anh em trong gia đình, liên kết máu mủ không thể chia cắt, dù hoàn cảnh khó khăn hay bất hòa.

Ba là, lòng bao dung, vị tha là một biểu hiện nghĩa tình đặc sắc trong văn hóa Việt Nam.

Tinh thần khoan dung và tha thứ là một yếu tố xuyên suốt trong văn hóa dân gian Việt Nam, phản ánh sâu sắc tư duy đạo lý và triết lý sống của người Việt. Sự đúc kết quan điểm coi trọng tha thứ hơn thù hận, lấy hòa khí làm nền tảng cho sự ổn định trong quan hệ ứng xử được Nhân dân ta đề cao trong cách ứng xử nhân văn, khoan dung, lấy cảm hóa làm cách thức xử lý mâu thuẫn, bất đồng giữa con người với con người.

Những bài học về tinh thần khoan dung và tha thứ là một đặc điểm nổi bật trong đạo lý và nhân cách văn hóa Việt Nam, được thể hiện xuyên suốt trong tiến trình lịch sử dân tộc. Nhiều bậc minh quân và danh nhân Việt Nam đã thể hiện tấm lòng bao dung, đặt đại nghĩa lên trên lợi ích cá nhân. Thời nhà Trần, Trần Quốc Tuấn – Hưng Đạo Đại Vương – dù mang mối thù gia tộc, vẫn gác bỏ tư thù, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp chống giặc Nguyên – Mông, trở thành biểu tượng cho lòng vị tha và tinh thần lấy đại nghĩa làm trọng10. Năm 1427, sau chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang, Lê Lợi đã không sát hại tàn quân Minh (trong đó có cả Vương Thông là tổng binh thống lĩnh quân xâm lược nhà Minh) mà còn tha chết, cấp thuyền, lương thực và thuốc men để chúng trở về nước an toàn11. Tư tưởng nhân nghĩa, khoan dung ấy đã được Nguyễn Trãi đúc kết sâu sắc trong Bình Ngô đại cáo: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, các giá trị chuẩn mực đạo đức của cha ông ta được tiếp nối truyền thống bằng chính sách hòa giải dân tộc và đối xử nhân đạo với tù binh Pháp sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Điều này chỉ rõ, đây chính là tinh thần khoan dung và tha thứ, chứ không phải là sự mềm yếu và cũng là biểu hiện của bản lĩnh văn hóa, lòng nhân đạo và tầm vóc trí tuệ của dân tộc Việt Nam.

Bốn là, sự đồng cảm, chia sẻ.

Sự đồng cảm và chia sẻ trong văn hóa Việt Nam không chỉ đơn thuần là biểu hiện của tình cảm nhân văn mà còn được định hình như một chuẩn mực văn hóa bền vững, được hun đúc và lưu truyền qua hàng nghìn năm lịch sử dân tộc. Giá trị này được thể hiện sâu sắc trong kho tàng ca dao, tục ngữ và hiện diện một cách sinh động trong đời sống xã hội truyền thống cũng như hiện đại. Từ văn hóa dân gian đến những hành vi ứng xử thường nhật, người Việt luôn đề cao sự cảm thông và tinh thần tương trợ. Những câu tục ngữ như “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ” là minh chứng điển hình cho quan niệm sống trọng tình, phản ánh tinh thần chia sẻ với những người gặp khó khăn, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội. Truyền thống này càng trở nên rõ nét trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh hay hoạn nạn, khi việc giúp đỡ từ quyên góp, cứu trợ đến sẻ chia từng phần cơm, manh áo trở thành chuẩn mực hành vi ứng xử. Sự sẻ chia ấy bắt nguồn từ lòng trắc ẩn và mối liên kết cộng đồng sâu xa – nơi con người được gắn kết bởi ý thức cùng chung nguồn cội, cùng là đồng bào. Lối sống “tối lửa tắt đèn có nhau” không chỉ mang ý nghĩa tình làng nghĩa xóm mà còn cho thấy nền tảng đạo đức của một dân tộc luôn coi trọng mối quan hệ gắn bó giữa con người với con người. Chính từ đó hình thành nên cộng đồng làng xã gắn bó, nơi mỗi người được che chở, bao bọc trong vòng tay cộng đồng.

4. Hạn chế trong truyền thống nghĩa tình của người Việt

Truyền thống nghĩa tình là một trong những giá trị văn hóa cốt lõi, đặc trưng trong tâm thức và hành vi ứng xử của người Việt. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, truyền thống này cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định đặc biệt là trong đời sống hiện đại.

