Nâng cao chất lượng y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ: từ chính sách đến thực tiễn

Enhancing healthcare quality in the Northern Midlands and Mountainous Region: from policy to practice

ThS. Trịnh Ngọc Bình
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) Trong tiến trình đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến sự phát triển kinh tế – xã hội các vùng lãnh thổ nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của mỗi vùng. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ là một trong sáu vùng kinh tế, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong giai đoạn 2004 – 2020, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng góp phần vào nâng cao sức khoẻ của Nhân dân trong vùng. Bài viết đi sâu làm rõ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; kết quả công tác y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ giai đoạn từ năm 2004 – 2020.

Từ khóa: Trung du và miền núi Bắc Bộ; chăm sóc sức khỏe nhân dân; bảo hiểm y tế; an sinh xã hội; nhân lực y tế; hạ tầng y tế.

Abstract: In the process of national reform, the Party and the State have paid special attention to the socio-economic development of regional territories to harness the potential and comparative advantages of each region. The Northern Uplands and Mountains region is one of six economic regions, holding a particularly strategic position in politics, the economy, culture and society, national defense, security, and foreign relations. During the 2004–2020 period, under the Party’s leadership, healthcare efforts in the Northern Uplands and Mountains region achieved significant results, contributing to improved public health. This article delves into the Party’s policies and the State’s strategies, as well as the achievements of healthcare work in the Northern Uplands and Mountains region from 2004 to 2020.

Keywords: Northern Uplands and Mountains; public health care; health insurance; social security; healthcare workforce; healthcare infrastructure.

1. Đặt vấn đề

Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước. Thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 01/7/2004 và Kết luận số 26-KL/TW, ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị, công tác y tế trong Vùng đã có bước phát triển toàn diện, đạt nhiều thành tựu nổi bật, như: cải thiện các chỉ số sức khỏe cơ bản, mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế, hệ thống hạ tầng y tế được đầu tư đồng bộ, nguồn nhân lực y tế được tăng cường, chính sách an sinh và hỗ trợ đặc thù được triển khai rộng rãi. Những kết quả này khẳng định chủ trương của Đảng về phát triển y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ là đúng đắn, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

2. Chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ

Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2001 – 2010 và để ban hành các cơ chế chính sách cho phát triển kinh tế – xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, ngày 01/7/2004, Bộ Chính trị (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 (viết tắt là Nghị quyết số 37-NQ/TW). Nghị quyết đề ra mục tiêu công tác y tế đến năm 2010: “Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho Nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, có 60 – 70% số xã có bác sĩ, chuẩn hoá 100% trạm y tế xã và phòng khám đa khoa khu vực, hiện đại hoá trang thiết bị cho bệnh viện cấp tỉnh và hình thành các trung tâm y tế khu vực”1. Tiếp đó, ngày 23/02/2005, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 46-NQ/TW về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. Nghị quyết xác định: “Từ nay đến năm 2010, Nhà nước cần đầu tư mạnh, tạo bước bứt phá để nâng cấp các cơ sở y tế, trong đó ưu tiên củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, y tế dự phòng, các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, tuyến huyện; các trung tâm y tế khu vực, nhất là ở miền núi phía Bắc”2.

Thể chế hoá chủ trương của Đảng, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 225/2005/QĐ-TTg, ngày 15/9/2005 về Đề án nâng cấp bệnh viện huyện và bệnh viện đa khoa khu vực giai đoạn 2005 – 2008; Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg, ngày 30/6/2006 về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Theo quy hoạch, đối với việc phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ: “Ưu tiên đầu tư xây dựng hoàn chỉnh các bệnh viện đa khoa vùng tại Sơn La, Thái Nguyên”3.

