Access to public services for persons with disabilities in Hanoi
ThS. Lê Thị Vân Huyền
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: huyenltv@apag.edu.vn
Đào Thanh Phong
Sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: Phongdt.apag@gmail.com
Quanlynhanuoc.vn) – Thực tiễn cho thấy, việc nâng cao chất lượng tiếp cận dịch vụ công ích cho người khuyết tật không chỉ mang ý nghĩa nhân văn mà còn phản ảnh hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực cung ứng dịch vụ của chính quyền đô thị cả nước. Kết quả khảo sát tại thành phố Hà Nội cũng cho thấy, mặc dù đã có nhiều chủ trương, chương trình hỗ trợ được ban hành và triển khai nhưng mức độ tiếp cận dịch vụ công ích của người khuyết tật vẫn còn không ít những hạn chế, như: cơ sở vật chất, hạ tầng chưa đồng bộ, phương tiện giao thông công cộng chưa phù hợp, các thiết kế dịch vụ số chưa thân thiện, một bộ phận cán bộ cung ứng dịch vụ chưa được đào tạo bài bản, cùng với đó là rào cản về tâm lý, thông tin và điều kiện kinh tế của chính bản thân người khuyết tật. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ công ích của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Tiếp cận dịch vụ công ích; người khuyết tật; thực trạng tiếp cận dịch vụ công ích; thành phố Hà Nội.
Abstract: Experience has shown that improving the quality of access to public services for persons with disabilities is not only of humanitarian significance but also reflects the effectiveness of state management and the service delivery capacity of urban governments throughout the country. Survey results in Hanoi indicate that although numerous policies and support programmes have been issued and implemented, the level of access to public services for persons with disabilities still faces a number of limitations, including inadequate physical facilities and infrastructure, public transport that is not suitable for persons with disabilities, digital service designs that are not user-friendly, and a lack of systematic training among some service providers. In addition, persons with disabilities themselves face psychological barriers, limited access to information, and financial constraints. Based on the analysis of the current situation, this article proposes several solutions to ensure access to public services for persons with disabilities in Hanoi under current conditions.
Keywords: Public services access; persons with disabilities; current state of access to public services; Hanoi City.
1. Đặt vấn đề
Trong cấu trúc của một hệ thống an sinh xã hội hiện đại, dịch vụ công ích không chỉ đóng vai trò là công cụ hỗ trợ kỹ thuật mà còn là “nhịp cầu” quyết định khả năng tái hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật. Hiện nay, khả năng tiếp cận dịch vụ công ích của người khuyết tật (tập trung vào dịch vụ công ích giao thông công cộng) không chỉ phụ thuộc vào sự tồn tại của các dịch vụ mà còn chịu tác động bởi nhiều tiêu chí khác nhau trong đời sống xã hội như: khả năng tiếp cận vật lý của cơ sở hạ tầng, tiếp cận thông tin, khả năng chi trả đối với dịch vụ và chất lượng, mức độ phù hợp của dịch vụ công ích. Những tiêu chí này đang tác động trực tiếp đến việc đảm bảo và nâng cao chất lượng trong cung ứng dịch vụ công ích giao thông công cộng của người khuyết tật.
