Bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh – thực trạng và giải pháp

Ensuring social security for workers in private enterprises in Ho Chi Minh City: current status and solutions

ThS. Nguyễn Thị Thu Túy
Công ty TNHH Bảo Tâm Computer

(Quanlynhanuoc.vn) – Doanh nghiệp tư nhân là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế, không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động. TP. Hồ Chí Minh với vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, là nơi tập trung lượng lớn doanh nghiệp tư nhân cùng lực lượng lao động đông đảo trong khu vực này. Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, bài viết đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay.

Từ khóa: Bảo đảm an sinh xã hội, người lao động, doanh nghiệp tư nhân, TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: Private enterprises are a vital component of the economy, not only driving growth but also helping ensure social security for workers. Ho Chi Minh City, as the nation’s largest economic hub, is home to a large concentration of private enterprises and a substantial workforce. Based on an analysis of theoretical and practical issues, this article proposes several solutions to enhance the effectiveness of social security for workers in private enterprises in Ho Chi Minh City today.

Keywords: Social security guarantees, workers, private enterprises, Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân hiện nay được xác định là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam, đóng góp ngày càng lớn vào GDP, ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho người lao động. Tại TP. Tại Hồ Chí Minh, khu vực doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh mẽ, thu hút hàng triệu lao động, giữ vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển thị trường lao động.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân vẫn đối mặt với nhiều rủi ro về việc làm, thu nhập, điều kiện lao động và khả năng tiếp cận các chính sách an sinh xã hội. Tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, vi phạm pháp luật lao động và ký kết hợp đồng lao động chưa đúng quy định vẫn còn xảy ra, ảnh hưởng đến quyền lợi lâu dài của người lao động. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân nhanh và bền vững, gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu vấn đề bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết.

2. Những vấn đề chung về bảo đảm an sinh xã hội

An sinh xã hội là một trụ cột cơ bản của chính sách xã hội, phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội, mức độ thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và tính nhân văn của một quốc gia. Trong xã hội hiện đại, an sinh xã hội không chỉ là các biện pháp hỗ trợ mang tính cứu trợ khi rủi ro xảy ra, mà ngày càng được tiếp cận như một hệ thống chính sách công tổng thể do Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, với sự tham gia của các chủ thể xã hội nhằm bảo vệ con người trước những rủi ro làm suy giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm mức sống tối thiểu và tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của người lao động.

Trong lý luận và thực tiễn quốc tế, nhiều tổ chức và học giả đã đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về an sinh xã hội. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội dành cho cá nhân và hộ gia đình nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và duy trì an ninh thu nhập, đặc biệt trong các trường hợp tuổi già, thất nghiệp, ốm đau, mất khả năng lao động, tai nạn lao động, thai sản hoặc mất nguồn thu nhập chính của gia đình”1. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong khuôn khổ phát triển mạng lưới an sinh xã hội mà WB có đề cập tới các nội dung sau: (1) Hỗ trợ người nghèo và nhóm dễ bị tổn thương thông qua các chương trình trợ giúp xã hội, trợ cấp, mạng lưới an sinh2; (2) Tạo cơ hội tiếp cận thị trường lao động, sinh kế và cơ hội kinh tế cho người nghèo3; (3) Chú trọng bảo vệ trẻ em, phụ nữ, thanh thiếu niên và phát triển nguồn lực con người4; (4) Tăng cường các cơ chế hỗ trợ khẩn cấp, ứng phó cú sốc và khủng hoảng đối với cộng đồng dễ tổn thương”5.

Ở Việt Nam, quan điểm về an sinh xã hội ngày càng được hoàn thiện và thể chế hóa rõ nét. Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2020 xác định hệ thống an sinh xã hội gồm ba tầng lưới: phòng ngừa rủi ro thông qua tạo việc làm, thu nhập và tham gia thị trường lao động; giảm thiểu rủi ro thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các loại hình bảo hiểm khác; và khắc phục rủi ro thông qua trợ giúp xã hội, giảm nghèo và bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Cách tiếp cận này thể hiện sự chuyển biến từ tư duy hỗ trợ thụ động sang chủ động phòng ngừa và nâng cao năng lực tự bảo đảm của người dân.

Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống an sinh xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và bao phủ toàn bộ lực lượng lao động: Chú trọng phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế, bao phủ được toàn bộ lực lượng lao động… Chính sách bảo hiểm thất nghiệp phải hỗ trợ cho doanh nghiệp trong nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động để duy trì việc làm bền vững; chủ động phòng ngừa, giảm thiểu thất nghiệp; nâng cao hiệu quả tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo để chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động thất nghiệp… bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ xã hội cơ bản”.