Ngày 05/02/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 27/2008/ QĐ-TTg về ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010, xác định: “Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số. Xây dựng các trung tâm y tế khu vực Đông Bắc tại tỉnh Thái Nguyên và khu vực Tây Bắc tại tỉnh Sơn La, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân”4. Ngày 22/02/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Chính phủ xác định trong giai đoạn 2008 – 2010: “Triển khai có hiệu quả các dự án đầu tư nâng cấp các bệnh viện đa khoa tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc”5. Với mục tiêu đến năm 2010: “Đạt tỷ lệ tối thiểu là 20,5 giường bệnh/10.000 dân; có ít nhất 80% cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện được các kỹ thuật theo danh mục phân tuyến kỹ thuật do Bộ Y tế quy định”6.

Ngày 02/4/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2008 – 2010. Thực hiện Đề án có: “Tổng số bệnh viện được đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị là 552 bệnh viện đa khoa huyện, 69 bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện. Trong đó có 105 bệnh viện đa khoa huyện, liên huyện trong vùng”7.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng (01/2011), ngày 02/8/2012, Bộ Chính trị (khoá XI) ban hành Kết luận số 26-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 (viết tắt là Kết luận số 26-KL/TW). Theo Kết luận, Đảng đề ra mục tiêu công tác y tế đến năm 2020, phấn đấu: “có trên 80% số xã có bác sĩ; 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; xây dựng một số trung tâm y tế khu vực chất lượng cao tại Thái Nguyên, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh cho Nhân dân”8.

Thực hiện Kết luận số 26-KL/TW, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1064/QĐ-TTg, ngày 08/7/2013 về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2020. Ngày 06/9/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1580/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 26-KL/TW, ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị. Kế hoạch đề ra chỉ tiêu đến năm 2020: “Có trên 80% số xã có bác sỹ, 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế”9. Để thực hiện mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện các bộ, ngành trung ương và các địa phương trong vùng cần tiếp tục thực hiện xã hội hoá trong công tác y tế (xem Bảng 1).

3. Kết quả công tác y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ

Sau gần 17 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-KL/TW, công tác y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, cụ thể:

Một là, các chỉ số y tế cơ bản không ngừng được cải thiện.

Số giường bệnh và số bác sĩ trên vạn dân tăng. Năm 2004, toàn vùng chỉ đạt 15,8 giường bệnh/10.000 dân, thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế. Đến năm 2020, con số này đã tăng gần gấp đôi, đạt 29,2 giường/10.000 dân, cao hơn mức trung bình cả nước (28,5). Số bác sĩ trên 10.000 dân tăng từ 5,0 (2004) lên 10,6 (2020), vượt mức trung bình của cả nước (9,0)10. Đây là những minh chứng thuyết phục cho thấy nỗ lực không ngừng trong việc đầu tư, đào tạo, bố trí nhân lực y tế, từng bước khắc phục tình trạng thiếu hụt bác sĩ và giường bệnh kéo dài trước đây ở vùng này.

Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt mức cao. Nếu như năm 2004, cả nước mới chỉ có 22,4% dân số tham gia bảo hiểm y tế thì đến năm 2019, tỷ lệ này tại vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đã đạt 95,2%, cao hơn mức bình quân cả nước (90,85%)11. Đây là thành quả quan trọng từ chính sách hỗ trợ người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, hộ cận nghèo trong việc tham gia bảo hiểm y tế, thể hiện tính ưu việt của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm từ 36,1% (2004) xuống còn 28% (2019); tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm từ 30,3% xuống 18,1%12. Dù vẫn cao hơn mức trung bình cả nước (19,5% và 11,5%), song sự cải thiện này là kết quả của hàng loạt chương trình mục tiêu quốc gia về y tế – dân số, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe bà mẹ – trẻ em được triển khai tại các địa phương trong vùng.

Hai là, cơ sở vật chất, hạ tầng và mạng lưới y tế được đầu tư phát triển ngày càng hoàn thiện.

Nguồn vốn đầu tư cho phát triển hạ tầng y tế được huy động đa dạng với quy mô lớn. Thực hiện Quyết định số 930/QĐ-TTg, ngày 30/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ: “các tỉnh trong vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ được phân bổ trên 8.123 tỷ đồng, trong đó 7.541 tỷ đồng từ trái phiếu Chính phủ, để xây dựng và nâng cấp 16 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh. Ở tuyến huyện, tổng vốn đầu tư lên tới 3.301 tỷ đồng cho 146 bệnh viện đa khoa huyện, bệnh viện khu vực và một số phòng khám đa khoa”13.

