Quan điểm của C.Mác – Ph.Ăngghen về vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển con người

Marx and Engels’ views on the role of science and technology in human development

ThS. Nguyễn Thị Mỹ Nhung
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ quan điểm của C.Mác – Ph.Ăngghen về vai trò của khoa học, công nghệ đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển con người Việt Nam hiện nay. Khoa học, công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy phát triển xã hội; phát triển khoa học, công nghệ gắn với nâng cao năng lực sáng tạo của con người, bảo đảm mục tiêu phát triển toàn diện con người và hoàn thiện thể chế nhằm phát huy hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ. Từ đó, làm sâu sắc những quan điểm của C.Mác – Ph.Ăngghen trong thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: C.Mác-Ph.Ăngghen; vai trò của khoa học; công nghệ; phát triển con người Việt Nam.

Abstract: This article clarifies the views of Karl Marx and Friedrich Engels on the role of science and technology in achieving the current goals of human development in Vietnam. Science and technology are direct productive forces, driving increased labor productivity and promoting social development; the development of science and technology is linked to enhancing human creativity, ensuring the goal of comprehensive human development, and perfecting institutions to effectively utilize scientific and technological achievements. From this, it deepens the understanding of Karl Marx and Friedrich Engels’ perspectives in implementing the Party’s viewpoints and guidelines, and the State’s policies and laws on the development of science and technology, innovation, digital transformation, and human development in Vietnam in the current period.

Keywords: C. Marx and F. Engels; the role of science and technology; human development in Vietnam.

1. Đặt vấn đề

 Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”1. Đồng thời, xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Đảng ta khẳng định: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng”2. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, làm rõ quan điểm của C. Mác – Ph.Ăngghen về vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển con người không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với việc hoạch định đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện ở Việt Nam hiện nay.

2. Quan điểm của C.Mác Ph.Ăngghen về vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển con người

Một là, khoa học – công nghệ là bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất.

Một trong những đóng góp lý luận quan trọng của C.Mác là việc ông đưa khoa học vào cấu trúc của lực lượng sản xuất. Trong “Tư bản”, Mác chỉ rõ rằng, trong nền đại công nghiệp, khoa học không chỉ là tri thức thuần túy, mà đã trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”. Các phát minh khoa học, các tiến bộ kỹ thuật, máy móc, dây chuyền sản xuất… đã làm thay đổi căn bản năng suất lao động, phương thức sản xuất và cả cấu trúc xã hội. Theo C.Mác, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật trở thành một yếu tố độc lập của lực lượng sản xuất xã hội. Khi khoa học thâm nhập vào sản xuất, nó không chỉ làm tăng năng suất lao động mà còn làm biến đổi vai trò của con người trong quá trình sản xuất. Lao động thủ công dần được thay thế bằng lao động máy móc, lao động trí óc ngày càng giữ vai trò quyết định.

C.Mác chỉ rõ: “Sự phát triển của hệ thống máy móc trên con đường ấy chỉ bắt đầu khi nền đại công nghiệp đã đạt được một trình độ phát triển cao hơn và tất cả các môn khoa học đều được phục vụ tư bản, còn bản thân hệ thống máy móc hiện có thì có những nguồn lực to lớn. Như vậy, phát minh trở thành một nghề đặc biệt, và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích”3. Điều đó có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển con người: con người ngày càng có điều kiện giải phóng khỏi lao động nặng nhọc, đơn điệu, có thời gian và điều kiện để phát triển trí tuệ, năng lực sáng tạo, đời sống tinh thần. Tuy nhiên, dưới chủ nghĩa tư bản, quá trình đó lại mang tính hai mặt: một mặt giải phóng con người khỏi lao động cơ bắp đơn thuần, mặt khác lại làm sâu sắc thêm sự tha hóa lao động, biến người công nhân thành “phụ lục của máy móc”.

Hai là, khoa học công nghệ vừa là động lực giải phóng con người, vừa là công cụ tha hóa con người trong xã hội tư bản.

