Quan điểm của Đảng về quyền con người trong Văn kiện Đại hội XIV và yêu cầu đổi mới quản trị nhà nước ở Việt Nam hiện nay

The Party’s perspective on human rights in the documents of the 14th National Congress and the need for reform of state governance in Vietnam today

Ngô Thanh Nguyễn Hiếu Thảo
Văn phòng Luật sư Vietjuris

(Quanlynhanuoc.vn) Bài viết phân tích sự phát triển trong quan điểm của Đảng về quyền con người qua Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, làm rõ sự chuyển dịch từ cách tiếp cận coi quyền con người là đối tượng được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm sang cách tiếp cận coi quyền con người là nguyên tắc định hướng đối với quản trị nhà nước. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải những yêu cầu đặt ra đối với đổi mới quản trị nhà nước ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: hoàn thiện thể chế, đổi mới công cụ đánh giá quản trị, thúc đẩy quản trị số và xây dựng nền quản trị quốc gia lấy con người làm trung tâm.

Từ khóa: Quyền con người; Văn kiện Đại hội XIV; quản trị nhà nước; quản trị quốc gia; nhà nước pháp quyền; chuyển đổi số.

Abstract: This article analyzes the development of the Party’s perspective on human rights through the documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam, clarifying the shift from an approach that views human rights as an object to be respected, protected, and guaranteed to an approach that views human rights as a guiding principle for state governance. Based on this, the article discusses the requirements for reforming state governance in Vietnam today, including improving institutions, innovating governance assessment tools, promoting digital governance, and building a people-centered national governance system.
Keywords: Human rights; 14th National Congress documents; state governance; national governance; rule of law; digital transformation.

1. Đặt vấn đề

Quyền con người luôn là nội dung cốt lõi trong đường lối của Đảng và được phát triển cùng với tiến trình đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Từ việc khẳng định nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách bộ máy nhà nước, quan điểm của Đảng về quyền con người ngày càng được phát triển theo hướng gắn chặt với mục tiêu phát triển con người, phát huy dân chủ và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục kế thừa những quan điểm nhất quán về quyền con người, đồng thời, thể hiện nhiều nội dung phát triển mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

 Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và tiếp cận quản trị nhà nước, bài viết tập trung làm rõ nội dung: (1) Phân tích sự phát triển trong quan điểm của Đảng về quyền con người qua Văn kiện Đại hội XIV; (2) Luận giải những yêu cầu đặt ra đối với quản trị nhà nước. Qua đó, bài viết góp phần tiếp cận nghiên cứu quyền con người từ góc độ quản trị nhà nước, coi quyền con người không chỉ là mục tiêu của hoạt động quản lý mà còn là nguyên tắc định hướng, động lực phát triển và tiêu chí đánh giá chất lượng quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
2. Sự phát triển trong quan điểm của Đảng về quyền con người qua Văn kiện Đại hội XIV

Quan điểm của Đảng về quyền con người được hình thành và phát triển nhất quán qua các kỳ Đại hội, đồng thời không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng không chỉ kế thừa các quan điểm đã được khẳng định qua các kỳ đại hội mà còn thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận khi đặt quyền con người vào trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia và đổi mới quản trị nhà nước. Điểm mới của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về quyền con người không nằm ở việc bổ sung các quyền con người mới, mà ở sự thay đổi phương thức tiếp cận, chuyển từ tư duy coi quyền con người là đối tượng cần được bảo đảm bằng pháp luật sang tư duy coi quyền con người là nguyên tắc định hướng đối với toàn bộ hoạt động quản trị quốc gia.

Thứ nhất, từ bảo đảm quyền con người đến đặt quyền con người trong chỉnh thể chiến lược phát triển quốc gia. Trong các Văn kiện Đại hội trước, quyền con người chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền theo các nguyên tắc của Hiến pháp và pháp luật; đồng thời gắn với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ và phát triển con người toàn diện. Cách tiếp cận này khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền, song quyền con người vẫn chủ yếu được nhìn nhận như một mục tiêu của quá trình phát triển. Kế thừa tư duy đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nhưng đã có bước phát triển quan trọng khi xác định: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”1.