Ngoài ra, hệ thống hơn 2.500 trạm y tế xã cũng được quan tâm sửa chữa, nâng cấp, trong đó ưu tiên các xã vùng đặc biệt khó khăn.Ngoài ra,Bộ Y tế đã huy động nhiều dự án ODA hỗ trợ phát triển y tế các tỉnh góp phần hiện đại hóa hạ tầng y tế vùng. Đáng chú ý dự án: “Hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện” do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ: “trong giai đoạn 2013 – 2019 với tổng kinh phí 150 triệu USD”14, đã hỗ trợ nhiều tỉnh miền núi xây dựng hệ thống xử lý rác thải y tế hiện đại. Bên cạnh đó, dự án: “Phát triển bệnh viện tỉnh vùng” bằng vốn vay Nhật Bản cung cấp trang thiết bị y tế cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang với trị giá hơn 9 triệu USD15. Sự hỗ trợ này không chỉ nâng cao năng lực kỹ thuật mà còn góp phần cải thiện môi trường y tế bền vững.

Mạng lưới cơ sở y tế của vùng ngày càng hoàn thiện. Đến năm 2020, vùng đã có 1 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương (Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên), 12 bệnh viện đa khoa tỉnh hạng I, 1 bệnh viện chuyên khoa hạng I. Ngoài hệ thống y tế công lập, khu vực tư nhân cũng phát triển mạnh, với 14 bệnh viện tại các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang và Phú Thọ. Đây là minh chứng cho hiệu quả của chủ trương xã hội hóa y tế, huy động nhiều nguồn lực cùng tham gia chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Chất lượng dịch vụ y tế ngày càng nâng cao. Không chỉ dừng lại ở việc tăng số lượng giường bệnh hay nhân lực, các địa phương đã chú trọng hơn đến nâng cao chất lượng dịch vụ. Nhiều bệnh viện tỉnh, huyện đã triển khai các kỹ thuật mới, thực hiện chuyển giao công nghệ từ tuyến trên, giảm tình trạng người bệnh phải di chuyển xa. Đặc biệt, tỷ lệ người dân hài lòng với dịch vụ y tế tuyến cơ sở ngày càng tăng, khẳng định sự tiến bộ trong phong cách, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ y tế.

Có thể khẳng định, sự cải thiện toàn diện các chỉ số y tế cơ bản trong giai đoạn 2004 – 2020 đã góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Đây cũng là minh chứng sinh động cho tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, đồng thời hiện thực hóa quan điểm của Đảng coi sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và toàn xã hội.

Ba là, nguồn nhân lực y tế không ngừng được nâng cao đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh của Nhân dân trong vùng.

Nhân lực y tế luôn được coi là “linh hồn” của hệ thống chăm sóc sức khỏe. Với đặc thù địa bàn rộng, dân cư phân tán, nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, việc xây dựng đội ngũ cán bộ y tế đủ về số lượng, mạnh về chất lượng là thách thức lớn đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Nhận thức rõ điều đó, Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị đều nhấn mạnh yêu cầu ưu tiên phát triển nguồn nhân lực y tế, coi đây là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Trong giai đoạn 2004 – 2020, Bộ Y tế đã chỉ đạo mở rộng nhiều hình thức đào tạo: đào tạo cử tuyển cho con em dân tộc thiểu số; đào tạo theo địa chỉ sử dụng gắn với nhu cầu thực tế của từng địa phương; đào tạo liên thông, tại chức cho cán bộ y tế đang công tác. Những giải pháp này góp phần khắc phục tình trạng thiếu hụt bác sĩ tuyến xã, huyện, đồng thời tạo nguồn cán bộ y tế gắn bó lâu dài với địa phương.

