Tăng cường quốc phòng, an ninh trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: tạo lập thế và lực phát triển đất nước

Strengthening national defense and security in the Documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam: building strategic foundations and capabilities for national development

TS. Nguyễn Anh Tuấn
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, quốc phòng, an ninh ngày càng thể hiện vai trò không chỉ là “lá chắn bảo vệ” mà còn là nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình kiến tạo môi trường và điều kiện phát triển đất nước. Trên cơ sở phân tích nội dung về tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, bài viết làm rõ bước chuyển về tư duy chiến lược và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, từ chức năng bảo vệ truyền thống sang chủ động, tạo lập thế và lực để phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Quốc phòng; an ninh; Đại hội XIV; thế và lực; phát triển đất nước; tư duy chiến lược.

Abstract: Against the backdrop of rapid, complex, and unpredictable global and regional developments, national defense and security are increasingly playing a role not only as a “protective shield” but also as a factor directly involved in shaping the environment and conditions for the country’s development. Based on an analysis of the content regarding the strengthening of national defense and security, and the building of a regular, elite, and modern People’s Army and People’s Public Security Forces, regular, elite, and modern forces, and firmly defending the Socialist Motherland of Vietnam—as outlined in the documents of the Party’s 14th National Congress—this article clarifies the shift in strategic thinking and the implementation of national defense and security tasks, moving from traditional defensive functions to a proactive approach that builds strength and momentum to develop and firmly defend the Socialist Motherland of Vietnam in the new era.

Keywords: National defense; security; 14th Party Congress; strategic position and strength; national development; strategic thinking.

1. Mở đầu

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, thế giới và khu vực đang trải qua những biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xung đột vũ trang trên thế giới, đặc biệt tại khu vực Trung Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; thách thức an ninh phi truyền thống, như: an ninh mạng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng bố… diễn biến ngày càng đa dạng, tác động sâu rộng đến môi trường phát triển của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà còn phải chủ động tạo lập môi trường hòa bình, ổn định để phát triển nhanh và bền vững. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy chiến lược về quốc phòng, an ninh. Nếu như trước đây, quốc phòng, an ninh chủ yếu được nhấn mạnh ở chức năng bảo vệ Tổ quốc, thì nay, được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển, có vai trò chủ động tạo lập “thế” và “lực” cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được luận giải một cách toàn diện.

2. Sự phát triển tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh

Tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh được hình thành và phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự kế thừa sâu sắc kinh nghiệm trong truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đây là hệ tư tưởng mang tính nhất quán, xuyên suốt, luôn luôn được bổ sung, phát triển, vận dụng sáng tạo phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, phản ánh trình độ nhận thức ngày càng cao về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà nước và quốc gia không thể tồn tại và phát triển nếu không có khả năng tự bảo vệ trước các mối đe dọa từ bên ngoài và bên trong. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên, gắn liền với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, bảo vệ không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là chống xâm lược, mà còn bao hàm việc xây dựng tiềm lực toàn diện của quốc gia, từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến quốc phòng, an ninh. Chính sự phát triển nội tại đó tạo nên sức mạnh thực chất để bảo vệ chế độ và đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết này trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người khẳng định một cách sâu sắc rằng: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước”, coi đây là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc. Trong tư tưởng của Người, quốc phòng, an ninh không phải là lĩnh vực tách biệt mà gắn bó hữu cơ với mọi mặt của đời sống xã hội. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trước hết là sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được xây dựng trên nền tảng chính trị vững chắc, kinh tế phát triển và văn hóa giàu bản sắc. Quan điểm “lấy dân làm gốc”, xây dựng “thế trận lòng dân” chính là biểu hiện sinh động của cách tiếp cận toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ.

Nền tảng lý luận cách mạng, tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh còn được hun đúc từ truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh rằng, trong mọi giai đoạn, cha ông ta luôn biết kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, giữa xây dựng đất nước với bảo vệ Tổ quốc. Những tư tưởng như “ngụ binh ư nông”, “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, hay nghệ thuật chiến tranh nhân dân đều thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc: sức mạnh bảo vệ đất nước phải bắt nguồn từ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, từ nội lực bên trong là chủ yếu. Đây chính là những giá trị lịch sử – thực tiễn quý báu được Đảng kế thừa, phát triển trong điều kiện mới.

Trên nền tảng lý luận và thực tiễn đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, điểm nổi bật là tư duy về quốc phòng, an ninh không ngừng được đổi mới, phát triển theo hướng ngày càng toàn diện, hiện đại và gắn bó chặt chẽ hơn với yêu cầu phát triển đất nước.

Bắt đầu từ Đại hội VII (1991), khi đất nước chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng hội nhập quốc tế, Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị – xã hội là điều kiện tiên quyết để phát triển. Quốc phòng, an ninh được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế – xã hội, không tách rời mà hỗ trợ, bổ sung cho nhau1. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy đối phó trong điều kiện chiến tranh sang tư duy chủ động bảo đảm môi trường hòa bình để phát triển.

