(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 16/6/2026, tại Học viện Hành chính và Quản trị công, Hội thảo khoa học “Xây dựng nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển – thực tiễn và định hướng chiến lược” thuộc đề tài khoa học cấp Bộ trọng điểm năm 2025 – 2026 “Nghiên cứu đề xuất những quyết sách chiến lược về xây dựng nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển” đã được tổ chức. GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, chủ nhiệm đề tài và PGS.TS. Hoàng Mai, Học viện Hành chính và Quản trị công đồng chủ trì hội thảo.

Đại biểu, khách mời dự Tọa đàm, gồm: TS. Trần Anh Tuấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hiệp hội Khoa học Hành chính Việt Nam; GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân; PGS.TS. Lê Văn Chiến, Viện trưởng, Viện Lãnh đạo học và Hành chính công; PGS.TS. Vũ Thị Loan, giảng viên cao cấp, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam; PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà, Trưởng khoa Chính sách công, Học viện Khoa học Xã hội; TS. Nguyễn Hải Long, Đại biểu Quốc hội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Công tác đại biểu Quốc hội; TS. Hà Khắc Minh, Tổng biên tập Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp; TS. Nguyễn Tiến Dĩnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ; PGS.TS Ngô Phúc Hạnh, giảng viên cao cấp, Học viện Chính sách và Phát triển; TS. Nguyễn Ngọc Vân, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước; TS. Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự – Hành chính, Bộ Tư pháp; ThS. Bùi Công Quang, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức Hành chính nhà nước và Công vụ, Văn phòng Chính phủ; TS. Nguyễn Mậu Tuân, Giám đốc Nhà xuất bản Lý luận chính trị; TS. Nguyễn Thị Hường, nguyên Phó Viện trưởng, Viện nghiên cứu khoa học hành chính;
Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công, có: PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện; PGS.TS. Lương Thanh Cường, Phó Giám đốc Học viện; PGS.TS. Nguyễn Minh Phương, nguyên giảng viên cao cấp, Học viện Hành chính và Quản trị công; cùng các nhà khoa học trong và ngoài Học viện; Hội thảo tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các Phân hiệu của Học viện.

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS. TS. Hoàng Mai nhấn mạnh, trong 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Những kết quả đạt được không chỉ góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước mà còn tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, kinh tế tri thức và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là đổi mới mô hình tăng trưởng hay hoàn thiện thể chế phát triển mà sâu xa hơn là phải xây dựng được một nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, thích ứng và phục vụ phát triển. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh quốc gia, hiệu quả quản lý xã hội và khả năng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực kiến tạo phát triển, xây dựng nền hành chính hiện đại và đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng minh bạch, hiệu quả, phục vụ và dựa trên dữ liệu. Điều đó cho thấy quản trị quốc gia không còn đơn thuần là hoạt động quản lý hành chính theo mô hình truyền thống mà đang chuyển mạnh sang mô hình quản trị hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy đổi mới sáng tạo và công nghệ số làm nền tảng, lấy hiệu quả phục vụ và phát triển bền vững làm mục tiêu cao nhất.
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy quốc gia nào xây dựng được nền quản trị hiện đại, minh bạch, thích ứng cao và phát huy hiệu quả vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội thì quốc gia đó sẽ tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, quá trình đổi mới quản trị quốc gia thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, như cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, hoàn thiện thể chế phát triển và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền quản trị quốc gia hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và điểm nghẽn, như: thể chế chưa đồng bộ; chất lượng thực thi chính sách ở một số lĩnh vực còn thấp; cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa thật sự hiệu quả; năng lực quản trị dữ liệu, quản trị đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực khu vực công còn nhiều bất cập. Những hạn chế này đang ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước và quá trình phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, Hội thảo khoa học với chủ đề: “Xây dựng nền quản trị quốc gia phục vụ phát triển – Thực tiễn và định hướng chiến lược” được tổ chức nhằm tạo diễn đàn học thuật để các nhà khoa học, chuyên gia, nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý cùng trao đổi, thảo luận, làm rõ những vấn đề cốt lõi đặt ra đối với nền quản trị quốc gia Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới; đồng thời, đề xuất các quyết sách chiến lược nhằm hoàn thiện mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ phát triển bền vững.
Hội thảo mong muốn tập trung làm rõ một số nội dung trọng tâm sau: (1) Làm rõ cơ sở lý luận về quản trị quốc gia phục vụ phát triển; (2) Đánh giá thực trạng nền quản trị quốc gia ở Việt Nam hiện nay; (3) Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo đối với Việt Nam; (4) Đề xuất các định hướng chiến lược và giải pháp đổi mới quản trị quốc gia trong thời gian tới. Trong đó, tập trung vào các vấn đề trọng tâm như: hoàn thiện thể chế phát triển; đổi mới vai trò của Nhà nước theo hướng kiến tạo và phục vụ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và quản trị dữ liệu; tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình; phát huy vai trò của người dân và doanh nghiệp trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách công.
Với tinh thần khoa học, trách nhiệm và đổi mới, PGS. TS. Hoàng Mai tin tưởng rằng các tham luận và ý kiến trao đổi tại Hội thảo sẽ góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện cơ sở lý luận, thực tiễn và cung cấp luận cứ khoa học cho việc đề xuất các quyết sách chiến lược xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ phát triển đất nước nhanh chóng và bền vững.