Người Việt quan niệm trăm cái lý không bằng một tý cái tình. Giá trị nghĩa tình là một trụ cột đạo lý và nhân văn của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, khi được vận hành trong thực tiễn xã hội và quan hệ cộng đồng, truyền thống nghĩa tình có thể bị lạm dụng hoặc đẩy đến cực đoan, mà biểu hiện nổi bật là tình thắng lý. Trần Ngọc Thêm (1997)12 cho rằng: “Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình… lấy tình nghĩa làm đầu: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình.”, “Lối sống trọng tình làm cho thói tùy tiện càng trở nên trầm trọng hơn… Nó dẫn đến tệ ‘đi cửa sau’ trong giải quyết công việc”. Trong bối cảnh đó, nghĩa tình trở thành giá trị văn hóa – đạo đức, nhưng đồng thời cũng dẫn đến tâm lý xử lý công việc theo tình riêng, ân nghĩa, làm mờ ranh giới giữa lý tính và cảm xúc.

Để lý giải hiện tượng này, cần tiếp cận từ nhiều tầng nguyên nhân gắn với lịch sử hình thành văn hóa, cấu trúc xã hội và tâm lý cộng đồng. Trong xã hội truyền thống Việt Nam, làng xã là đơn vị tổ chức cơ bản, trong đó mối quan hệ họ hàng – làng xóm – đồng hương đóng vai trò trung tâm, quan hệ huyết tộc – thân tộc chi phối. Do vậy, phép tắc đôi khi bị hòa tan vào tình nghĩa trong ứng xử cộng đồng. Một căn nguyên sâu xa là từ đặc trưng cấu trúc văn hóa Việt Nam, vốn mang đậm tính âm – tính mẫu, hình thành từ điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất và hình thái xã hội truyền thống. Theo Trần Ngọc Thêm (1997)13, văn hóa Việt nghiêng về tính âm, trọng tình hơn lý, tạo điều kiện cho nghĩa tình phát triển nhưng cũng kéo theo nguy cơ cảm tính hóa. Tính âm thể hiện ở việc người Việt ưa sự hài hòa hơn nguyên tắc, trọng tình hơn lý, thích hòa hoãn hơn đối đầu, đề cao cộng đồng hơn cá nhân. Đây chính là mảnh đất thuận lợi để giá trị nghĩa tình phát triển mạnh mẽ nhưng cũng dẫn đến xu hướng thiên về cảm tính trong xử lý mối quan hệ xã hội.

Trong chiều sâu lịch sử – văn hóa dân tộc, yếu tố tính mẫu giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình thành tâm thức và lối ứng xử của người Việt. Theo Trần Quốc Vượng14, dấu ấn của nguyên lý tính Mẹ không chỉ biểu hiện ở sự tôn vinh hình tượng người mẹ mà còn in đậm trong cấu trúc đời sống cộng đồng, trong hệ biểu tượng văn hóa và trong xu hướng ứng xử đề cao sự bao dung, chở che, hòa hợp và mềm dẻo. Có thể thấy, tính mẫu trong văn hóa Việt Nam được phản ánh qua các yếu tố như sự tôn thờ hình tượng mẹ, tính cộng đồng gia đình – làng xã và tâm lý vị tha, nhân hậu… đã nuôi dưỡng giá trị nghĩa tình phát triển theo hướng thiên về cảm tính. Từ đó, hình thành nên văn hóa ứng xử ưu tiên sự mềm dẻo, linh hoạt có tính tích cực nhưng cũng dễ dẫn đến những hệ quả là cảm tính lấn át nguyên tắc – một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, kém hiệu quả trong quản lý.

Truyền thống nghĩa tình là một nét đặc sắc của văn hóa dân tộc cần được phát huy phù hợp với bối cảnh hiện nay, với luật pháp, kỷ cương của đất nước. Nếu không được điều chỉnh, truyền thống này có thể trở thành rào cản cho sự phát triển trong xã hội hiện đại.

5. Chuẩn mực nghĩa tình của con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trong điều kiện đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, chuẩn mực nghĩa tình không thể chỉ được nhìn nhận trong khuôn khổ các quan hệ truyền thống vốn gắn với gia đình, làng xóm và cộng đồng quen thuộc. Những biến đổi mạnh mẽ của xã hội đặt ra yêu cầu phải bổ sung cho nghĩa tình những nội hàm mới để phù hợp với xã hội hiện đại.

Trong bối cảnh phát triển mới, nghĩa tình cần được tái nhận thức như một chuẩn mực hiện đại của con người Việt Nam và cần được tiếp cận đa chiều, từ các phương diện chính trị, đạo đức, pháp lý, văn hóa cho đến năng lực phát triển và hội nhập quốc tế.