C.Mác -Ph.Ăngghen không tuyệt đối hóa vai trò tích cực của khoa học – công nghệ một cách giản đơn. Trái lại, hai ông phân tích rất sâu sắc tính hai mặt của tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong xã hội có đối kháng giai cấp. C.Mác chỉ rõ: “Những khối đông đảo công nhân chen chúc trong công xưởng, được tổ chức theo lối quân sự. Là những người lính trơn của công nghiệp, họ đã bị đặt dưới quyền giám sát của cả một hệ thống cấp bậc sĩ quan và hạ sĩ quan. Họ không những là nô lệ của giai cấp tư sản, của nhà nước tư sản, mà hàng ngày, hàng giờ còn là nô lệ của máy móc, của người đốc công và trước hết là của chính nhà tư sản chủ công xưởng”4. Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844”, C.Mác đã chỉ ra rằng, trong chế độ tư bản chủ nghĩa, sản phẩm lao động, máy móc và toàn bộ thành quả của khoa học – kỹ thuật lại đối lập với người công nhân như một quyền lực xa lạ, thống trị chính họ. Máy móc không giải phóng con người, mà trái lại, trở thành công cụ tăng cường bóc lột, kéo dài thời gian lao động, làm cạn kiệt sức lực và tinh thần của công nhân: C.Mác đã nhấn mạnh: “Lao động sản xuất ra những vật phẩm kỳ diệu cho những người giàu, nhưng chính nó lại tạo ra sự bần cùng hoá công nhân. Nó tạo ra lâu đài, nhưng cũng tạo ra cả những nhà ổ chuột cho công nhân. Nó sáng tạo ra cái đẹp, nhưng cũng làm què quặt công nhân. Nó thay lao động thủ công bằng máy móc, nhưng nó lại ném một bộ phận công nhân trở về với lao động dã man và biến một bộ phận công nhân khác thành những cái máy. Nó sản xuất ra trí tuệ, nhưng cũng sản xuất ra cả sự đần độn, ngu ngốc cho công nhân”5.

C.Mác cho rằng, sự tha hóa trong lao động dẫn đến sự biến dạng và thủ tiêu cái đẹp nhân bản của con người. C.Mác viết:  “Theo những quy luật mà kinh tế chính trị học đề ra thì sự tha hóa của công nhân trong vật phẩm của mình, biểu hiện như sau: công nhân càng sản xuất nhiều thì anh ta có thể tiêu dùng càng ít; anh ta tạo ra càng nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng mất giá trị, càng bị mất phẩm cách; sản phẩm của anh ta tạo dáng càng đẹp thì anh ta càng què quặt; vật do anh ta tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man; lao động càng hùng mạnh thì người công nhân càng ốm yếu, công việc anh ta làm càng phức tạp thì bản thân anh ta càng trống rỗng về trí tuệ”6. C.Mác -Ph.Ăngghen đã đặt vấn đề một cách biện chứng: khoa học – công nghệ tự thân không có tội, nhưng trong những quan hệ xã hội nhất định, nó có thể trở thành công cụ áp bức, tha hóa. Do đó, muốn khoa học – công nghệ thực sự phục vụ cho sự phát triển tự do và toàn diện của con người, phải cải biến tận gốc những quan hệ xã hội chi phối việc vận dụng nó.

Ba là, giải phóng con người gắn liền với giải phóng khoa học công nghệ khỏi sự chi phối của tư bản.

Theo C. Mác -Ph. Ăngghen, chỉ trong xã hội cộng sản chủ nghĩa nơi xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì khoa học công nghệ mới thực sự trở về đúng bản chất nhân văn của nó. Khi đó, khoa học – công nghệ không còn là công cụ làm giàu cho một thiểu số, mà trở thành tài sản chung của xã hội, phục vụ cho lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân. C.Mác khẳng định rằng, trong xã hội tương lai, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Khoa học – công nghệ, với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp, sẽ trở thành công cụ quan trọng để hiện thực hóa lý tưởng phát triển con người toàn diện.

3. Quan điểm của C. Mác Ph. Ăngghen về phát triển con người toàn diện trong mối quan hệ với tiến bộ khoa học công nghệ

Thứ nhất, phát triển con người toàn diện là mục tiêu nhân văn cao nhất của tiến bộ khoa học công nghệ.

