The principle of combining economic development with the building of military and defense capabilities in Vietnam today
Dương Thành Tiếng
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh là chủ trương chiến lược, đường lối phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trí tuệ nhân tạo đang tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống, việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế và quốc phòng càng trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và làm rõ những vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực trọng yếu này.
Từ khóa: Phát triển kinh tế; tiềm lực quân sự, quốc phòng; chiến lược bảo vệ Tổ quốc.
Abstract: Combining socio-economic development with strengthening national defense and security is a strategic policy and an important part of the Party and State’s national development guidelines. In the context of complex and unpredictable global and regional changes, and the profound impact of the Fourth Industrial Revolution and artificial intelligence on all aspects of life, harmonizing the relationship between the economy and national defense has become increasingly urgent. This article delves into the theoretical and practical foundations. It clarifies the fundamental issues in integrating economic development with military and national defense capabilities in Vietnam today, thereby proposing solutions to improve the effectiveness and efficiency of state management in this crucial area.
Key words: Economic development; military and defense capabilities; national defense strategy.
1. Đặt vấn đề
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã đúc kết thành một quy luật: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước”, “thái bình nên gắng sức, non nước vững ngàn thu”. Kế thừa truyền thống và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến luợc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nuớc”1. Việc kết hợp này không chỉ là sự lắp ghép cơ học mà là sự thâm nhập, quy định lẫn nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Tuy nhiên, để sự kết hợp đạt được hiệu quả thực chất, không làm tổn hại đến lợi ích của nhau, đòi hỏi sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt những vấn đề có tính nguyên tắc cốt lõi.
2. Cơ sở lý luận của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, kinh tế và quốc phòng là hai lĩnh vực hoạt động cơ bản của một quốc gia có giai cấp và nhà nước. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội”2. Kinh tế quyết định quốc phòng trên các phương diện: cung cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật, vũ khí, trang bị; quyết định số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho lực lượng vũ trang; và ảnh hưởng trực tiếp đến nghệ thuật quân sự. Ngược lại, quốc phòng, an ninh vững mạnh là điều kiện tiên quyết, là môi trường bảo đảm cho kinh tế phát triển. Một quốc gia không thể có tăng trưởng kinh tế bền vững nếu luôn phải đối mặt với nguy cơ chiến tranh, xung đột, khủng bố hoặc bất ổn chính trị.
Thực tiễn 40 năm đổi mới (1986 – 2026) đã chứng minh, nhờ kết hợp tốt kinh tế với quốc phòng, Việt Nam đã vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa xây dựng được nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Các khu kinh tế – quốc phòng tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, xóa đói giảm nghèo, đồng thời tạo ra vành đai thép bảo vệ phên dậu của Tổ quốc.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra thách thức lớn. Các thế lực thù địch không ngừng chống phá bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng hợp tác kinh tế, đầu tư (FDI) để thâm nhập, chuyển hóa chính trị, đánh cắp bí mật quốc gia hoặc thâu tóm các vị trí địa chiến lược trọng yếu. Do đó, việc nắm vững và thực thi các nguyên tắc kết hợp là mệnh lệnh khách quan.
Thứ nhất, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý điều hành thống nhất của Nhà nước.
Đây là nguyên tắc bao trùm, quan trọng nhất, quyết định bản chất và phương hướng của toàn bộ quá trình kết hợp. Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chiến lược, định hướng quy hoạch và các nghị quyết chuyên đề về kết hợp kinh tế – xã hội với quốc phòng – an ninh. Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm cho quá trình kết hợp luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước thể chế hóa đường lối của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách cụ thể. Chính phủ thống nhất quản lý, điều hành vĩ mô, sử dụng các công cụ pháp lý và kinh tế để phân bổ nguồn lực quốc gia một cách hợp lý, bảo đảm vừa phục vụ dân sinh vừa đáp ứng nhu cầu quốc phòng trong mọi tình huống.