Song song với việc tăng số lượng, ngành Y tế chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, phong cách phục vụ. Các chương trình đào tạo liên tục, đào tạo sau đại học, cập nhật kỹ thuật mới được triển khai thường xuyên. Nhiều bác sĩ, điều dưỡng trong vùng được cử đi đào tạo tại các bệnh viện tuyến trung ương, sau đó trở về phục vụ tại địa phương, góp phần thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa tuyến trên và tuyến dưới.

Việc phát triển nhân lực y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ không chỉ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn góp phần quan trọng trong củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đội ngũ cán bộ y tế tận tâm, gắn bó với Nhân dân vùng cao, trở thành “cầu nối” giữa chính sách của Đảng với đời sống đồng bào, qua đó, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Có thể khẳng định, phát triển nhân lực y tế chính là một trong những thành công nổi bật khi thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-KL/TW. Đây cũng là tiền đề quan trọng để ngành Y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ tiếp tục phát triển trong giai đoạn tới, hướng đến mục tiêu xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Bốn là, chính sách an sinh và hỗ trợ đặc thù được triển khai rộng rãi.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về khám chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Ngày 01/3/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg tiếp tục sửa đổi, bổ sung Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg để mở rộng phạm vi và mức hỗ trợ chữa bệnh cho người nghèo. Nhờ đó, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, hộ cận nghèo được hỗ trợ mua thẻ từ 50% – 70%. Đây là nền tảng giúp tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của vùng đạt 95,2% năm 2019, cao hơn mức bình quân cả nước.

Ngoài việc cấp thẻ bảo hiểm y tế, nhiều cơ chế hỗ trợ trực tiếp cũng được áp dụng, như: chi phí ăn trong thời gian điều trị nội trú; hỗ trợ đi lại từ nhà đến bệnh viện và ngược lại; hỗ trợ chi phí đồng chi trả. Những chính sách này đặc biệt ý nghĩa với đồng bào vùng cao, nơi thu nhập bình quân thấp và điều kiện đi lại khó khăn, góp phần khuyến khích người dân đến khám chữa bệnh sớm, hạn chế tình trạng điều trị muộn do “rào cản” tài chính và địa hình.

Thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác y tế, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2009/NĐ-CP, quy định phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thu hút, trợ cấp đặc thù cho cán bộ y tế công tác ở vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg quy định chế độ phụ cấp cho nhân viên y tế thôn, bản. Các chế độ phụ cấp trực, phẫu thuật, thủ thuật cũng được nâng bình quân 2,5 lần so với năm 2003. Đây là chính sách giàu tính nhân văn, giúp khuyến khích cán bộ gắn bó lâu dài, đồng thời, phát huy vai trò của đội ngũ y tế cơ sở trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Nhiều chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai tại vùng, như: Chương trình phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS; Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm; Chương trình y tế – dân số giai đoạn 2016 – 2020. Thông qua các chương trình này, người dân không chỉ được hỗ trợ y tế mà còn được nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe, góp phần cải thiện chỉ số dinh dưỡng, giảm tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm. Các chính sách an sinh y tế không chỉ bảo vệ quyền lợi cơ bản của nhân dân mà còn thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với vùng còn nhiều khó khăn.

Nhìn tổng thể, hệ thống chính sách an sinh và hỗ trợ đặc thù đã tạo ra bước đột phá trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Đây là biểu hiện sinh động của quan điểm nhất quán: “Đầu tư cho y tế là đầu tư cho phát triển”, gắn phát triển y tế với mục tiêu tiến bộ công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta trong việc chăm lo cho đời sống nhân dân.

Sau gần 17 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW (năm 2004) và Kết luận số 26-KL/TW (năm 2012), công tác y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đã đạt được những thành tựu quan trọng, song cũng còn bộc lộ không ít hạn chế, như:

(1) Một số chỉ số sức khỏe vẫn còn thấp. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn cao (28% thấp còi, 18,1% nhẹ cân năm 2019), so với bình quân cả nước lần lượt là 19,5% và 11,5%. Tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ em cao gấp 1,5-2 lần so với vùng đồng bằng16.