Từ việc nhận diện các vấn đề thực tiễn trong quản trị quốc gia hiện nay, PGS. TS. Vũ Thị Loan chỉ ra 8 “điểm nghẽn” lớn đang tác động trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Một là, quá trình chuyển đổi từ mô hình “quản lý hành chính” sang “quản trị phát triển” còn chậm và chưa đồng đều giữa các cấp, các ngành. Hai là, những bất cập về thể chế, nhất là tình trạng chồng chéo và thiếu thống nhất giữa các quy định pháp luật, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách. Ba là, khâu tổ chức thực thi, dù nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành, song việc triển khai trong thực tiễn còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Bốn là, tổ chức bộ máy, phân công, phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương vẫn còn những bất cập, gây khó khăn cho việc điều hành và phối hợp quản lý. Năm là chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực công. Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều; trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và hiệu quả công vụ ở một số nơi còn hạn chế. Đây được xem là một trong những rào cản lớn đối với tiến trình xây dựng nền hành chính hiện đại. Sáu là, điểm nghẽn dữ liệu: hệ thống dữ liệu quốc gia hiện nay còn phân tán, thiếu liên thông và chưa đồng bộ, khiến việc khai thác, sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công gặp nhiều khó khăn. Bảy là, sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội vào quá trình quản trị quốc gia vẫn chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn. Tám là thách thức trong quản trị tương lai, đặc biệt là quản trị trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn ( Big Data) và các công nghệ mới. Việc ứng dụng công nghệ số đang mở ra nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra không ít hệ lụy và yêu cầu mới đối với công tác quản lý nhà nước.
Từ những điểm nghẽn trên, bà đưa ra 5 đề xuất giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng quản trị quốc gia trong giai đoạn mới. Thứ nhất, cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong điều kiện mới. Thứ hai, đẩy mạnh hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo hướng hiện đại, kiến tạo phát triển, hành động và phục vụ Nhân dân. Thứ ba, tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và năng lực quản trị, phát triển ở các cấp. Thứ tư, yêu cầu xây dựng chính phủ số, quản trị số và hệ sinh thái dữ liệu quốc gia đồng bộ; phát triển nền tảng AI và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực công nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia. Thứ năm, cần mở rộng hơn nữa sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong quản trị quốc gia, qua đó, nâng cao tính minh bạch, đồng thuận xã hội và hiệu quả quản lý nhà nước.

