The Party’s Leadership in building combat villages during the struggle against French sweeping operations in the Red River Delta (1951 – 1954) and lessons learned for the construction of defensive zones in the new context
ThS. Nguyễn Hoàng Anh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Giai đoạn 1951 – 1954, chiến trường đồng bằng Bắc Bộ diễn ra cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt giữa ta và thực dân Pháp. Nhằm bình định vùng châu thổ, xây dựng nơi đây thành hậu phương chiến lược phục vụ chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã triển khai hàng loạt kế hoạch quân sự quy mô lớn như kế hoạch De Lattre de Tassigny và kế hoạch Navarre. Trước tình hình đó, Đảng đã kịp thời bổ sung, hoàn thiện chủ trương chỉ đạo chiến tranh nhân dân, trọng tâm là khôi phục, củng cố và phát triển hệ thống làng chiến đấu theo phương thức mới, từng bước xây dựng làng chiến đấu trở thành hạt nhân của khu du kích và căn cứ du kích. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đã kiên cường đánh bại các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của thực dân Pháp, làm thất bại âm mưu bình định đồng bằng và biến nơi đây thành hậu phương vững chắc của chúng. Từ thực tiễn đó, bài viết rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn đối với nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ gắn với củng cố chính quyền địa phương hai cấp hiện nay.
Từ khóa: Đảng lãnh đạo; làng chiến đấu; đồng bằng Bắc Bộ; giai đoạn 1951 – 1954; khu vực phòng thủ.
Abstract: During the 1951 – 1954 period, the Red River Delta battlefield witnessed an extremely fierce struggle between Vietnamese resistance forces and the French colonialists. In an attempt to pacify the delta region and transform it into a strategic rear base serving their war of aggression, the French implemented a series of large-scale military plans, notably the De Lattre de Tassigny Plan and the Navarre Plan. In response to this situation, the Party promptly supplemented and refined its guidelines for people’s war, focusing on restoring, consolidating, and developing the system of “combat villages” under new operational methods, gradually turning them into the core of guerrilla zones and resistance bases. Under the Party’s leadership, the military and people of the Red River Delta resolutely defeated large-scale French sweeping operations, thwarting the enemy’s scheme to pacify the delta and convert it into a secure rear base. From this historical experience, the article draws several theoretical and practical lessons applicable to the current task of building defensive zones in association with strengthening the two-tier local government system.
Keywords: Party leadership; combat villages; Red River Delta; 1951 – 1954 period; defensive zones.
1. Đặt vấn đề
Đồng bằng Bắc Bộ là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, được xem là “kho người, kho của” có ý nghĩa quyết định đối với cục diện chiến trường Bắc Đông Dương. Sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chuyển sang thế tiến công và phản công ngày càng mạnh mẽ. Trước nguy cơ thất bại, thực dân Pháp với sự hậu thuẫn của đế quốc Mỹ đã liên tiếp thay đổi bộ máy chỉ huy quân sự, cử các tướng: De Lattre de Tassigny, Raoul Salan và Navarre sang Đông Dương nhằm triển khai các kế hoạch quân sự quy mô lớn, tập trung bình định đồng bằng Bắc Bộ. Để thực hiện mục tiêu đó, địch tiến hành hàng loạt biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế kết hợp với những cuộc hành quân càn quét hết sức khốc liệt nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến, phá hoại cơ sở cách mạng và thiết lập quyền kiểm soát tuyệt đối đối với vùng châu thổ Bắc Bộ.
Trong bối cảnh đó, với địa hình bằng phẳng, trống trải, thiếu che chở của núi rừng, yêu cầu khôi phục và phát triển làng chiến đấu để hình thành nên những khu du kích, căn cứ du kích mạnh làm cơ sở, chỗ dựa cho chiến tranh nhân dân, đánh địch càn quét, bảo vệ nhân lực, vật lực tại chỗ trở thành yêu cầu sống còn. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo nhạy bén của Đảng, phong trào xây dựng làng chiến đấu đã được nâng tầm cả về lý luận và thực tiễn, trở thành giải pháp chiến lược độc đáo để “biến hậu phương địch thành tiền phương của ta” và tiến tới “biến hậu phương địch thành hậu phương ta”, đập tan âm mưu bình định, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt” của thực dân Pháp. Việc nghiên cứu kinh nghiệm lịch sử này dưới góc độ khoa học chỉ đạo và quản lý là hết sức cần thiết.