Qua các kỳ Đại hội tiếp theo, đặc biệt từ Đại hội VIII đến Đại hội X, tư duy này tiếp tục được hoàn thiện, nhấn mạnh: xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh trong từng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển2. Đảng ngày càng chú trọng đến việc xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh gắn với tiềm lực kinh tế, khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực, coi đây là yếu tố quyết định để nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia3.

Đến Đại hội XI và XIII, trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Đảng đã phát triển tư duy theo hướng chủ động hơn, với quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”4. Điều này thể hiện sự chuyển biến rõ nét từ tư duy bị động sang tư duy chủ động phòng ngừa, từ phản ứng trước các nguy cơ sang dự báo và xử lý từ trước khi nguy cơ trở thành hiện thực. Đây là bước phát triển quan trọng, phản ánh tầm nhìn chiến lược trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Trên cơ sở đó, tư duy về quốc phòng, an ninh tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, khi không chỉ dừng lại ở chức năng bảo vệ hay bảo đảm môi trường ổn định, mà còn hướng tới vai trò: chủ động tham gia tạo lập “thế” và “lực” cho phát triển đất nước5. Điều này cho thấy sự phát triển logic, có tính kế thừa và đổi mới, phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới.

Từ góc độ lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định, quốc phòng, an ninh giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây không chỉ là “lá chắn” bảo vệ mà còn là nền tảng bảo đảm ổn định, là điều kiện để phát triển và ngày càng trở thành nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình kiến tạo phát triển. Sức mạnh quốc phòng, an ninh không chỉ được đo bằng tiềm lực quân sự mà còn bằng sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền kinh tế, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và của vị thế quốc tế của đất nước.

Như vậy, sự phát triển trong tư duy của Đảng về quốc phòng, an ninh là một quá trình liên tục, phản ánh sự vận động của thực tiễn và yêu cầu của thời đại. Từ nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống dân tộc, tư duy này ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện, chủ động và hiện đại hơn, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

3. Những nội dung cốt lõi về tăng cường quốc phòng, an ninh trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Trên nền tảng lý luận và thực tiễn đã được tích lũy qua các giai đoạn phát triển, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn quan điểm về tăng cường quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Điểm nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa tính nguyên tắc và tính phát triển, giữa yêu cầu bảo vệ Tổ quốc với yêu cầu phát triển đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trước hết, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với nội hàm toàn diện và sâu sắc hơn. Không chỉ dừng lại ở bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, mà còn bao hàm việc bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích quốc gia – dân tộc trong mọi tình huống6. Cách tiếp cận này thể hiện rõ nhận thức về tính tổng thể của an ninh quốc gia, trong đó các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể tách rời.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã mở rộng nội hàm an ninh theo hướng bao trùm nhiều lĩnh vực, phản ánh đặc điểm của thời đại khi các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng. Các lĩnh vực, như: an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước… được đặt trong tổng thể an ninh quốc gia7. Điều này phù hợp với nhận định của V.I.Lênin khi cho rằng “việc bảo vệ nhà nước không chỉ bằng bạo lực mà còn bằng việc củng cố nền tảng kinh tế và tổ chức xã hội của nó”8.

Một nội dung quan trọng khác là việc tiếp tục khẳng định và phát triển quan điểm xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc. Đây là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Người từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”9. Quan điểm này được Văn kiện Đại hội XIV phát triển trong điều kiện mới, nhấn mạnh việc xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh không chỉ về mặt tổ chức lực lượng mà còn về nền tảng chính trị – xã hội, về niềm tin và sự đồng thuận của nhân dân.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặc biệt chú trọng phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh gắn với tiềm lực kinh tế, khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại không chỉ nhằm nâng cao khả năng bảo vệ Tổ quốc mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia10. Điều này phản ánh rõ tư duy kết hợp giữa “xây dựng” và “bảo vệ” trong điều kiện mới.

Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; đồng thời xử lý hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống11. Đây là biểu hiện cụ thể của tư duy chủ động, thể hiện bước tiến về chất trong nhận thức và phương thức bảo vệ Tổ quốc.

Một trong những điểm có ý nghĩa chiến lược là việc gắn kết chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định rõ việc kết hợp này nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia, tạo “thế” và “lực” mới cho đất nước12. Điều này phù hợp với quan điểm của C. Mác về vai trò của cơ sở kinh tế đối với sự ổn định và phát triển của xã hội13, đồng thời, thể hiện sự vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Như vậy, nội dung cốt lõi về tăng cường quốc phòng, an ninh trong Văn kiện Đại hội XIV không chỉ kế thừa các quan điểm trước đây mà còn phát triển theo hướng toàn diện, hiện đại và gắn bó chặt chẽ hơn với yêu cầu phát triển đất nước. Đây chính là nền tảng lý luận và thực tiễn quan trọng cho bước chuyển tiếp theo trong tư duy chiến lược.