(1) Từ phương diện chính trị, nghĩa tình là sự gắn bó có trách nhiệm giữa cá nhân với cộng đồng, với đồng bào và với Tổ quốc. Ở phương diện này, nghĩa tình không đơn thuần là tình cảm riêng tư, mà là tình cảm xã hội với biểu hiện là sự đồng cảm với đồng bào, ý thức sẻ chia trách nhiệm quốc gia. Khi Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu phát triển toàn diện con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thì nghĩa tình chính là chất keo tinh thần gắn kết khối đoàn kết dân tộc trong quá trình phát triển của đất nước.

(2) Từ phương diện đạo đức, nghĩa tình là hạt nhân nhân văn của nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Nếu trước đây nghĩa tình chủ yếu được biểu hiện qua lòng nhân ái, thủy chung, biết ơn và sự đùm bọc trong đời sống cộng đồng, thì hiện nay nội hàm ấy cần được mở rộng thành năng lực ứng xử có tình người trong điều kiện xã hội biến đổi nhanh, cạnh tranh mạnh và chịu tác động sâu sắc của kinh tế thị trường. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định phải lấy xây dựng nhân cách con người làm trọng tâm, hướng con người tới các giá trị chân – thiện – mỹ, đặt giáo dục đạo đức và văn hóa lên hàng đầu, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Vì vậy, nghĩa tình trong bối cảnh mới là chuẩn mực giúp con người chống lại xu hướng thực dụng, vô cảm, vị kỷ và giữ cho tiến trình hiện đại hóa không làm suy giảm chiều sâu nhân bản của đời sống xã hội.

(3) Từ phương diện pháp lý, nghĩa tình phải được hiểu như chiều kích nhân văn của ý thức công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nghĩa tình trong bối cảnh mới không phải là sự nể nang, bao che, xử lý các quan hệ xã hội chỉ bằng tình cảm mà là khả năng kết hợp hài hòa giữa lòng nhân ái với sự tôn trọng chuẩn mực chung, giữa tinh thần sẻ chia với thượng tôn pháp luật. Nghĩa tình ngày nay phải được chuẩn hóa thành lối sống biết tôn trọng phẩm giá người khác, biết bảo vệ cái đúng, phản đối cái sai, nhưng thực hiện điều đó bằng thái độ có văn hóa, có trách nhiệm và có tính xây dựng.

(4) Từ phương diện văn hóa – xã hội, nghĩa tình là chất kết dính của đời sống xã hội và là một dạng vốn xã hội đặc thù của người Việt Nam. Trong xã hội hiện đại, các quan hệ cộng đồng truyền thống đang chịu nhiều sức ép từ đô thị hóa, di cư, cá nhân hóa và môi trường truyền thông mới; vì vậy, nghĩa tình không còn chỉ là một giá trị đẹp để ca ngợi, mà trở thành điều kiện cần để duy trì niềm tin xã hội, tăng cường gắn kết cộng đồng và hạn chế sự phân mảnh xã hội. Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh việc xây dựng môi trường văn hóa từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số, đồng thời đề cao tinh thần đoàn kết, sẻ chia, tương thân, tương ái và trách nhiệm xã hội. Theo nghĩa đó, chuẩn mực nghĩa tình trong bối cảnh mới chính là yêu cầu xây dựng một cộng đồng phát triển nhưng không lạnh lùng, hiện đại nhưng không đứt gãy các mối liên kết nhân văn.

(5) Từ phương diện năng lực phát triển, nghĩa tình cần được nhìn nhận như một nền tảng đạo đức của phát triển bền vững và đổi mới sáng tạo có trách nhiệm. Cần xác định rõ, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính của phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời coi thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là các nội dung trọng tâm, cốt lõi (Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị).  Trong logic đó, nếu xã hội chỉ đề cao tốc độ, hiệu suất và cạnh tranh mà xem nhẹ nghĩa tình, quá trình phát triển rất dễ trượt sang chủ nghĩa vị lợi, đào thải khốc liệt và suy giảm niềm tin xã hội. Ngược lại, nghĩa tình tạo nền cho văn hóa hợp tác, chia sẻ tri thức, hỗ trợ lẫn nhau trong học tập, lao động, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, trong bối cảnh mới, nghĩa tình không đứng ngoài phát triển, mà là điều kiện để phát triển theo hướng bao trùm, nhân văn và vì con người.