Từ góc độ nghiên cứu trong nước, “phạm trù an sinh xã hội” thường được đề cập đến ở hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, an sinh xã hội là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm… Ở Việt Nam, cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội gồm 5 trụ cột: (1) Bảo hiểm xã hội; (2) Bảo hiểm y tế; (3) Bảo hiểm thất nghiệp; (4) Cứu trợ xã hội; (5) Trợ giúp và ưu đãi xã hội.

Thực tiễn triển khai cho thấy an sinh xã hội ngày càng được tiếp cận theo mô hình đa tầng, đa trụ cột, kết hợp hài hòa giữa vai trò chủ đạo của Nhà nước với sự tham gia của thị trường và cộng đồng. Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong xây dựng thể chế, hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện và giám sát, nhằm bảo đảm tính bao phủ, công bằng, hiệu quả và bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Cách tiếp cận này cho phép an sinh xã hội vừa hỗ trợ người dân khi rủi ro xảy ra, vừa chú trọng phòng ngừa rủi ro thông qua việc tạo việc làm, phát triển thị trường lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Như vậy, bảo đảm an sinh xã hội là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời là một nội dung trọng tâm của quản lý nhà nước nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Một hệ thống an sinh xã hội được thiết kế và vận hành hiệu quả không chỉ góp phần ổn định đời sống người dân, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định chính trị – xã hội và phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay.

3. Thực trạng bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

3.1. Những kết quả đạt được

Những năm gần đây, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh cùng các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn, đã quan tâm chỉ đạo và triển khai khá hiệu quả các chính sách bảo đảm an sinh xã hội đối với người lao động. Kết quả đạt được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, tạo việc làm và bảo đảm thu nhập tương đối ổn định cho người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân.

Dân số năm 2025 của Thành phố khoảng 13.803,8 nghìn người, tăng 1,4% so với năm 2024. Trong đó, dân số thành thị chiếm 77,1%; nam giới chiếm 49,2%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đạt 7.488,6 nghìn người (tăng 2,9% so với năm 2024). Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 3% (tăng 0,4%); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 41,8% (tăng 1,1%); khu vực dịch vụ chiếm 55,2% (tăng 4,3%). Tỷ lệ thất nghiệp năm 2025 của Thành phố ở mức 2,35% (giảm 0,66 điểm phần trăm so với năm 2024). Trong năm, Thành phố đã tư vấn và hỗ trợ việc làm cho 494.252 lượt người, tạo mới 177.047 chỗ làm việc. Khu vực doanh nghiệp tư nhân tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong việc tạo việc làm, góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống và thu nhập cho người lao động6.

Thứ hai, thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động

TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước và là địa phương dẫn đầu về số lượng doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, Thành phố có hơn 280.000 doanh nghiệp tư nhân, đóng góp khoảng 70% GRDP và gần 55% tổng thu ngân sách nhà nước. Trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Dương có hơn 65.000 doanh nghiệp, với khu vực kinh tế tư nhân đóng góp gần 80% GRDP; Bà Rịa – Vũng Tàu tuy có quy mô dân số nhỏ nhưng cũng có gần 17.000 doanh nghiệp, chiếm hơn 60% GRDP, chủ yếu trong các lĩnh vực cảng biển, logistics và dịch vụ dầu khí. Tổng cộng, ba địa phương này tập trung khoảng 370.000 doanh nghiệp tư nhân, tương đương 45% tổng số doanh nghiệp tư nhân của cả nước, tạo ra hàng triệu việc làm và đóng góp gần 50% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn vùng phía Nam7. Đây là cơ sở quan trọng để mở rộng diện bao phủ và nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Theo Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh, năm 2025: “Tổng số người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là 13.204.655 người, tăng 13,93% so với 31/12/2024, cụ thể: tham gia bảo hiểm xã hội là 4.730.881 người, tăng 18,35% so với năm 2024, đạt 100,89% kế hoạch. Trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc là 4.591.907 người (tăng 18,35% so với năm 2024). Bảo hiểm xã hội tự nguyện là 138.974 (tăng 52,58% so với năm 2024). Tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 4.476.584 người (tăng 17% so với năm 2024), đạt 101,69% so với kế hoạch. Tham gia bảo hiểm y tế là 13.065.681 người (tăng 13,62% so với năm 2024), đạt 98,54% so với kế hoạch 8.