Hà Nội – với vai trò là Thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, nơi tập trung dân cư đông đúc và đa dạng – có tính chất đại diện cao cho việc triển khai các chính sách đối với người khuyết tật. Theo số liệu rà soát đầu năm 2025, toàn thành phố có 112.313 người khuyết tật, trong đó có 11.276 người khuyết tật nhẹ, 82.289 người khuyết tật nặng và 18.748 người khuyết tật đặc biệt nặng, cho thấy phần lớn người khuyết tật thuộc nhóm có mức độ khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng. Bên cạnh đó, xét theo dạng tật, cơ cấu người khuyết tật tại Hà Nội khá đa dạng. Trong đó, khuyết tật vận động chiếm tỷ lệ cao nhất với 44.504 người, tiếp theo là khuyết tật thần kinh, tâm thần với 29.457 người, khuyết tật trí tuệ 18.016 người, khuyết tật nhìn 10.616 người, khuyết tật nghe và nói 10.331 người và các dạng khuyết tật khác 16.286 người (Sở Y tế Hà Nội, 2025). Cơ cấu này phản ánh đặc điểm phổ biến tại các đô thị lớn, nơi tỷ lệ khuyết tật vận động và các dạng khuyết tật liên quan đến sức khỏe tâm thần có xu hướng cao. Điều này cho thấy, thành phố Hà Nội đã triển khai thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ theo quy định của Luật Người khuyết tật cũng như củng cố hệ thống hỗ trợ người khuyết tật song do người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội có đặc điểm đa dạng về dạng tật, mức độ khuyết tật và nhu cầu hỗ trợ. Vì vậy, đã đặt ra yêu cầu đối với chính quyền thành phố trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống dịch vụ công ích giao thông công cộng theo hướng tiếp cận toàn diện, tạo điều kiện để người khuyết tật được tham gia bình đẳng vào các hoạt động của đời sống xã hội.
2. Thực trạng tiếp cận dịch vụ công ích của người khuyết tật ở Hà Nội
Để đánh giámột cách khách quan và toàn diện về khả năng tiếp cận dịch vụ công ích giao thông công cộng của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát bằng phiếu điều tra đối với 207 đối tượng người khuyết tật từ ngày 24/12 – 31/12/2025. Sau khi tiến hành sàng lọc các phiếu thiếu thông tin và không hợp lệ thì còn lại 202 phiếu đủ điều kiện đưa vào phân tích. Thực tiễn khảo sát cho thấy, phần lớn người tham gia khảo sát Khuyết tật dạng vận động (chiếm 34,7%), khuyết tật dạng nghe – nói (chiếm 25,7%), 18,8% người tham gia khảo sát khuyết tật dạng nhìn, cuối cùng là số người khuyết tật trí tuệ (chiếm 13,9%) và dạng khuyết tật khác (chiếm 6,9%). Trong đó, khuyết tật ở mức độ nhẹ (chiếm 52,5%), khá nhiều người khuyết tật nặng (chiếm 32,7%), còn lại là số người tham gia khảo sát ở mức độ khuyết tật đặc biệt nặng. Cơ bản số lượng người khuyết tật tham gia khảo sát sinh sống tại khu vực nội thành Hà Nội (chiếm 71,8% tổng số người được khảo sát); có 28,2% sinh sống ở khu vực ngoại thành. Điều này phản ánh rằng người khuyết tật có xu hướng tập trung nhiều hơn ở khu vực trung tâm thành phố, nơi có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội và công ích thuận lợi hơn so với khu vực ngoại thành.
Một là, mức độ tiếp cận về hạ tầng vật lý.
Thời gian qua, Hà Nội đã triển khai nhiều chính sách nhằm bảo đảm người khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ công ích, công trình công cộng một cách thuận lợi và bình đẳng. Cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai các chính sách này là Luật Người khuyết tật năm 2010, trong đó quy định các công trình xây dựng mới như chung cư, trụ sở cơ quan nhà nước và các công trình hạ tầng kỹ thuật phải tuân thủ các quy chuẩn thiết kế nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận đối với người khuyết tật. Đồng thời, đối với các công trình được xây dựng trước khi Luật có hiệu lực, Nhà nước khuyến khích và từng bước thực hiện việc cải tạo, nâng cấp để đáp ứng điều kiện tiếp cận theo lộ trình phù hợp. Báo cáo số 6145/BC-SYT ngày 04/11/2025 của Sở Y tế Hà Nội về sơ kết Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 – 2025, trên địa bàn thành phố 100% công trình xây dựng công cộng mới (bao gồm các điểm dừng, nhà ga, bến xe) đều bảo đảm các điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật. Kết quả này cho thấy những nỗ lực của thành phố trong việc chuẩn hóa các tiêu chuẩn xây dựng và hướng tới mô hình quy hoạch đô thị bao trùm, lấy con người làm trung tâm.