(6) Từ phương diện số hóa và hội nhập quốc tế, nghĩa tình cần được tái diễn giải thành một chuẩn mực của đạo đức số và ứng xử toàn cầu có bản sắc Việt Nam. Các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước yêu cầu nhận thức và xử lý hài hòa mối quan hệ giữa đời sống thực với không gian số, giữa dữ liệu mở với bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số; đồng thời, đặt ra nhiệm vụ xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, ban hành quy tắc ứng xử trên không gian số và làm trong sạch môi trường văn hóa số. Các thách thức về an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cũng được nhắc đến nhiều hơn. Vì vậy, trong bối cảnh nghĩa tình không chỉ là biết quan tâm, chia sẻ trong các quan hệ trực tiếp mà còn là biết tôn trọng người khác trên môi trường mạng, không phát tán thông tin gây hại, không khai thác công nghệ theo cách làm tổn thương con người và biết dùng công nghệ để lan tỏa giá trị tốt đẹp. Nghĩa tình còn là năng lực ứng xử nhân văn, tôn trọng khác biệt và hợp tác có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, qua đó góp phần định hình hình ảnh con người Việt Nam vừa giàu bản sắc, vừa văn minh, hiện đại.

Từ 6 phương diện trên có thể thấy, chuẩn mực nghĩa tình của con người Việt Nam trong bối cảnh mới không phải là sự lặp lại y nguyên các giá trị truyền thống, mà là sự phát triển các giá trị ấy trong điều kiện chính trị, xã hội, pháp lý, công nghệ và hội nhập đã thay đổi sâu sắc. Nghĩa tình trong kỷ nguyên mới của dân tộc phải là nghĩa tình có nguyên tắc, có trách nhiệm, có kỷ cương, có năng lực thích ứng với chuyển đổi số và có khả năng đồng hành với phát triển sáng tạo. Chỉ khi được hiểu như vậy, nghĩa tình mới thực sự trở thành một chuẩn mực hiện đại của con người Việt Nam, vừa kế thừa chiều sâu đạo lý dân tộc, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

6. Kết luận

Nghĩa tình là một giá trị văn hóa đặc trưng của người Việt, phản ánh sâu sắc triết lý nhân sinh, đạo lý ứng xử và bản sắc cộng đồng. Qua các biểu hiện như đạo lý tri ân, tình cảm gia đình gắn bó, lòng bao dung và sự sẻ chia, nghĩa tình đã trở thành chuẩn mực con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Trong kỷ nguyên mới, nghĩa tình cần được tái nhận thức và tái cấu trúc như một chuẩn mực hiện đại của con người Việt Nam. Đó không chỉ là nghĩa tình trong khuôn khổ gia đình, làng xóm hay cộng đồng quen thuộc mà là nghĩa tình có nguyên tắc, có trách nhiệm, có kỷ cương, gắn với ý thức công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực hợp tác xã hội, đạo đức số và khả năng đồng hành cùng phát triển sáng tạo. Chỉ trên cơ sở đó, nghĩa tình mới thực sự phát huy được giá trị tích cực trong đời sống xã hội: vừa kế thừa chiều sâu đạo lý truyền thống, vừa thích ứng với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, xã hội số và hội nhập quốc tế; qua đó góp phần hình thành mẫu hình con người Việt Nam phát triển toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn và hiện đại.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 378.
2. Trần Ngọc Thêm (2016). Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai. H. NXB Văn hóa – Văn nghệ, tr. 155 – 270.
3. Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (2018). Hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam. H. NXB Văn hóa dân tộc, tr. 38.
4. Nguyễn Hồng Phong (1999). Văn hóa và phát triển (trong Lê Quang Trang & Nguyễn Trọng Hoàn (Tuyển chọn và giới thiệu). Những vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại). H. NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 184 – 189.
5. Trần Văn Giàu (1980). Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. H. NXB Khoa học xã hội, tr. 94.
6. World Commission on Culture and Development (1996). Our Creative Diversity: Report of the World Commission on Culture and Development (summary version), pp. 7-8.
7. Shalom H. Schwartz (2006). Basic human values: An overview, The Hebrew University of Jerusalem, pp.1.
8. Talcott Parsons (1961). An outline of the social system. Theories of society: Foundations of modern sociological theory, pp. 37-47.
9. Jill Morawski (2014). Socialization. Thomas Teo (ed.), Encyclopedia of Critical Psychology, Springer, pp. 1820-1825.
10, 11.  Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. H. NXB Khoa học Xã hội, tr. 433, 707.
12, 13. Trần Ngọc Thêm (1997). Cơ sở văn hóa Việt Nam. H. NXB Giáo dục, tr. 17 – 19, 21.
14. Trần Quốc Vượng (2003). Về nguyên lý tính Mẹ trong văn hóa Việt Nam. Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm. H. NXB Văn học, tr. 467.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
2. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Nguyễn Ngọc Hà (2012). Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế. H. NXB Khoa học xã hội.
4. Phạm Minh Hạc (2001). Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. H. NXB Chính trị quốc gia.
5. Nguyễn Văn Huyên (2002). Mấy vấn đề triết học xã hội và phát triển con người. H. NXB Chính trị quốc gia.
6. Người Việt Nam trọng nghĩa tình. https://vov.vn/van-hoa/nguoi-viet-nam-trong-nghia-tinh-post1036455.vov