2. Tình hình chiến trường đồng bằng Bắc Bộ và những thách thức đặt ra đối với phong trào làng chiến đấu
Sau thất bại ở Biên giới Thu – Đông năm 1950. Đầu năm 1951, thực dân Pháp tập trung hơn một nửa lực lượng cơ động, pháo binh và cơ giới toàn Đông Dương về đồng bằng Bắc Bộ. Địch thiết lập phòng tuyến gồm 114 cứ điểm với 1.300 lô cốt do 20 tiểu đoàn Âu – Phi chiếm giữ. Ở vành ngoài, song song với phòng tuyến, địch lập nên một “vành đai trắng” có chiều rộng từ 5 – 10 km tự do bắn phá để bảo vệ phòng tuyến; đồng thời, điên cuồng mở các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn (chỉ riêng năm 1951 đã có 49 cuộc càn lớn từ 6 đến 18 tiểu đoàn)1 với lời khẳng định của tướng De Latte de Tassigny: “Bắc Bộ sẽ quyết định số phận của Đông Dương. Đồng bằng Bắc Bộ là nơi lá cờ Pháp phải được bảo vệ, nơi nước Pháp phải có mặt”2.
Sự đánh phá khốc liệt này đã gây tổn thất nặng nề cho ta: hệ thống làng chiến đấu kiểu cũ bị triệt phá, nhiều cơ sở Đảng bị vỡ (như ở Hưng Yên, Hải Dương, Hà Đông, Thái Bình), xuất hiện tư tưởng hoang mang, thậm chí có nơi “tự động phá làng chiến đấu, phá hầm bí mật”3, vùng tạm chiếm của địch lan rộng. Cuộc kháng chiến của quân dân đồng bằng đứng trước thử thách mới, phong trào xây dựng làng chiến đấu cũng gặp những khó khăn.
Trước tình hình chiến trường đồng bằng Bắc Bộ và những thách thức đặt ra đối với phong trào làng chiến đấu, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (02/1951) và Hội nghị Trung ương lần thứ hai (9/1951) đã nhận định: “Kháng chiến của ta càng gần đến thắng lợi thì các cuộc càn quét tàn sát của địch trong vùng tạm chiếm càng dữ dội, nhất là trong vùng phụ cận các đô thị, hoặc các vùng chiến lược, dọc đường giao thông quan trọng”4. Trên cơ sở đó Đảng chủ trương: “Riêng Khu III phải phát triển chiến tranh du kích đến cao độ”5; đồng thời, yêu cầu “luyện tập cho người dân quân biết đánh du kích, biết áp dụng làng chiến đấu, đồng thời tổ chức cho họ làm công tác hậu phương phục vụ tiền tuyến”6. Việc xây dựng làng chiến đấu phải căn cứ vào điều kiện cụ thể từng địa phương, nhằm phát huy vai trò của cơ sở trong thế trận chiến tranh nhân dân; qua đó, tăng cường phối hợp giữa bộ đội địa phương và dân quân du kích, từng bước tiêu hao, tiêu diệt địch, giữ vững làng xã và mở rộng thế chủ động chiến đấu của ta.
Để chỉ đạo khôi phục, củng cố và phát triển hệ thống làng chiến đấu trong thế trận chiến tranh nhân dân ở đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 1951 – 1954, Đảng ban hành nhiều chủ trương, chỉ thị quan trọng nhằm đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng và mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích ở vùng sau lưng địch. Đặc biệt, ngày 11/12/1951, Ban Bí thư ban hành “Chỉ thị đặc biệt” gửi Ban Cán sự và các Tỉnh ủy Tả ngạn Liên khu III, nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chiến tranh du kích, khôi phục lại các khu du kích và căn cứ du kích cũ, đồng thời, mở rộng thêm nhiều khu du kích và căn cứ du kích mới.