Từ kết quả khảo sát, thực trạng mức độ tiếp cận về hạ tầng vật lý đối với người khuyết tật khi sử dụng dịch vụ giao thông công cộng tại thành phố Hà Nội hiện nay đang ở mức trung bình và vẫn còn nhiều hạn chế đáng kể. Số liệu khảo sát về tiêu chí “Công trình công cộng có lối đi riêng/lối tiếp cận cho người khuyết tật”, phần lớn ý kiến đánh giá tập trung ở mức độ 3 với 86 lượt chọn (chiếm 42,6%), cho thấy hệ thống hạ tầng mới chỉ đáp ứng được những yêu cầu cơ bản nhưng chưa thực sự thuận tiện hoặc đồng bộ. Đáng chú ý, tỷ lệ đánh giá ở mức độ 4 và 5 (mức độ tốt và rất tốt) cộng lại chỉ đạt khoảng 40,2% (trong đó mức 5 chỉ chiếm vỏn vẹn 10%), phản ánh rằng các công trình có thiết kế tối ưu, đạt chuẩn tiếp cận cao vẫn còn khá khiêm tốn. Ở chiều ngược lại, vẫn tồn tại khoảng 21,3% ý kiến đánh giá ở mức độ 1 và 2, minh chứng cho việc một bộ phận không nhỏ các công trình công cộng vẫn chưa có lối đi riêng hoặc lối tiếp cận còn rất khó khăn đối với người khuyết tật. Nhìn chung, mặc dù Thủ đô đã có những nỗ lực nhất định trong việc cải thiện hạ tầng vật lý, nhưng sự phân hóa giữa các mức độ đánh giá cho thấy, tính hệ thống và độ bao phủ của các lối tiếp cận chuẩn hóa vẫn chưa cao, đòi hỏi cần có sự đầu tư bài bản và đồng bộ hơn để thực sự xóa bỏ rào cản cho người khuyết tật trong việc hòa nhập giao thông.
Hai là, mức độ tiếp cận về thông tin.
Việc bảo đảm người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông cũng được chú trọng trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Theo Điều 43 Luật Người khuyết tật năm 2010, Nhà nước khuyến khích các tổ chức và doanh nghiệp phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người khuyết tật. Đồng thời, Quyết định số 1190/QĐ-TTg ngày 05/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 – 2030 cũng xác định nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật về công nghệ hỗ trợ người khuyết tật, đồng thời nâng cấp các cổng thông tin điện tử phục vụ nhóm đối tượng này. Một số nền tảng công nghệ dành riêng cho người khuyết tật cũng đã được phát triển. Trong đó nổi bật là ứng dụng bản đồ D.Map do các tổ chức của người khuyết tật phát triển cũng giúp người dùng tra cứu mức độ tiếp cận của các địa điểm công cộng, từ đó lựa chọn những địa điểm phù hợp với khả năng di chuyển của mình.
Kết quả khảo sát về tính phù hợp và dễ hiểu của hệ thống biển báo, chỉ dẫn cho thấy, thực trạng mức độ tiếp cận thông tin thông qua hệ thống biển báo và chỉ dẫn dành cho người khuyết tật tại mạng lưới giao thông công cộng Hà Nội hiện đang dừng lại ở mức độ trung bình và chưa thực sự bứt p phá về chất lượng. Số liệu khảo sát cũng chỉ rằng, đa số ý kiến đánh giá tập trung tại mức độ 3 với 87 lượt chọn (chiếm tỷ lệ cao nhất là 43,1%), điều này chứng tỏ hệ thống chỉ dẫn hiện nay mới chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu cơ bản, chưa tạo được sự thuận lợi tối ưu cho các đối tượng yếu thế. Đáng lo ngại hơn, tỷ lệ đánh giá ở mức độ 5 (rất tốt) chỉ chiếm một con số khiêm tốn là 3,5%, trong khi nhóm ý kiến không hài lòng (mức độ 1 và 2) lại chiếm tới 27,8% (với 8 người đánh giá mức 1 và 48 người đánh giá mức 2). Kết quả này phản ánh một thực tế hệ thống biển báo, chỉ dẫn thông tin hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, có thể là do thiếu các định dạng thông tin đa dạng như chữ nổi, tín hiệu âm thanh hoặc vị trí lắp đặt chưa phù hợp để người khuyết tật dễ dàng quan sát và hiểu đúng. Nhìn chung, kết quả này cho thấy, hệ thống biển báo và chỉ dẫn là một khía cạnh cần được cải thiện và đồng bộ hóa mạnh mẽ hơn để giúp người khuyết tật tiếp cận hạ tầng một cách tự tin và độc lập.