Con người là mục tiêu tối thượng của sự phát triển. Một trong những điểm cốt lõi làm nên giá trị nhân văn sâu sắc trong học thuyết của C.Mác – Ph.Ăngghen là khẳng định con người không phải là phương tiện mà là mục tiêu tối thượng của mọi tiến bộ xã hội. Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, C.Mác nhấn mạnh rằng: bản chất của toàn bộ lịch sử nhân loại là lịch sử tự sáng tạo của con người. Khoa học, kỹ thuật, công nghiệp, nhà nước, pháp luật… cuối cùng đều phải quy về sự phát triển con người với tư cách là chủ thể sáng tạo.

Trong hệ thống tư tưởng của C.Mác -Ph.Ăngghen, khoa học- công nghệ không phải là một “lực lượng siêu hình” chi phối con người từ bên ngoài mà là sản phẩm của hoạt động thực tiễn của con người, đồng thời là điều kiện khách quan để con người tiếp tục phát triển. Chính vì vậy, mọi sự phát triển của khoa học – công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó làm phong phú đời sống vật chất của con người; nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực sáng tạo; mở rộng tự do cá nhân; thúc đẩy sự phát triển hài hòa các năng lực của con người. C.Mác – Ph.Ăngghen đã vượt qua cách tiếp cận thuần túy kỹ trị, duy công nghệ, đồng thời khắc phục quan niệm về sự phát triển chỉ thuần túy về mặt kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Các ông đặt ra một tiêu chuẩn phát triển mang tính bản chất: sự phát triển toàn diện của con người.

Thứ hai, khoa học công nghệ là điều kiện vật chất để phát triển con người toàn diện.

Trong học thuyết Mác, phát triển con người toàn diện không thể tách rời khỏi những điều kiện vật chất – kỹ thuật của xã hội. Chỉ khi lực lượng sản xuất đạt trình độ cao, đặc biệt là khi khoa học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì con người mới có: điều kiện vật chất đầy đủ để đáp ứng nhu cầu sống; thời gian nhàn rỗi để phát triển trí tuệ, văn hóa, nghệ thuật; cơ hội tiếp cận tri thức phổ quát; khả năng tham gia quản lý xã hội một cách thực chất.

Trong bộ “Tư bản” C.Mác đã chỉ rõ: “trong thực tế, vương quốc của tự do chỉ bắt đầu ở nơi mà lao động bị chi phối bởi nhu cầu sinh tồn và bởi tính tất yếu bên ngoài, chấm dứt; do đó, theo bản chất của sự vật, vương quốc đó nằm ngoài phạm vi của nền sản xuất vật chất hiểu theo nghĩa đen của từ đó”7. Điều đó có nghĩa là, chỉ khi khoa học – công nghệ phát triển đủ cao để giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc tuyệt đối vào lao động cơ bắp và sự thiếu thốn vật chất, thì con người mới thực sự bước vào giai đoạn phát triển tự do. Như vậy, theo C.Mác- Ph.Ăngghen, khoa học – công nghệ không chỉ là động lực tăng trưởng kinh tế mà còn là nền tảng vật chất của sự phát triển nhân cách con người.

Thứ ba, phát triển con người toàn diện gắn liền với việc khắc phục sự tha hóa do khoa học công nghệ gây ra.

C. Mác là người đầu tiên phân tích một cách sâu sắc hiện tượng tha hóa lao động trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện đại công nghiệp, máy móc sản phẩm cao nhất của khoa học, kỹ thuật không chỉ thay đổi công cụ lao động mà còn làm biến đổi toàn bộ mối quan hệ giữa con người với lao động.

Người công nhân không còn làm chủ tư liệu sản xuất; không làm chủ sản phẩm lao động; không làm chủ quá trình lao động và cuối cùng, không còn làm chủ chính bản thân mình. Trong điều kiện đó, khoa học – công nghệ, thay vì trở thành công cụ phát triển con người, lại trở thành công cụ áp bức tinh vi. Con người bị biến thành “phụ tùng sống” của máy móc; năng lực sáng tạo bị thu hẹp vào những thao tác đơn điệu, lặp đi lặp lại; đời sống tinh thần bị bóp nghẹt bởi cường độ lao động cao và sự bấp bênh của sinh kế.

Thứ, mâu thuẫn giữa tiềm năng giải phóng và thực trạng tha hóa của khoa học, công nghệ.