Tiếp đó, ngày 20/01/1952, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Đẩy mạnh du kích chiến tranh trên chiến trường Bắc Bộ”, xác định nhiệm vụ trọng tâm của quân và dân vùng địch hậu là tích cực củng cố cơ sở chính trị, phát triển phong trào du kích, mở rộng và củng cố các căn cứ địa kháng chiến. Ngày 26/01/1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng tiếp tục ban hành Chỉ thị gửi các liên khu ủy, tỉnh ủy và thành ủy về phát triển và củng cố các vùng du kích và căn cứ du kích, tích cực chuẩn bị chống giặc càn quét, yêu cầu các địa phương chủ động xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, nâng cao khả năng bám đất, giữ dân và đánh địch tại chỗ. Những chủ trương, chỉ đạo trên đã tạo cơ sở chính trị và định hướng chiến lược quan trọng để phong trào xây dựng làng chiến đấu ở đồng bằng Bắc Bộ từng bước được phục hồi, phát triển và phát huy hiệu quả trong chống càn quét của thực dân Pháp.
Quán triệt sâu sắc các chủ trương của Đảng, cấp ủy và lực lượng vũ trang tại Liên khu 3 và Khu Tả Ngạn sông Hồng đã thể hiện sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện, từng bước khôi phục lại phong trào làng chiến đấu tại đồng bằng Bắc Bộ.
(1) Tại vùng tả ngạn sông Hồng: lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân khôi phục thế liên hoàn. Tiêu biểu là các cụm làng chiến đấu liên hoàn Phan Xá, Tống Xá, Long Cầu, Đồng Kệ (Phù Cừ – Hưng Yên) đã chặn đứng trận càn Citrion (Trái Chanh) của Trung đoàn bộ binh Angiêri số 6 vào tháng 9/1951, diệt và làm bị thương hơn 350 tên địch, bắt sống 25 tên, thu hàng trăm súng các loại7. Trận thắng này giải tỏa tâm lý sợ càn quét, sợ các binh đoàn cơ động (GM) của địch. tại Hải Dương, Bắc Ninh, Kiến An, các làng chiến đấu cũng mọc lên dày đặc giúp mở rộng căn cứ du kích Tiên Lãng – Vĩnh Bảo liên hoàn 37 xã.
(2) Tại vùng hữu ngạn sông Hồng: phối hợp với Chiến dịch Quang Trung và Chiến dịch Hòa Bình, các làng chiến đấu tại Hà Nam (Liêm Túc, Nhân Hòa, Xuân Khê…), Ninh Bình (Khánh Trung – Khánh Thiện), Nam Định (Ý Yên, Vụ Bản…) được củng cố vượt bậc. Dựa vào làng chiến đấu Tân Tiến và Tiên Yên (Yên Khánh, Ninh Bình), lực lượng ta đánh bại các cuộc tiến công của lực lượng địch đông gấp nhiều lần, giữ vững bàn đạp cho chủ lực Đại đoàn 320 hoạt động sâu trong lòng địch.
Đến cuối tháng 6/1953, toàn đồng bằng Bắc Bộ đã khôi phục và phát triển thêm được 44 xã và 794 thôn có làng chiến đấu so với cùng kỳ năm trước. Vùng tạm chiếm của địch bị thu hẹp, chỉ còn 225 xã và 1.977 thôn8; buộc tướng Raoul Salan phải bất lực rời ghế tổng chỉ huy.
Khi Kế hoạch Navarre tăng cường quân số chiếm đóng đồng bằng Bắc Bộ lên tới 112 tiểu đoàn gồm cả quân Âu – Phi và quân ngụy9, nhằm dồn dân, lập “đại xã” kiểu trại tập trung, Đảng lãnh đạo quân dân đồng bằng Bắc Bộ đẩy thế trận làng chiến đấu lên đỉnh cao. Đến tháng 9/1953, toàn vùng tả ngạn đã có 1.845 làng chiến đấu, chiếm 68% tổng số làng xã10. Sự kiên cường của các làng chiến đấu đã bẻ gãy hàng loạt chiến dịch càn quét mang tính hủy diệt của Pháp, nổi bật, như: đánh bại chiến dịch càn quét Claude vào Tiên Lãng (9/1953): Với khẩu hiệu “Mỗi người dân là một vũ khí diệt địch”, “Mỗi ngôi nhà là một ổ đề kháng”, quân dân dựa vào làng kháng chiến, dùng chông mìn, cạm bẫy đẩy lùi quân địch, bẻ gãy trận càn dài ngày, ác liệt nhất vùng sau lưng địch. Bộ đội và du kích ta đã tiêu diệt 667 tên địch, phá hùy ba xe lội nước, bấn chìm hai canô, bắn cháy hai máy bay, mục tiêu xoá sổ khu du kích Tiên Lãng của địch bị thất bại11.