Chia sẻ vấn đề PGS. TS. Ngô Phúc Hạnh tập trung làm rõ vai trò của chuyển đổi số và quản trị dữ liệu liên vùng trong xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, thông minh, phục vụ phát triển bền vững. Trong bối cảnh liên kết vùng ngày càng trở thành động lực tăng trưởng quan trọng, dữ liệu được xem là nguồn tài nguyên chiến lược, quyết định chất lượng điều hành, hoạch định chính sách và tối ưu hóa nguồn lực phát triển. Tuy nhiên, quá trình quản trị dữ liệu liên vùng hiện nay vẫn còn nhiều điểm nghẽn lớn. Trước hết là tình trạng phân mảnh dữ liệu giữa các địa phương, thiếu kết nối và chia sẻ đồng bộ, khiến việc điều hành phát triển vùng còn rời rạc, thiếu tính tổng thể. Bên cạnh đó, hệ thống pháp lý về dữ liệu liên vùng vẫn chưa hoàn thiện; chưa có cơ chế ràng buộc trách nhiệm giữa các địa phương trong việc xây dựng và chia sẻ kho dữ liệu dùng chung. Ngoài ra, sự chênh lệch về hạ tầng công nghệ và năng lực nhân lực số giữa các địa phương cũng làm giảm hiệu quả vận hành của hệ thống dữ liệu liên vùng. Để tháo gỡ các điểm nghẽn này, bà đề xuất 3 trụ cột chiến lược trọng tâm.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chính sách quản trị dữ liệu liên vùng thông qua việc xây dựng hành lang pháp lý thống nhất, ban hành quy chế quản trị dữ liệu vùng và xác lập trách nhiệm chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương.
Thứ hai, chuẩn hóa hạ tầng và công nghệ dữ liệu theo hướng xây dựng khung kiến trúc dữ liệu vùng thống nhất, phát triển điện toán đám mây cấp vùng và ứng dụng mô hình “Bản sao số” (Digital Twin) nhằm hỗ trợ dự báo, mô phỏng và ra quyết định theo thời gian thực.
Thứ ba, nâng cao năng lực nhân lực số và đổi mới tư duy quản trị, chuyển từ tư duy cục bộ địa phương sang tư duy liên kết vùng và quản trị dựa trên dữ liệu, từ đó nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Bà cho rằng quản trị dữ liệu liên vùng không chỉ là vấn đề kỹ thuật công nghệ mà còn là yêu cầu đổi mới căn bản về thể chế và phương thức quản trị quốc gia. Chỉ khi dữ liệu được kết nối thông suốt xuyên biên giới hành chính, Việt Nam mới có thể xây dựng nền quản trị quốc gia thông minh, tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.



Các chuyên gia và đại biểu nhận định rằng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện nền hành chính và quản trị quốc gia theo hướng kiến tạo phát triển, lấy người dân làm trung tâm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Việt Nam đã trải qua nhiều chương trình cải cách hành chính với những kết quả tích cực, như hoàn thiện thể chế, tinh gọn bộ máy, thúc đẩy phân cấp, phân quyền và hiện đại hóa công tác quản trị. Tuy nhiên, thể chế vẫn là “điểm nghẽn” lớn khi chất lượng một số chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, chưa sát với thực tiễn và còn chồng chéo. Việc phân quyền, phân cấp ở nhiều nơi chưa rõ ràng, thiếu nguồn lực và điều kiện để thực hiện. Các đại biểu cũng chỉ ra những hạn chế trong chuyển đổi số, đặc biệt là hạ tầng số, dữ liệu và khả năng kết nối; việc khai thác dữ liệu chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu vận hành thực tế. Từ đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường kiểm soát quyền lực, giảm thủ tục hành chính và đầu tư mạnh hơn vào hạ tầng số nhằm xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại và hiệu quả hơn.

PGS. TS. Võ Kim Sơn nhấn mạnh rằng điểm hạn chế lớn hiện nay là Việt Nam vẫn thiếu một chuẩn mực pháp lý và một khung quản trị quốc gia rõ ràng để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và chất lượng quản trị quốc gia. Do vậy, cần chuyển từ tư duy “quản lý nhà nước” sang “quản trị quốc gia”. Nếu quản lý nhà nước thiên về kiểm soát và điều hành hành chính, thì quản trị quốc gia hiện đại đề cao sự tham gia, phối hợp và đồng kiến tạo giữa Nhà nước, người dân, doanh nghiệp và xã hội. Trong mô hình này, Nhà nước không làm thay xã hội mà đóng vai trò kiến tạo, xây dựng thể chế và tạo môi trường thúc đẩy phát triển. Ông khẳng định “quản trị tốt” là xu hướng phổ quát của thế giới hiện đại, với các nguyên tắc cốt lõi như minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia của người dân, hiệu quả quản trị và tuân thủ pháp luật. Đồng thời, đây là những giá trị nền tảng cần được vận dụng trong quá trình đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam. Ông đề xuất cần sớm xây dựng khung quản trị quốc gia hiện đại làm nền tảng cho cải cách hành chính, chuyển đổi số, quản trị dữ liệu, tổ chức bộ máy và vận hành của chính quyền. Tập trung vào các định hướng lớn, như: xây dựng chiến lược phát triển quốc gia dài hạn; minh bạch thông tin; phát triển nền tảng số quốc gia; đổi mới hoạt động quản lý nhà nước theo hướng phục vụ và kiến tạo; thúc đẩy sự tham gia thực chất của người dân; xây dựng nền hành chính liêm chính và hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả quản trị theo kết quả thực chất.