C.Mác – Ph.Ăngghen không phủ nhận rằng khoa học, công nghệ chứa đựng tiềm năng to lớn để giải phóng con người, nhưng các ông chỉ ra một mâu thuẫn mang tính thời đại, đó là tiềm năng giải phóng của khoa học, công nghệ bị kìm hãm và bóp méo bởi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chính mâu thuẫn này làm nảy sinh: sự phát triển phi nhân tính của công nghệ; khoảng cách giàu nghèo ngày càng sâu sắc; sự khủng hoảng về giá trị; sự khủng hoảng về ý nghĩa sống của con người trong xã hội công nghiệp tư bản. Tư tưởng của C.Mác – Ph.Ăngghen có giá trị dự báo rất sâu sắc đối với những vấn đề đương đại, như: con người bị thay thế bởi trí tuệ nhân tạo; con người bị giám sát bởi công nghệ số; con người bị thao túng bởi thuật toán; con người bị lệ thuộc vào không gian ảo… Những hiện tượng này cho thấy tính thời sự nóng hổi của vấn đề mà C.Mác – Ph.Ăngghen đã đặt ra từ hơn một thế kỷ trước.

Thứ năm, khoa học, công nghệ chỉ thực sự phục vụ phát triển con người trong một xã hội giải phóng.

Trong xã hội tư bản, lao động trí óc gắn với tầng lớp quản lý, trí thức; lao động chân tay gắn với công nhân. Sự phân hóa đó dẫn đến bất bình đẳng về tri thức, thu nhập, quyền lực và cơ hội phát triển. Trong xã hội tương lai mà C.Mác – Ph. Ăngghen dự báo, khoa học – công nghệ phát triển sẽ tạo điều kiện để mỗi con người vừa là người lao động sản xuất, vừa là người sáng tạo trí tuệ. Con người được phát triển đa năng, không bị “đóng khung” trong một vai trò xã hội cứng nhắc. C.Mác – Ph. Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh mối liên hệ giữa khoa học, công nghệ với giáo dục. Trong tư tưởng của các ông, giáo dục không chỉ nhằm truyền thụ tri thức mà còn nhằm hình thành con người mới có năng lực làm chủ khoa học, công nghệ có tư duy biện chứng, có năng lực sáng tạo, có ý thức trách nhiệm xã hội. Giáo dục trong xã hội mới phải gắn chặt với lao động sản xuất, với khoa học, công nghệ, để con người phát triển hài hòa cả trí tuệ, thể lực và đạo đức.

4. Giá trị quan điểm của C.Mác Ph.Ăngghen về phát triển khoa học, công nghệ trong thực hiện mục tiêu phát triển con người Việt Nam hiện nay

Một là, cơ sở để Việt Nam xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt nhằm thực hiện mục tiêu phát triển con người trong giai đoạn mới. 