Trận càn Gerfaut vào Thái Bình (12/1953 – 01/1954): địch huy động 6 binh đoàn cơ động cùng phi pháo hạng nặng càn quét dữ dội. Hệ thống làng xã chiến đấu liên hoàn của Thái Bình (tiêu biểu như làng Vân Trường, Tiểu Hoàng, Thư Điền…) đã bám làng đánh 141 trận, khiến chông mìn trở thành nỗi khiếp sợ của bộ binh địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 5.000 tên địch, phá hủy 11 xe tăng, hai xe cóc, 1.010 xe vận tải, hai pháo 105mm, hai pháo 57mm, một pháo 12,7mm,… cùng nhiều vũ khí cá nhân, quân trang, quần dụng, buộc địch phải rút chín đồn bốt để khỏi bị vây hãm12. Chính tổng chỉ huy Navarre đã phải thừa nhận trong cay đắng: trong khoảng 7.000 làng ở đồng bằng Bắc Bộ thì Việt Minh đã kiểm soát từ một phần đến toàn bộ hơn 5.000 làng13. Làng chiến đấu đã trở thành bàn đạp an toàn để các phân đội đặc công trú quân, xuất phát tiến công phá hủy hai sân bay chiến lược Gia Lâm (4/3/1954) và Cát Bi (7/3/1954), chặt đứt con đường tiếp tế hàng không duy nhất của Pháp cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
3. Thành tựu toàn diện trong quản lý kinh tế – xã hội
Giai đoạn 1951 – 1954, vai trò của làng chiến đấu tại đồng bằng Bắc Bộ không chỉ giới hạn ở chức năng quân sự mà còn trở thành không gian quản lý kinh tế – xã hội vững chắc, thực thi hiệu quả nhiệm vụ “kiến quốc” dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng.
Trong lĩnh vực kinh tế, việc áp dụng chủ trương ruộng đất của Đảng đã tạo động lực cho các làng chiến đấu tổ chức mô hình đổi công, phân chia lại ruộng đất công và đẩy mạnh khai hoang. Nhờ đó, sản xuất được duy trì và phát triển ngay trong điều kiện chiến tranh khốc liệt; điển hình như tại Hà Đông (nay phường Hà Đông, thành phố Hà Nội), diện tích cấy lúa vụ mùa năm 1953 tại các khu du kích và căn cứ du kích đạt 60.000 mẫu, tăng 10.000 mẫu so với vụ chiêm14.
Bên cạnh đó, công tác an sinh xã hội được đặc biệt chú trọng nhằm ứng phó với các đợt càn quét đánh phá kinh tế của địch. Tại Kim Bảng và Lý Nhân (Hà Nam nay là tỉnh Ninh Bình), Nhân dân đã chủ động thực hiện chính sách tương trợ, tiết kiệm và cho nhau vay hơn 93.432kg thóc cùng 1.833 kg gạo15 để khắc phục tình trạng thiếu đói, giữ vững sự ổn định đời sống.
Trên phương diện chính trị và dân sinh, làng chiến đấu đóng vai trò là điểm tựa để quần chúng đấu tranh trực diện với địch, tiêu biểu là việc phá vỡ các âm mưu dồn dân lập trại tập trung (tiêu biểu là chiến thắng chống dồn dân lập “Đại xã Đồng Quan” ở Hà Đông, giải thoát 1.250 thanh niên khỏi bị bắt lính ở Mỹ Lộc), khẳng định sức mạnh của quần chúng trong việc bảo vệ cơ sở cách mạng.
Với cơ sở hậu phương được củng cố vững chắc thông qua việc giữ vững xóm làng và duy trì, phát triển sản xuất, trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954, chiến trường đồng bằng Bắc Bộ đã phát huy hiệu quả vai trò của một mặt trận phối hợp chiến lược quan trọng. Dựa trên thế trận làng chiến đấu rộng khắp, quân và dân nơi đây không chỉ kiên cường đập tan hàng nghìn cuộc hành quân càn quét quy mô lớn, hết sức ác liệt của thực dân Pháp, qua đó giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch tại đồng bằng, mà còn huy động và đóng góp nguồn nhân lực, vật lực to lớn cho cuộc kháng chiến, đặc biệt là cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong những tháng đầu năm 1954, Liên khu 3 và Khu Tả Ngạn đã cung cấp cho tiền tuyến 1.464 tấn gạo, 64 tấn thịt, 266 tấn muối, 51,66 tấn rau khô; đồng thời, huy động 6.400 dân công, 1.712 xe đạp thồ cùng 736 xe bò, ngựa, trâu16. Cùng với đó, hàng vạn thanh niên đồng bằng Bắc Bộ hăng hái tòng quân, trực tiếp bổ sung lực lượng cho các chiến trường trọng điểm.