Công tác giải quyết và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn Thành phố được thực hiện đầy đủ, kịp thời và đúng quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động. Năm 2025, giải quyết, chi trả chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho 3.061.371 lượt lao động, tăng 6,4% so với năm 2024. Trong đó, số lao động hưởng bảo hiểm xã hội là 2.865.840 lượt người, tăng 8,7% so với năm 2024. Trợ cấp hằng tháng là 20.104 người; trợ cấp một lần là 169.763 lượt người; ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe là 2.675.973 lượt người và bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp cho 967 người. Chi trả cho 195.531 người hưởng bảo hiểm thất nghiệp (giảm 18,2% so với năm 2024). Trong đó, 192.108 người hưởng trợ cấp thất nghiệp; 3.423 người hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm xã hội Thành phố đang quản lý và chi trả cho 351.976 người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Thứ ba, chính sách giảm nghèo và bảo trợ xã hội đối với người lao động có hoàn cảnh khó khăn tiếp tục được chú trọng.

Đến năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo của Thành phố giảm còn 0,44%; trong đó, hộ nghèo chiếm 0,1% và hộ cận nghèo chiếm 0,34%. Thành phố đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các hộ nghèo, cận nghèo, người lao động có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận tín dụng ưu đãi, dịch vụ y tế, giáo dục và các phúc lợi xã hội cơ bản. Riêng năm 2025, Thành phố đã cấp 105.325 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng yếu thế với tổng kinh phí 111 tỷ đồng. Công tác bảo trợ xã hội được thực hiện tương đối kịp thời, kết hợp giữa nguồn lực ngân sách nhà nước và sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân thông qua các hoạt động hỗ trợ, trợ cấp, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động gặp rủi ro, qua đó góp phần củng cố lưới an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố.

3.2. Một số khó khăn, tồn tại

Thứ nhất, chất lượng và tính ổn định của việc làm trong khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa thực sự bền vững. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp), khả năng tài chính và năng lực quản trị còn hạn chế, dẫn đến việc sử dụng nhiều hợp đồng lao động ngắn hạn, thu nhập của người lao động chưa ổn định và khó bảo đảm lâu dài các quyền lợi an sinh xã hội, nhất là trong bối cảnh chi phí sinh hoạt tại TP. Hồ Chí Minh thuộc nhóm cao nhất cả nước.

Thứ hai, diện bao phủ bảo hiểm xã hội trong khu vực doanh nghiệp tư nhân tuy được mở rộng nhưng chưa thực sự đồng đều và bền vững. Năm 2024, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mới đạt khoảng 2,93 triệu người, trong khi lực lượng lao động đang làm việc trên địa bàn Thành phố lên tới gần 7,5 triệu người. Về độ bao phủ bảo hiểm xã hội năm 2025 đối với lực lượng lao động mới chỉ đạt 58,42%; tỷ lệ lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 55,4311.

Bên cạnh đó, tỷ lệ chậm đóng là 3,77% so với kế hoạch thu được giao (trừ số nợ khó thu do doanh nghiệp giải thể, phá sản, chủ bỏ trốn, mất tích…)12. Điều này cho thấy vẫn còn một bộ phận đáng kể người lao động, chủ yếu làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và khu vực phi chính thức, chưa tham gia đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội.

Thứ ba, công tác chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội trong khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn còn những bất cập. Tình trạng chậm đóng, nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội tuy đã được kiểm soát nhưng chưa được xử lý triệt để, nhất là ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập hoặc hoạt động không ổn định. Việc thanh tra, kiểm tra gặp nhiều khó khăn do số lượng doanh nghiệp tư nhân lớn, phân tán, trong khi nguồn lực quản lý nhà nước còn hạn chế.

Thứ tư, khả năng tiếp cận các chính sách bảo trợ xã hội của một bộ phận người lao động trong doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là lao động di cư, lao động không có hợp đồng lao động đầy đủ, còn nhiều rào cản. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của Thành phố đã giảm xuống chỉ còn 0,03% năm 202513, song trên thực tế vẫn tồn tại nhóm người lao động có thu nhập bấp bênh, dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế, dịch bệnh hoặc mất việc làm, nhưng chưa được thụ hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã hội phù hợp.

Nhìn chung, những hạn chế nêu trên cho thấy công tác bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển nhanh của khu vực kinh tế tư nhân và quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Đây là những vấn đề đặt ra cần tiếp tục được phân tích nguyên nhân và có giải pháp đồng bộ, hiệu quả hơn trong thời gian tới.