Ba là, mức độ tiếp cận về khả năng chi trả đối với dịch vụ.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 41 Luật Người khuyết tật năm 2010, người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng được miễn hoặc giảm giá vé khi sử dụng một số phương tiện giao thông công cộng theo quy định của Chính phủ. Ngoài việc thực hiện quy định chung của pháp luật, Hà Nội còn triển khai chính sách hỗ trợ riêng đối với người khuyết tật trong việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Cụ thể, thành phố không chỉ thực hiện miễn phí vé xe buýt thường và xe buýt nhanh (BRT) cho người khuyết tật nặng, mà còn mở rộng đối tượng cấp thẻ miễn phí cho cả người khuyết tật nhẹ và áp dụng đồng bộ trên hệ thống đường sắt đô thị (tuyến 2A Cát Linh – Hà Đông và tuyến Nhổn – Ga Hà Nội đoạn trên cao vừa đi vào vận hành năm 2024). Không chỉ dừng lại ở đó, khả năng chi trả của người khuyết tật tại Hà Nội trong đã được cải thiện đáng kể nhờ vào tiến trình chuyển đổi số trong quản lý dịch vụ công. Việc triển khai thẻ vé điện tử và thẻ ảo (phi vật lý) trên điện thoại thông minh từ đã tạo ra một bước ngoặt về chi phí tiếp cận. Người khuyết tật hiện nay có thể đăng ký và gia hạn quyền lợi miễn phí trực tuyến, giúp cắt giảm hoàn toàn các chi phí đi lại phụ trợ và chi phí thời gian vốn là rào cản lớn trong giai đoạn trước.
Tuy nhiên, khi phân tích sâu vào thực tiễn vận hành, khả năng chi trả thực tế của người khuyết tật vẫn đang phải chịu áp lực nặng nề từ các “chi phí ẩn” phát sinh trong cấu trúc chuỗi hành trình. Mặc dù mức giá vé trực tiếp đã được đưa về 0 đồng, nhưng người khuyết tật thường xuyên phải đối mặt với hiện tượng “đứt gãy hạ tầng vật lý”. Sự thiếu đồng bộ của hệ thống vỉa hè, thiếu các lối dốc chuẩn tại các bến chờ và sự hạn chế của số lượng xe buýt sàn thấp đã tạo ra những khoảng trống tiếp cận đáng kể. Để bù đắp cho sự thiếu hụt này, người khuyết tật buộc phải chi trả thêm các khoản phí không nhỏ cho các phương tiện kết nối trung gian, như: taxi, xe ôm công nghệ hoặc thuê người hỗ trợ để có thể tiếp cận được nhà ga, bến bãi. Đối với nhiều người khuyết tật có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các khoản chi phí phát sinh ở chặng đầu và chặng cuối này thường cao gấp nhiều lần so với mức chi tiêu giao thông trung bình của một người bình thường, vô hình trung biến dịch vụ công ích miễn phí trở thành một đặc quyền khó tiếp cận.
Bốn là, mức độ tiếp cận về chất lượng và mức độ phù hợp của dịch vụ công ích cho người khuyết tật.