Đồng thời, Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân”2. Việc lần đầu tiên đặt các yếu tố Nhà nước pháp quyền – quản trị quốc gia hiện đại – công lý – quyền con người – quyền công dân trong cùng một chỉnh thể tư duy cho thấy quyền con người không chỉ được tiếp cận như một giá trị cần được bảo vệ mà đang trở thành nguyên tắc định hướng của mô hình quản trị quốc gia hiện đại. Với cách diễn đạt này, quyền con người không còn chỉ được xem là kết quả cần đạt tới mà trở thành tiêu chí đánh giá chất lượng của toàn bộ quá trình phát triển. Sự thay đổi này phản ánh bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng từ cách tiếp cận bảo đảm quyền sang cách tiếp cận phát triển lấy con người làm trung tâm. Quyền con người không còn được đặt ở vị trí “cuối” của chu trình quản trị như một kết quả của phát triển mà được đặt ở “đầu” của chu trình với tư cách là nguyên tắc định hướng cho việc hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách và phân bổ nguồn lực phát triển.

Thứ hai, từ bảo đảm quyền bằng pháp luật đến coi quyền con người là nguyên tắc của quản trị quốc gia hiện đại. Trong các văn kiện các kỳ đại hội, quyền con người chủ yếu được đặt trong mối quan hệ với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trọng tâm của quá trình bảo đảm quyền là hoàn thiện thể chế, tăng cường thực thi pháp luật và bảo vệ công lý. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng kế thừa nền tảng đó nhưng phát triển thêm một bước khi lần đầu tiên đặt Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản trị quốc gia hiện đại, công lý, quyền con người và quyền công dân trong cùng một chỉnh thể chiến lược. Điều này cho thấy quyền con người không còn được nhìn nhận như một lĩnh vực riêng của hoạt động lập pháp hoặc tư pháp mà trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước.

Nói cách khác, bảo đảm quyền con người không chỉ là yêu cầu của hệ thống pháp luật mà còn là tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của các thiết chế quản trị quốc gia. Sự phát triển này đặt ra yêu cầu tích hợp quyền con người vào toàn bộ chu trình chính sách công, từ khâu hoạch định, tổ chức thực hiện, giám sát đến đánh giá chính sách. Đây cũng là sự tiệm cận với xu hướng quản trị hiện đại trên thế giới, trong đó chất lượng quản trị được đánh giá không chỉ bằng hiệu lực quản lý mà còn bằng khả năng hiện thực hóa các quyền và lợi ích của người dân.

Thứ ba, từ phát huy dân chủ đến quản trị dựa trên sự tham gia và trách nhiệm giải trình. Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Tuy nhiên, trọng tâm chủ yếu vẫn là mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục kế thừa quan điểm này nhưng đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, quyền con người và quyền công dân khi cho rằng “cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, quyền con người, quyền công dân có mặt chưa được phát huy đầy đủ; tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập”3. Việc nhìn nhận đồng thời cả thành tựu và hạn chế cho thấy, sự chuyển biến từ tư duy khẳng định chủ trương sang tư duy đánh giá hiệu quả thực thi. Văn kiện chỉ rõ cần: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường đồng thuận xã hội…”4.

Về phương diện lý luận, đây là sự chuyển dịch từ tư duy bảo đảm quyền trên phương diện tạo điều kiện sang bảo đảm quyền trên phương diện hiệu quả thực thi. Quyền con người không chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật mà phải được hiện thực hóa thông qua các thiết chế dân chủ, sự tham gia thực chất của người dân, tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Đối với quản trị nhà nước, điều này khẳng định chất lượng quản trị không chỉ phụ thuộc vào năng lực điều hành của bộ máy hành chính mà còn phụ thuộc vào mức độ người dân được tham gia, được lắng nghe và được giám sát quá trình thực thi quyền lực nhà nước.