(2) Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế còn khó khăn. Nhiều huyện vùng cao cách xa bệnh viện tỉnh trên 100 km, mất nhiều giờ đi lại. Toàn vùng 14 tỉnh nhưng chỉ có một bệnh viện tuyến Trung ương, chưa đáp ứng nhu cầu chuyên khoa sâu.

(3) Sự phân bổ cơ sở vật chất và nhân lực chưa đồng đều. Một số trạm y tế xã xuống cấp, thiếu trang thiết bị; vẫn còn tình trạng thiếu bác sĩ chuyên khoa sâu, đặc biệt ở tuyến huyện.

(4) Gánh nặng bệnh tật ngày càng phức tạp. Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm truyền thống, các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, tiểu đường, ung thư… cũng gia tăng nhanh chóng. Một số tỉnh như Điện Biên, Sơn La vẫn nằm trong nhóm có tỷ lệ HIV/AIDS và ma túy cao.

(5) Ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế. Mặc dù cơ sở khám chữa bệnh đã có kết nối internet, nhưng tỷ lệ hộ gia đình vùng núi sử dụng internet băng rộng cố định chỉ đạt 43%, thấp nhất cả nước17. Điều này ảnh hưởng đến triển khai đồng bộ hồ sơ sức khỏe điện tử và dịch vụ khám chữa bệnh từ xa.

Có thể khẳng định, thành tựu trong công tác y tế của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đạt được là to lớn, tạo bước tiến căn bản trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân trong vùng. Tuy nhiên, những hạn chế nêu trên cũng đặt ra thách thức không nhỏ, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội trong những năm tiếp theo.

4. Kết luận

Sau gần 17 năm triển khai Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-KL/TW, công tác y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Các chỉ số y tế cơ bản được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt mức cao nhất cả nước; mạng lưới y tế được đầu tư, nâng cấp đồng bộ; nhân lực y tế tuyến cơ sở được tăng cường; chính sách an sinh và hỗ trợ đặc thù phát huy hiệu quả. Những thành tựu này không chỉ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân mà còn góp phần củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị và phát triển bền vững vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 63. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 364 – 365.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 64. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 4.
3. Thủ tướng Chính phủ (2006). Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg, ngày 30/6/2006, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
4. Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg, ngày 05/02/2008 về ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010.
5. 6. Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg, ngày 22/02/2008 phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
7. Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg, ngày 02/4/2008 về việc phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2008 – 2010.
8. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012). Kết luận số 26-KL/TW, ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020.
9. Thủ tướng Chính phủ (2014). Quyết định số 1580/QĐ-TTg, ngày 06/9/2014 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 26-Kl/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị khoá IX nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020.
10. 11. 12. 13. 14. 15. 16. 17. Bộ Y tế (2021). Báo cáo số 1119/BC-BYT, ngày 29/7/2021 tổng kết thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị (khoá IX) về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
2. Bộ Y tế (2021). Báo cáo số 1119/BC-BYT ngày 29/7/2021 tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị đối với lĩnh vực y tế vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.
3. Chính phủ (2009). Nghị định số 64/2009/NĐ-CP ngày 30/7/2009 về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Thủ tướng Chính phủ (2002). Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 về việc khám, chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
6. Thủ tướng Chính phủ (2006). Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg, ngày 30/6/2006 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
7. Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg, ngày 05/02/2008 về ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội đối với các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010.
8. Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg, ngày 22/02/2008 phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
9. Thủ tướng Chính phủ (2009). Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa tỉnh, huyện bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.
10. Thủ tướng Chính phủ (2009). Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg ngày 11/5/2009 về việc quy định chế độ phụ cấp cho nhân viên y tế thôn, bản.
11. Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 về sửa đổi, bổ sung một số chế độ hỗ trợ từ Quỹ khám, chữa bệnh cho người nghèo theo Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg.
12. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2020). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. H. NXB Lý luận chính trị.