TS. Nguyễn Ngọc Vân nhấn mạnh rằng quản trị quốc gia hiện đại phải dựa trên sự cân bằng giữa 3 chủ thể: Nhà nước, thị trường và xã hội. Ông ví mô hình quản trị như “con lắc” vận động trong tam giác quyền lực; nếu nghiêng quá mức về bất kỳ phía nào cũng có thể gây mất ổn định. Nhà nước không nên làm thay xã hội mà cần giữ vai trò kiến tạo, xây dựng thể chế và tạo môi trường phát triển. Đồng thời, cần chuyển từ tư duy “quản lý” sang “quản trị”, thúc đẩy phân quyền thực chất, tự quản địa phương và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội.



PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến cho rằng cần tập trung vào tư duy xây dựng thể chế và quản trị quốc gia theo hướng mở, kết nối và thích ứng. Tầm nhìn phát triển phải đi cùng với việc kiến tạo hệ thống và môi trường phát triển theo hướng “hệ sinh thái”, nơi các nguồn lực được liên kết và vận hành đồng bộ. Quản trị quốc gia hiện đại cần mang tính mở, tăng cường kết nối quốc tế và học hỏi từ các mô hình phát triển của các nước. Theo đó, sức mạnh không chỉ nằm ở đổi mới mà còn ở khả năng kết nối hiệu quả. Yếu tố then chốt của thời đại mới là năng lực linh hoạt và thích ứng nhanh trước những biến động toàn cầu.
Ông Thái Quang Toản cũng nhấn mạnh cần yêu cầu đổi mới nhận thức về mô hình phát triển, hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và khắc phục những bất cập trong vận hành bộ máy nhà nước. Ông đề xuất nhiều giải pháp trọng tâm, như: đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm và năng lực thực chất; thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị công; đồng thời tăng cường công tác tiếp công dân nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ và củng cố niềm tin của xã hội.
TS. Trần Anh Tuấn chia sẻ nền quản trị quốc gia hiện đại phải xây dựng được một “hệ sinh thái phát triển”, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường, kết nối nguồn lực và thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa các chủ thể trong xã hội. Do vậy, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trong đó “phân cấp là chủ yếu, phân quyền là cơ bản” nhằm nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cấp chính quyền. Đồng thời, cần chuyển từ tư duy “quản lý công chức” sang “quản trị công vụ” hiện đại, đổi mới phương thức vận hành để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Kết luận Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Quốc Sửu trân trọng cảm ơn các chuyên gia, nhà khoa học đã đóng góp, chia sẻ nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc để Ban Chủ nhiệm đề tài tiếp tục hoàn thiện nghiên cứu. Các ý kiến tham luận, trao đổi tại Hội thảo đã tập trung làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng liên quan đến quản trị quốc gia, cải cách thể chế và xây dựng nền hành chính hiện đại. Hội thảo đánh giá cao các ý kiến tâm huyết, kinh nghiệm thực tiễn cũng như các đề xuất chính sách được đưa ra. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các luận cứ khoa học phục vụ công tác hoạch định chính sách, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật trong thời gian tới. Hội thảo cũng thống nhất nhận thức về yêu cầu xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, vận hành trên cơ sở pháp quyền, kỷ luật, kỷ cương và thích ứng với bối cảnh phát triển mới. Các nội dung thảo luận sẽ tiếp tục được tổng hợp, nghiên cứu và báo cáo tới các cơ quan có thẩm quyền nhằm góp phần hoàn thiện nền tảng thể chế cho phát triển bền vững của đất nước.

Thanh Hương