Thứ tư, từ bảo đảm các quyền truyền thống đến mở rộng không gian bảo đảm quyền trong bối cảnh chuyển đổi số. Điểm mới của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là đặt chuyển đổi số, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiện đại hóa quản trị trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia. Mặc dù Văn kiện không xây dựng riêng một nhóm quyền mới trên môi trường số, nhưng việc xác định chuyển đổi số là động lực phát triển đã mở rộng không gian bảo đảm quyền con người sang những lĩnh vực mới như quyền tiếp cận dịch vụ công số, quyền tiếp cận thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và thu hẹp khoảng cách số, điều này phản ánh sự mở rộng nội hàm của bảo đảm quyền con người từ không gian truyền thống sang không gian số, phù hợp với xu hướng phát triển của quản trị công trên thế giới. Từ góc độ quản trị nhà nước, đây là yêu cầu xây dựng mô hình quản trị số lấy con người làm trung tâm, trong đó công nghệ không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý mà còn phải góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận quyền, tăng cường bình đẳng trong thụ hưởng dịch vụ công và bảo đảm mọi người dân đều được hưởng lợi từ tiến trình chuyển đổi số.
3. Những yêu cầu đặt ra đối với đổi mới quản trị nhà nước từ sự phát triển quan điểm của Đảng về quyền con người
Một là, thể chế hóa cách tiếp cận quyền con người trong toàn bộ chu trình hoạch định chính sách. Điểm phát triển quan trọng của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là xác lập quyền con người như nguyên tắc định hướng đối với mọi chủ trương, chính sách phát triển. Điều đó đặt ra yêu cầu đổi mới quy trình xây dựng chính sách theo hướng không chỉ đánh giá tính hợp pháp, tính khả thi hay hiệu quả kinh tế – xã hội, mà còn phải đánh giá tác động của chính sách đối với việc thực hiện và thụ hưởng quyền con người.

Thực tiễn đổi mới công tác xây dựng pháp luật ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy yêu cầu đánh giá tác động chính sách ngày càng được coi trọng nhằm nâng cao chất lượng thể chế. Tuy nhiên, việc đánh giá hiện nay chủ yếu tập trung vào tác động kinh tế – xã hội, chi phí tuân thủ hoặc tính khả thi của chính sách, trong khi tác động đối với việc thực hiện quyền con người chưa được xem xét như một nội dung độc lập. Trong bối cảnh Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách, việc từng bước nghiên cứu tích hợp đánh giá tác động quyền con người sẽ góp phần cụ thể hóa tinh thần của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, đồng thời nâng cao tính toàn diện và tính nhân văn của quá trình xây dựng chính sách.
Hai là, đổi mới công cụ đánh giá hiệu quả quản trị theo hướng lấy quyền con người làm trung tâm. Nếu quyền con người trở thành nguyên tắc định hướng của quản trị nhà nước thì việc đánh giá hiệu quả quản trị cũng cần có sự thay đổi tương ứng. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã hình thành các bộ chỉ số quan trọng như: Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), Chỉ số sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS), Chỉ số quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) và Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Các bộ chỉ số này đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm giải trình và cải thiện chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước. Chẳng hạn, SIPAS đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công; PAPI phản ánh trải nghiệm của người dân về quản trị và hành chính công ở địa phương; PAR INDEX đánh giá kết quả cải cách hành chính của các bộ, ngành và địa phương.
Tuy nhiên, các bộ chỉ số này mới phản ánh từng khía cạnh của quản trị, chưa đánh giá một cách toàn diện mức độ hiện thực hóa quyền con người trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Vì vậy, cần nghiên cứu tích hợp các tiêu chí về quyền con người vào quá trình hoàn thiện các bộ chỉ số quản trị hiện hành. Chẳng hạn, PAR INDEX có thể bổ sung tiêu chí về khả năng tiếp cận bình đẳng đối với thủ tục hành chính; SIPAS mở rộng đánh giá mức độ bảo đảm quyền của người dân trong cung ứng dịch vụ công; PAPI tăng cường các tiêu chí về trách nhiệm giải trình, tiếp cận thông tin và bảo đảm quyền tham gia; trong khi PCI có thể chú trọng hơn đến việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp trong môi trường đầu tư, kinh doanh. Việc tích hợp này sẽ giúp các bộ chỉ số không chỉ phản ánh hiệu quả quản lý mà còn phản ánh chất lượng quản trị theo tinh thần lấy con người làm trung tâm.
Ba là, đổi mới phương thức quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI). Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định chuyển đổi số, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng của phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, bảo đảm quyền con người không còn giới hạn trong môi trường truyền thống mà cần mở rộng sang không gian số. Những năm gần đây, quá trình chuyển đổi số quốc gia đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong phương thức quản trị nhà nước. Việc vận hành Cổng Dịch vụ công Quốc gia, triển khai định danh điện tử VNeID, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công của người dân. Đây là những minh chứng cho thấy chuyển đổi số không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần hiện thực hóa nhiều quyền của công dân, như: quyền tiếp cận thông tin, quyền tiếp cận dịch vụ công và quyền bình đẳng trong thụ hưởng các dịch vụ do Nhà nước cung cấp.