Thứ hai, kết hợp toàn diện, đồng bộ, thống nhất nhưng có trọng tâm, trọng điểm.
Nguyên tắc này đòi hỏi sự kết hợp phải được tiến hành ở tất cả các khâu: từ hoạch định chiến lược, quy hoạch tổng thể đến lập kế hoạch và tổ chức thực hiện; từ cấp trung ương đến địa phương, cơ sở; trên mọi ngành, lĩnh vực kinh tế. Tính toàn diện và đồng bộ thể hiện ở mọi quy hoạch phát triển vùng, miền, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm, tuyến biên giới, biển đảo, phải lồng ghép yếu tố quốc phòng ngay từ đầu. Tránh tình trạng “kinh tế đi trước, quốc phòng chạy theo”, khi dự án đã hoàn thành mới đánh giá tác động đến an ninh thì đã muộn (ví dụ: xây dựng nhà máy, cao ốc che khuất tầm nhìn của các trận địa phòng không; các dự án có vốn đầu tư nước ngoài nằm ở các điểm cao khống chế).
Có trọng tâm, trọng điểm thể hiện ở việc đầu tư kết hợp phải tập trung vào các địa bàn chiến lược (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các xã đảo) và các ngành công nghiệp mũi nhọn có tính chất “lưỡng dụng” (vừa phục vụ kinh tế, vừa phục vụ quân sự) như viễn thông, cơ khí chế tạo, công nghệ vật liệu mới, hàng không, đóng tàu.
Thứ ba, bảo đảm lợi ích kép. Hiệu quả kinh tế đi đôi với hiệu quả quốc phòng, an ninh.
Bất kỳ một dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội nào cũng phải được thẩm định chặt chẽ về hai mặt: lợi ích kinh tế và tác động đối với quốc phòng – an ninh. Một công trình giao thông (đường cao tốc, hầm xuyên núi, sân bay, bến cảng) không chỉ tính đến lưu lượng hàng hóa dân sự mà còn phải bảo đảm khả năng cơ động của các lực lượng, khí tài quân sự hạng nặng khi có chiến tranh. Sân bay dân dụng phải có phương án sử dụng như một căn cứ không quân dự bị.
Việc mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, thu hút FDI phải được chọn lọc kỹ lưỡng. Tuyệt đối không vì mục tiêu tăng trưởng GDP đơn thuần hoặc thu ngân sách địa phương mà chấp nhận các dự án đầu tư nước ngoài tại các vị trí trọng yếu về phòng thủ, các khu vực nhạy cảm sát biên giới, bờ biển.
Thứ tư, xây dựng tiềm lực kinh tế mạnh gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.
Nền kinh tế quốc dân là nền tảng vật chất của nền quốc phòng. Nguyên tắc này đòi hỏi: (1) Cơ cấu kinh tế phải hợp lý, tự chủ, tự cường, có khả năng đứng vững trước các cú sốc từ bên ngoài (như bao vây cấm vận, đứt gãy chuỗi cung ứng). (2) Thực hiện tốt việc “động viên công nghiệp”, tức là các nhà máy, xí nghiệp dân sự trong thời bình phải được tích hợp sẵn công nghệ và phương án để có thể nhanh chóng chuyển đổi sang sản xuất vũ khí, trang bị, quân trang, quân dụng phục vụ quân đội khi có tình huống chiến tranh. (3) Phát triển kinh tế biển phải gắn liền với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Xây dựng đội tàu đánh bắt xa bờ kết hợp với hải đội dân quân thường trực, để mỗi ngư dân là một “cột mốc sống”, mỗi con tàu là một pháo đài trên biển.
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển các khu kinh tế – quốc phòng với xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố.