Giá trị của quan điểm C.Mác – Ph.Ăngghen về vai trò phát triển khoa học, công nghệ đối với sự phát triển con người được Đảng ta xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy năng lực sáng tạo và xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh bước phát triển mới trong tư duy khi đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng, coi đây là động lực chủ yếu để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định khoa học, công nghệ không còn chỉ là yếu tố hỗ trợ mà đã trở thành yếu tố cấu thành mô hình phát triển mới của đất nước, gắn chặt với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kinh tế số, xã hội số và xây dựng con người Việt Nam toàn diện. Đảng ta xác định con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là trung tâm và mục tiêu của quá trình phát triển khoa học, công nghệ. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu đặt ra không chỉ là đầu tư cho công nghệ hiện đại mà còn phải nâng cao dân trí, phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ năng số, tư duy đổi mới sáng tạo và năng lực thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ. Điều đó phản ánh sự thống nhất giữa phát triển lực lượng sản xuất với phát triển con người – tư tưởng cốt lõi trong học thuyết của C.Mác – Ph.Ăngghen. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn với mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện, có tri thức, năng lực sáng tạo, đạo đức, bản lĩnh và khả năng hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Hai là, cơ sở để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nguồn lực quyết định không còn chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên hay lao động giản đơn mà là chất lượng nguồn nhân lực, năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ của con người. Vì vậy, phát triển khoa học, công nghệ phải đồng thời gắn với phát triển giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng số và tư duy đổi mới sáng tạo.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn và công nghệ số, coi đây là động lực then chốt để nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển đồng bộ khoa học, công nghệ với giáo dục, đào tạo và phát triển con người nhằm hình thành lực lượng sản xuất mới, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; hình thành những con người có tư duy độc lập, năng lực sáng tạo, bản lĩnh đổi mới và khả năng thích ứng trước những biến đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ; góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân, qua đó thực hiện thành công mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Ba là, cơ sở để phát triển toàn diện của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Phát triển khoa học, công nghệ không thể chỉ hướng đến mục tiêu gia tăng năng lực cạnh tranh hay tối đa hóa hiệu quả kinh tế mà phải đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin và các dịch vụ công, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và phát triển con người một cách toàn diện. Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng thể chế để mọi người dân đều được tiếp cận và thụ hưởng thành quả của khoa học, công nghệ, hạn chế nguy cơ gia tăng khoảng cách phát triển, bất bình đẳng số và sự phân hóa trong khả năng tiếp cận tri thức.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển đất nước phải lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển, đồng thời yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống, phát huy giá trị con người Việt Nam và bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tham gia, hưởng lợi từ quá trình phát triển. Văn kiện nhấn mạnh cần xây dựng nền khoa học, công nghệ hiện đại gắn với phát triển văn hóa, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số và phát triển đất nước. Xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển khoa học, công nghệ theo hướng nhân văn, bền vững, kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy toàn diện các giá trị của con người Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

Bốn là, có ý nghĩa định hướng quan trọng đối với việc xây dựng môi trường thể chế thuận lợi nhằm phát huy vai trò của khoa học, công nghệ trong thực hiện mục tiêu phát triển con người Việt Nam hiện nay. 

Để khoa học và công nghệ phát huy đầy đủ vai trò đối với sự tiến bộ của xã hội, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ theo hướng hiện đại, minh bạch và tạo động lực cho mọi chủ thể tham gia hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nếu thiếu một hệ thống chính sách đồng bộ về sở hữu trí tuệ, thị trường khoa học và công nghệ, phát triển dữ liệu, tài chính cho nghiên cứu và cơ chế thu hút nhân tài thì tiềm năng sáng tạo của con người sẽ khó được phát huy đầy đủ. Do đó, xây dựng thể chế không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo lập môi trường để mỗi cá nhân có điều kiện học tập, nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến, qua đó hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tạo lập môi trường thuận lợi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học và công nghệ; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và đội ngũ trí thức tham gia nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa các kết quả khoa học, công nghệ. Đồng thời, Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách để khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển đất nước, trong đó khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Khi các chính sách về khoa học, công nghệ được xây dựng đồng bộ, minh bạch và lấy con người làm trung tâm, thành quả của tiến bộ khoa học sẽ được lan tỏa rộng rãi trong toàn xã hội, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy học tập suốt đời, phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia.

5. Kết luận

Quan điểm của C.Mác – Ph. Ăngghen về phát triển khoa học, công nghệ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác, thể hiện tầm nhìn khoa học và giá trị nhân văn sâu sắc đối với sự phát triển của xã hội và con người. Việc vận dụng sáng tạo những quan điểm của C. Mác – Ph. Ăngghen có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong kỷ nguyên số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là động lực của tăng trưởng kinh tế mà còn là nhân tố quyết định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân, hoàn thiện các điều kiện để con người được phát triển toàn diện. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của C.Mác – Ph.Ăngghen về khoa học, công nghệ không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn là yêu cầu thực tiễn cấp thiết; góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng cống hiến, năng lực làm chủ khoa học, công nghệ và khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại trong kỷ nguyên mới.

Chú thích:
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 99, 31.
3. C. Mác – Ph. Ăngghen toàn tập (1993). Tập 46. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 367.
4. C. Mác – Ph. Ăngghen toàn tập (1993). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 606.
5, 6. C. Mác – Ph. Ăngghen toàn tập (1993). Tập 42. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 131, 131.
7. C. Mác – Ph. Ăngghen toàn tập (1993). Tập 25. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 721.