4. Giải pháp bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lao động và an sinh xã hội phù hợp với đặc điểm của khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật về hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, an toàn, vệ sinh lao động cũng như các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp theo hướng rõ ràng, đồng bộ và dễ thực hiện, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc hoàn thiện chính sách cần gắn với các cơ chế hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, như ưu đãi thuế, hỗ trợ tiếp cận tín dụng, giảm chi phí tuân thủ và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý lao động và bảo hiểm xã hội. Đồng thời, quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách cần quán triệt tinh thần phát triển kinh tế tư nhân bền vững theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.

Hai là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội trong khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Cần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Sở Nội vụ, Bảo hiểm xã hội Thành phố, Liên đoàn Lao động Thành phố và chính quyền địa phương trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Bên cạnh việc tăng cường các cuộc thanh tra chuyên đề, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông về lao động, việc làm và an sinh xã hội nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng giám sát thường xuyên. Việc xử lý vi phạm cần bảo đảm nghiêm minh, công khai, đồng thời kết hợp các biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp khắc phục sai phạm để ổn định sản xuất, kinh doanh và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động.

Ba là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của doanh nghiệp tư nhân và người lao động về an sinh xã hội.

Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lao động và an sinh xã hội bằng các hình thức phù hợp với đặc điểm của khu vực doanh nghiệp tư nhân và người lao động, nhất là lao động di cư và lao động trẻ. Nội dung tuyên truyền cần tập trung làm rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích lâu dài của việc tham gia đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, qua đó hạn chế tâm lý rút bảo hiểm xã hội một lần và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của cả người sử dụng lao động và người lao động. Đồng thời, cần phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp tư nhân trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, tăng cường đối thoại tại nơi làm việc, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Bốn là, gắn bảo đảm an sinh xã hội với chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố

Cần khuyến khích doanh nghiệp tư nhân coi việc bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển dài hạn và nâng cao năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp cần chủ động đầu tư cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm việc làm ổn định, thu nhập hợp lý và thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động. Các chính sách của Nhà nước và chính quyền Thành phố cần tăng cường cơ chế ghi nhận, tôn vinh, khen thưởng và hỗ trợ đối với những doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và chính sách an sinh xã hội, qua đó tạo động lực lan tỏa các mô hình doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Năm là, tăng cường bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động di cư và lao động phi chính thức trong khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Lao động di cư và lao động phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động của TP. Hồ Chí Minh chủ yếu làm việc trong khu vực doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ, với việc làm và thu nhập thiếu ổn định, khả năng tiếp cận các chính sách an sinh xã hội còn hạn chế. Vì vậy, cần mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thông qua các mô hình bảo hiểm tự nguyện, linh hoạt về mức đóng, phương thức và thời gian đóng, phù hợp với thu nhập của người lao động, đồng thời tăng cường hỗ trợ từ ngân sách địa phương cho lao động thu nhập thấp. Bên cạnh đó, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách an sinh xã hội thông qua các kênh gần gũi với lao động di cư, như khu nhà trọ, trung tâm dịch vụ việc làm và nền tảng số. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức chính trị – xã hội trong hỗ trợ pháp lý, đào tạo nghề và từng bước chính thức hóa quan hệ lao động. Việc bảo đảm an sinh xã hội cho nhóm lao động này cần được tiếp cận theo hướng toàn diện, góp phần ổn định đời sống người lao động và thúc đẩy phát triển bền vững khu vực doanh nghiệp tư nhân của Thành phố.

5. Kết luận

Bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh là yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách, tổ chức thực hiện và nâng cao nhận thức sẽ góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động, thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân nói riêng và của TP. Hồ Chí Minh nói chung.

Chú thích:
1. International Labor Organization (ILO). Facts on Social Security. https://webapps.ilo.org, truy cập ngày 28/4/2026.
2, 3. World Bank Group (2025). State of social protection report 2025: the 2 billion-person challenge. https://www.worldbank.org, April 7, 2025.
4. Theresa S. Betancourt, Laura Rawnings & Ramya Subrahmanian (2025). Strengthening adaptive social protection for children in crisis: The role of implementation science. https://blogs.worldbank.org, June 03, 2025.
5. World Bank Group (2026). Adaptive social protection: building resilience to shocks.https://www.worldbank.org, truy cập ngày 28/4/2026.
6. Vũ Văn Phúc (2012). Hội thảo khoa học – thực tiễn “An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. https://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 16/3/2012.
7, 11. Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2025). Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế – xã hội TP. Hồ Chí Minh năm 2025.
8. Phát huy vai trò kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh. https://nhandan.vn, ngày 18/5/2025.