4. Bài học kinh nghiệm trong xây dựng khu vực phòng thủ gắn với củng cố chính quyền địa phương hai cấp
Thứ nhất, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ.
Thực tiễn từ việc xây dựng, phục hồi và phát triển làng chiến đấu trong chống càn quét của thực dân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 1951 – 1954 cho thấy, ở đâu cấp ủy địa phương nắm vững tình hình, lãnh đạo sâu sát, phát huy được vai trò của hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân thì ở đó các làng chiến đấu củng cố vững chắc phát triển và mở rộng thành các khu du kích, căn cứ du kích mạnh có khả năng đập tan mọi cuộc càn quét với nhiều quy mô, mức độ khác nhau của địch. Hiện nay, bài học đó tiếp tục được khẳng định trong cơ chế vận hành khu vực phòng thủ “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, điều hành; cơ quan quân sự, công an và các cơ quan, tổ chức làm tham mưu nòng cốt”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt được xác định trong Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực vững chắc; Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết Đại XIV của Đảng; đặc biệt là Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, yêu cầu đặt ra là các cấp ủy, chính quyền phải cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn địa phương; xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong xây dựng và vận hành khu vực phòng thủ. Đồng thời, cần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh; bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, tạo cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ.
Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh trong xây dựng khu vực phòng thủ.
Quá trình xây dựng làng chiến đấu ở đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 1951 – 1954 cho thấy tư duy kết hợp giữa “kháng chiến” với “kiến quốc”, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở chính trị là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của hậu phương tại chỗ. Hiện nay, quan điểm kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh tiếp tục được Đảng khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII, Luật Quốc phòng năm 2018 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2030. Theo đó, xây dựng đồng bằng Bắc Bộ phải được lồng ghép chặt chẽ trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương; gắn các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển hạ tầng với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh. Việc đầu tư các công trình giao thông, thông tin liên lạc, y tế, hậu cần cần bảo đảm tính “lưỡng dụng”, vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng khi có tình huống. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở.
Thứ ba, chủ động kiện toàn tổ chức lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hiện nay.
Một trong những kinh nghiệm quan trọng từ thực tiễn kháng chiến là tổ chức lực lượng phải luôn bám sát yêu cầu thực tiễn chiến trường, bảo đảm tính linh hoạt, cơ động, không máy móc, rập khuôn. Trong giai đoạn hiện nay, chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại được xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 và những năm tiếp theo. Đồng thời, Quân ủy Trung ương tiếp tục chỉ đạo sắp xếp tổ chức quân sự địa phương phù hợp với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, việc tổ chức lại cơ quan quân sự địa phương cần thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 866-NQ/QUTW ngày 14/6/2025 của Quân ủy Trung ương về tiếp tục sắp xếp tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống chính quyền địa phương, nâng cao năng lực tham mưu, chỉ huy, hiệp đồng và khả năng xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh từ cơ sở. Tinh gọn bộ máy không chỉ nhằm giảm đầu mối trung gian mà còn hướng tới nâng cao chất lượng hoạt động, hiệu lực quản lý nhà nước về quốc phòng, tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu và đáp ứng yêu cầu xây dựng KVPT trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao, các thách thức an ninh phi truyền thống và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thứ tư, xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân” làm nền tảng của khu vực phòng thủ.
Thực tiễn xây dựng làng chiến đấu cho thấy sức mạnh của chiến tranh nhân dân bắt nguồn từ sự đồng thuận, tin tưởng và tham gia tích cực của quần chúng nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, “thế trận lòng dân” tiếp tục được xác định là nền tảng cốt lõi của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đại hội XIV của Đảng quán triệt quan điểm “Dân là gốc”17, chăm lo đời sống nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, chính quyền địa phương cần đẩy mạnh công tác dân vận, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ cơ sở; nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Ngày hội Quốc phòng toàn dân”. Đồng thời, cần chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục quốc phòng và an ninh cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân; tăng cường đối thoại, nắm chắc tình hình địa bàn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không để các thế lực thù địch lợi dụng kích động, chia rẽ từ cơ sở.