Mô hình các đoàn kinh tế – quốc phòng của Quân đội nhân dân Việt Nam là một nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự và chính sách phát triển. Nguyên tắc ở đây là: (1) Các đơn vị quân đội tham gia làm kinh tế không nhằm mục tiêu lợi nhuận đơn thuần, mà mục tiêu tối thượng là “đứng chân” trên các địa bàn gian khổ, giúp dân xóa đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi trọc, xây dựng cơ sở hạ tầng. (2) Sự phát triển kinh tế đó tạo ra “thế trận lòng dân” vững chắc, làm thất bại âm mưu kích động ly khai, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch tại các vùng dân tộc thiểu số. Các khu kinh tế – quốc phòng chính là những cụm cứ điểm vững chắc trong hệ thống khu vực phòng thủ liên hoàn của cả nước.
3. Thực tiễn phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quốc phòng thời gian qua
Hệ thống pháp luật dần được đồng bộ hóa. Luật Quốc phòng năm 2018, Luật Dân quân tự vệ năm 2019, Luật Biên phòng Việt Nam năm 2020 và các nghị định của Chính phủ, như: Nghị định số 164/2018/NĐ-CP về kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng.
Mạng lưới giao thông vận tải, thông tin liên lạc, lưới điện quốc gia được quy hoạch gắn với các khu vực phòng thủ. Hệ thống đường tuần tra biên giới, đường ven biển được đầu tư mạnh mẽ, vừa tạo động lực phát triển kinh tế biên mậu, du lịch, vừa tăng cường khả năng tuần tra, kiểm soát, bảo vệ lãnh thổ.
Năng lực công nghiệp quốc phòng đã có bước tiến vượt bậc. Nhiều sản phẩm công nghệ cao mang tính “lưỡng dụng” được chế tạo thành công. Các tập đoàn, tổng công ty quân đội như Viettel, Tân Cảng Sài Gòn, Trực thăng Việt Nam… không chỉ là lực lượng nòng cốt trong bảo đảm quốc phòng mà còn là những trụ cột vững chắc của nền kinh tế đất nước, đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước.
Bên cạnh những thành tựu, quá trình thực hiện các nguyên tắc kết hợp vẫn bộc lộ một số tồn tại, như: ở một số địa phương, cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về nguyên tắc kết hợp. Tư tưởng “trọng kinh tế, nhẹ quốc phòng” vẫn còn len lỏi, dẫn đến việc cấp phép đầu tư thiếu thận trọng, thậm chí “xé rào” giao đất, cho thuê đất dài hạn ở những vị trí trọng yếu cho doanh nghiệp nước ngoài.
Cơ chế phối hợp thiếu chặt chẽ, việc thẩm định yếu tố quốc phòng, an ninh trong các dự án kinh tế đôi khi còn mang tính hình thức. Có hiện tượng thiếu sự trao đổi thông tin minh bạch giữa các bộ, ngành quản lý kinh tế với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ngay từ khâu lập quy hoạch.
Hạ tầng lưỡng dụng chưa cao, nhiều công trình dân dụng được xây dựng (đường sá, cầu cống) chưa chú trọng đúng mức đến tiêu chuẩn tải trọng, kích thước để phục vụ cơ động quân sự trong tình huống khẩn cấp.
Luật pháp, chính sách còn khoảng trống. Cơ chế để khuyến khích, huy động các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, hoặc chính sách “động viên công nghiệp” chưa thực sự đủ mạnh, thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết, gây khó khăn trong thực thi.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị.
Cần đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp và cán bộ tham mưu, hoạch định chính sách kinh tế. Khắc phục triệt để tư tưởng thiên lệch, chỉ thấy lợi ích kinh tế trước mắt hoặc cục bộ địa phương mà bỏ qua các nguy cơ lâu dài về an ninh quốc gia. Phải quán triệt quan điểm, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là nhiệm vụ của quân đội hay công an mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của mọi ngành kinh tế.
Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách quản lý nhà nước.