4. Định hướng thể hiện bước chuyển từ bảo vệ sang chủ động tạo lập thế và lực phát triển đất nước

Trên cơ sở những nội dung cốt lõi đã được xác lập, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện rõ bước chuyển về chất trong tư duy chiến lược về quốc phòng, an ninh. Nếu như trong các giai đoạn trước, quốc phòng, an ninh chủ yếu được nhìn nhận với chức năng bảo vệ và bảo đảm môi trường ổn định, thì nay đã được nâng lên thành yếu tố chủ động tham gia tạo lập “thế” và “lực” cho phát triển đất nước.

Bước chuyển này trước hết xuất phát từ yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới, khi mục tiêu của Việt Nam không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn là phát triển nhanh, bền vững, nâng cao vị thế quốc tế và bảo đảm an ninh toàn diện. Trong bối cảnh đó, quốc phòng, an ninh không thể chỉ đóng vai trò “giữ ổn định” mà phải tham gia trực tiếp vào việc kiến tạo môi trường thuận lợi cho phát triển. Đây là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa xây dựng và bảo vệ.

Thực tiễn thế giới những năm gần đây cho thấy, các xung đột hiện đại không còn giới hạn trong phạm vi quân sự mà đã lan rộng sang các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, thông tin và không gian mạng. Những biến động này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận về quốc phòng, an ninh. Nếu chỉ dừng lại ở tư duy phòng thủ, ứng phó thì sẽ không đủ để bảo đảm ổn định và phát triển trong dài hạn. Như V.I. Lênin đã từng nhấn mạnh, một nhà nước muốn tồn tại vững chắc phải biết chủ động tạo dựng những điều kiện bảo đảm cho sự phát triển của mình, chứ không chỉ phản ứng trước các mối đe dọa.

Trong bối cảnh đó, nội hàm của “tạo lập thế và lực” cần được nhận thức đầy đủ và toàn diện. “Thế” trước hết là môi trường hòa bình, ổn định, là vị thế và uy tín quốc tế của đất nước, là mạng lưới quan hệ đối ngoại chiến lược được xây dựng trên cơ sở lợi ích quốc gia – dân tộc. “Lực” là tiềm lực tổng hợp của quốc gia, bao gồm sức mạnh kinh tế, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực, cũng như sức mạnh quốc phòng, an ninh. Khi các yếu tố này được kết hợp hài hòa, sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững.

Từ góc độ này, quốc phòng, an ninh không chỉ là công cụ bảo vệ mà còn là một trong những nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển. Việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng, ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại, tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế, gìn giữ hòa bình… đều góp phần nâng cao vị thế quốc gia và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển. Điều này thể hiện rõ sự chuyển dịch từ “bảo vệ thụ động” sang “kiến tạo chủ động”.

Đồng thời, bước chuyển này còn phản ánh sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Nếu như trước đây, Người nhấn mạnh “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, thì ngày nay, nội hàm đó được mở rộng thành việc chủ động tạo dựng các điều kiện để đất nước không rơi vào thế bị động, bất lợi. Đây chính là biểu hiện sinh động của tư duy chiến lược mang tính phòng ngừa, chủ động và phát triển.

Có thể khẳng định rằng, sự chuyển dịch từ chức năng bảo vệ sang vai trò chủ động tạo lập “thế” và “lực” phát triển trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là bước phát triển có tính tất yếu, phù hợp với quy luật vận động của thời đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đây không chỉ là sự phát triển về nhận thức mà còn là định hướng hành động, đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong các chiến lược, chính sách và tổ chức thực hiện trong thực tiễn.

5. Kết luận

Tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩatrongVăn kiện Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy chiến lược về quốc phòng, an ninh, thể hiện sự trưởng thành cả về lý luận và thực tiễn của Đảng trong lãnh đạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quốc phòng, an ninh không chỉ dừng ở chức năng bảo vệ mà đã được nâng lên, gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Sự chuyển dịch từ tư duy “bảo vệ” sang “chủ động tạo lập thế và lực phát triển” là kết quả tích lũy lâu dài trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống dân tộc; đồng thời, được bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong bối cảnh an ninh đa chiều, phi truyền thống gia tăng, quốc phòng, an ninh phải vừa phòng ngừa, ứng phó hiệu quả, vừa chủ động kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế và tiềm lực quốc gia… Quan điểm trên luôn mang tính khoa học, thực tiễn và thời đại; việc quán triệt, triển khai hiệu quả sẽ là nhân tố quyết định để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và tạo dựng “thế” và “lực” cho phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII.  H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 81.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 118; Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 109.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 123.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 74; Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 156.
5, 6, 7, 10, 11, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.142, 145; 135 – 137; 138 – 140; 141 – 143; 147 – 149.
8. V.I. Lênin toàn tập (1977). Tập 33. NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 34 – 36.
9. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H.NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 453
13. C. Mác – Ăng ghen toàn tập (1995). Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 9 – 12.