Thứ năm, nâng cao năng lực dự báo chiến lược và đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ trong quản trị quốc phòng, an ninh.
Sự linh hoạt trong tổ chức xây dựng công sự, bố trí lực lượng và phương thức tác chiến ở giai đoạn 1951 – 1954 cho thấy, vai trò quan trọng của tư duy đổi mới, khả năng thích ứng nhanh với thực tiễn chiến tranh. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra nhiệm vụ phải đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học – công nghệ vào quản lý, điều hành và tổ chức hoạt động khu vực phòng thủ. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định rõ vai trò của khoa học – công nghệ trong tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Theo đó, các địa phương cần chú trọng xây dựng hệ thống văn kiện tác chiến, dữ liệu quốc phòng và phương án phòng thủ dân sự theo hướng số hóa; nâng cao năng lực dự báo chiến lược, quản lý tình huống từ sớm, từ xa; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) và các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong huấn luyện, diễn tập khu vực phòng thủ. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao khả năng quản trị quốc phòng, an ninh của chính quyền địa phương, bảo đảm chủ động xử lý hiệu quả các tình huống an ninh truyền thống và phi truyền thống trong điều kiện mới.
5. Kết luận
Xây dựng và phát triển làng chiến đấu vùng đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn 1951 – 1954 là một sáng tạo độc đáo về nghệ thuật quân sự và tài thao lược củng cố hậu phương của Đảng ta. Trải qua những thời điểm đầy cam go, tổn thất dưới làn đạn càn quét bình định của kẻ thù, hệ thống làng chiến đấu vẫn kiên cường đứng vững, phát triển từ diện rộng đến chiều sâu, thiết lập nên một trận đồ bát quái chiến tranh nhân dân làm phá sản hoàn toàn các kế hoạch chiến lược của thực dân Pháp. Những bài học lịch sử về phát huy sức mạnh tại chỗ, tổ chức lực lượng liên hoàn và nghệ thuật quy tụ lòng dân chính là kho tàng quý báu cần tiếp tục được kế thừa, phát triển sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Chú thích:
1. Nhiều tác giả (1985). Trận đánh 30. Tập 2. H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 133.
2. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1995). Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 – 1975. H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 109.
3. Phiếu tổng hợp tình hình du kích chiến tranh hữu ngạn (28/12/1951). Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 8.
4, 5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 12 (1951). H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 278, 510, 288.
7, 9. Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2005). Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu 3 (1945 – 1955). H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 289, 372.
8. Báo cáo tình hình ta và địch sau một năm đấu tranh từ tháng 6/1952 đến tháng 7/1953 ở chiến trường địch hậu đồng bằng Bắc Bộ. Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 135.
10, 11. Hội đồng Chỉ đạo biên soạn công trình Lịch sử kháng chiến chống Pháp Khu Tả Ngạn sông Hồng (2001). Lịch sử kháng chiến chống Pháp Khu Tả Ngạn sông Hồng 1945 – 1955. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 381, 394.
12. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình (1999). Thái Bình kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 – 1954), tr. 346.
13. Henri Navarre (1994). Thời điểm của những sự thật (Nguyễn Huy Cầu dịch). H. NXB Công an nhân dân – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 57.
14, 15. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 3 (2008). Lịch sử Đảng bộ Quân khu 3, Tập 1: Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 5.1954). H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 428, 427.
16. Cục Hậu cần (2004). Lịch sử Hậu cần Quân khu 3 trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954). H. NXB Quân đội nhân dân, tr. 289.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 382.
Tài liệu tham khảo:
1. Lê Thanh Bài (2019). Làng chiến đấu vùng đồng bằng Bắc Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954). H. NXB Quân đội nhân dân.
2. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2014). Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – Thắng lợi và bài học. H. NXB Chính trị quốc gia.
3. Cục Dân quân tự vệ (2007). Tổng kết làng xã chiến đấu trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946 – 1975). H. NXB Quân đội nhân dân.
4. Lê Tuấn Đạt (2025). Quân và dân đồng bằng Bắc Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954). H. NXB Quân đội nhân dân.
5. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2021). Lịch sử đấu tranh chống phá càn quét, bình định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954). Tập 1. H. NXB Quân đội nhân dân.