Tuy nhiên, cùng với những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức mới liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn thông tin, kiểm soát việc sử dụng trí tuệ nhân tạo AI trong khu vực công và thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền. Trong bối cảnh đó, việc Quốc hội ban hành Luật Dữ liệu năm 2025 cùng với việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo nền tảng quan trọng để từng bước hoàn thiện thể chế quản trị số.

Bốn là, xây dựng nền quản trị quốc gialấy quyền con người làm giá trị cốt lõi. Nhìn từ góc độ tổng thể, sự phát triển trong quan điểm của Đảng về quyền con người qua Văn kiện Đại hội XIV không chỉ đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế mà còn đòi hỏi sự chuyển đổi về triết lý quản trị nhà nước. Nếu mô hình quản lý truyền thống nhấn mạnh quyền lực hành chính và việc thực hiện chức năng quản lý, thì mô hình quản trị hiện đại cần hướng tới tạo lập giá trị công, phục vụ người dân và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo đó, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cần được định hướng bởi nguyên tắc lấy quyền con người làm trung tâm. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ nâng cao năng lực chuyên môn mà còn hình thành tư duy phục vụ, tôn trọng quyền con người và thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình trước Nhân dân. Đồng thời, hiệu quả của quản trị nhà nước cần được đánh giá không chỉ thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng hay hiệu lực quản lý, mà còn bằng mức độ bảo đảm quyền con người, khả năng tiếp cận công bằng các dịch vụ công, hạnh phúc và sự hài lòng của người dân. Đây cũng chính là sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV về xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và lấy con người làm trung tâm của sự phát triển.

4. Kết luận

Quyền con người trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thể hiện sự chuyển dịch trong tư duy lý luận: từ cách tiếp cận coi quyền con người chủ yếu là đối tượng cần được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm sang cách tiếp cận coi quyền con người là nguyên tắc định hướng của quản trị quốc gia hiện đại. Với sự chuyển dịch này, quyền con người không chỉ là mục tiêu của phát triển mà còn trở thành thước đo đánh giá chất lượng thể chế, chất lượng hoạch định chính sách và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là bước phát triển quan trọng trong quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa Nhà nước, Nhân dân và sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr. 382, 328-383, 235, 235, 382-383.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương( khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)
6. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
7. Quốc hội (2025). Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
8. Liên Hợp quốc (1948). Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Universal Declaration of Human Rights).