Chính phủ cần tiếp tục rà soát, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa nguyên tắc kết hợp. Cần ban hành các tiêu chí cụ thể, rõ ràng về “thẩm định quốc phòng, an ninh” đối với các dự án đầu tư FDI, các dự án hạ tầng lớn. Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá nhằm thu hút mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là nguồn lực khoa học công nghệ từ khu vực tư nhân, tham gia vào xây dựng công nghiệp quốc phòng, hình thành tổ hợp công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng. Thể chế hóa chặt chẽ quy định về người đứng đầu chính quyền các cấp phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật và trước Đảng nếu để xảy ra sai phạm trong việc cấp phép đầu tư ảnh hưởng đến thế trận quốc phòng.
Ba là, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch tổng thể và quy hoạch vùng.
Khi xây dựng quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển, quy hoạch sử dụng đất, các bộ, ngành chức năng phải phối hợp chặt chẽ, mật thiết với Bộ Quốc phòng. Phân vùng chiến lược rõ ràng, trong đó khu vực nào ưu tiên hoàn toàn cho kinh tế, khu vực nào là vành đai phòng thủ không được xâm phạm và khu vực nào đan xen (lưỡng dụng). Đối với các đô thị lớn, việc quy hoạch không gian ngầm (tàu điện ngầm, bãi đỗ xe ngầm, trung tâm thương mại ngầm) phải bắt buộc kết hợp thiết kế thành hệ thống hầm trú ẩn dân sự và căn cứ quân sự khi xảy ra chiến tranh.
Bốn là, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển công nghiệp quốc phòng gắn với công nghiệp quốc gia.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, trí tuệ nhân tạo phải lấy khoa học công nghệ làm khâu đột phá. Nền công nghiệp quốc phòng phải là một bộ phận hữu cơ của nền công nghiệp quốc gia. Quân đội cần chuyển giao các công nghệ lưỡng dụng phù hợp cho dân sự để phát triển kinh tế (như công nghệ viễn thông, vệ tinh, vật liệu nổ công nghiệp). Ngược lại, Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng các doanh nghiệp công nghệ lớn của Việt Nam (FPT, Vingroup…) nghiên cứu, sản xuất các linh kiện, phần mềm chỉ huy, thiết bị bay không người lái (UAV) phục vụ quân đội.
Năm là, chăm lo xây dựng “Thế trận lòng dân” vững chắc làm nền tảng.
Kinh tế phát triển phải đi đôi với thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới, hải đảo. Bởi lẽ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”3. Khi Nhân dân được thụ hưởng thành quả của sự phát triển kinh tế, có niềm tin tuyệt đối vào Đảng và chế độ, đó chính là nguồn sức mạnh quốc phòng to lớn nhất, không một loại vũ khí tối tân nào có thể đánh bại.
5. Kết luận
Kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng là một quy luật khách quan, một chủ trương chiến lược mang tầm nhìn thời đại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Việc thực hiện nghiêm túc, triệt để các vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình kết hợp không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực quốc gia, tránh lãng phí, mà còn là phương thức hữu hiệu nhất để “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Trong giai đoạn hội nhập sâu rộng và sự vận động nhanh chóng của cục diện thế giới, nhiệm vụ này càng đòi hỏi sự đổi mới tư duy mạnh mẽ, năng lực quản lý nhà nước sắc bén và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị. Kinh tế vững mạnh sẽ chắp cánh cho quốc phòng bay cao, quốc phòng vững chắc sẽ là tấm khiên thép bảo vệ thành quả kinh tế. Đó là nền tảng cốt lõi để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 114.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (2002). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 235.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 502.
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc hội (2018). Luật Quốc phòng năm 2018.
2. Chính phủ (2018), Nghị định số 164/2018/NĐ-CP về kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng.
3. Bộ Quốc phòng (2019). Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Nguyễn Phú Trọng (2023). Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng ở Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/10/09/yeu-cau-ket-hop-phat-trien-kinh-te-voi-quoc-phong-o-viet-nam-trong-boi-canh-moi-hien-nay/