Trong bối cảnh hạ tầng vật lý và thông tin còn nhiều hạn chế, sự hỗ trợ từ cộng đồng đóng vai trò là một “mạng lưới an sinh xã hội” quan trọng giúp người khuyết tật tiếp cận dịch vụ giao thông công cộng tại Hà Nội. Kết quả khảo sát cho thấy, một tín hiệu khá tích cực về nhận thức và thái độ của người dân: mức độ đánh giá tập trung cao nhất ở mức 3 với 77 lượt chọn (chiếm 38,1%) và mức 4 với 67 lượt chọn (chiếm33,2%), đã phần nào khẳng định đại đa số người dân Thủ đô có tinh thần sẵn sàng hỗ trợ khi bắt gặp người khuyết tật gặp khó khăn trên hành trình. Tổng tỷ lệ ý kiến đánh giá từ mức trung bình trở lên (mức 3, 4, 5) đạt tới 83,2%, trong đó có 11,9% đánh giá ở mức rất tốt (mức 5). Đáng chú ý, tỷ lệ phản hồi tiêu cực ở mức 1 là rất thấp, chỉ chiếm 0,5% (tương đương 1 phiếu bầu), cho thấy hành vi thờ ơ hoặc từ chối giúp đỡ là hiện tượng hiếm gặp. Tuy nhiên, việc tỷ lệ đánh giá ở mức 2 vẫn còn chiếm 16,3% cho thấy, dù có sự sẵn lòng, nhưng sự giúp đỡ đôi khi chưa kịp thời hoặc người dân còn lúng túng về kỹ năng hỗ trợ người khuyết tật.
Mặc dù xu hướng chung là tích cực nhưng vẫn có một bộ phận người khuyết tật cảm thấy chưa nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ những người xung quanh. Kết quả khảo sát tại đã chỉ ra một điểm then chốt: Hà Nội đang ở giai đoạn quá độ từ mô hình “Hỗ trợ nhân đạo” sang mô hình “Hòa nhập dựa trên quyền”. Nhìn chung, đây vẫn là một tín hiệu lạc quan về mặt văn hóa ứng xử và tinh thần tương thân tương ái trong xã hội, tạo tiền đề tốt để người khuyết tật tự tin hơn khi hòa nhập cộng đồng. Sự sẵn lòng của cộng đồng hiện nay chính là yếu tố bổ trợ then chốt, giúp cải thiện đáng kể chất lượng và mức độ phù hợp thực tế của dịch vụ giao thông công cộng đối với người khuyết tật trên địa bàn thành phố.
3. Giải pháp bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ công ích của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội
Thứ nhất, giải pháp về hạ tầng giao thông công cộng.
Trước hết, các điểm dừng, nhà chờ cần được cải tạo theo hướng không bậc, có ram dốc, tay vịn, nền chống trơn trượt và hệ thống biển báo dễ tiếp cận. Những cải thiện này không chỉ hỗ trợ người sử dụng xe lăn mà còn có lợi cho người cao tuổi, phụ nữ mang thai và người mang hành lý. Bên cạnh đó, thông tin tại điểm dừng cần được thể hiện bằng chữ nổi, âm thanh hoặc các hình thức phù hợp để người khiếm thị có thể chủ động di chuyển. Đồng thời, vỉa hè và đường tiếp cận phải được quy hoạch liên tục, không bị lấn chiếm hoặc đứt đoạn trong quá trình sử dụng. Gạch dẫn hướng cho người khiếm thị cần được lắp đặt đúng vị trí, kết nối với điểm dừng, nút giao và các công trình công cộng quan trọng.
Ngoài ra, sự phát triển của Hà Nội Metro đặt ra yêu cầu phải cải thiện kết nối đa phương thức giữa metro, xe buýt, phương tiện trung chuyển và hạ tầng đi bộ. Các dịch vụ trung chuyển có vai trò hoàn thiện “chuỗi di chuyển cuối cùng”, nhất là ở khu vực ngoại thành hoặc nơi xa tuyến giao thông chính. Vì vậy, việc cải thiện hạ tầng tiếp cận không nên được xem là giải pháp hỗ trợ riêng lẻ mà là một phần thiết yếu của hệ thống giao thông bao trùm.
Thứ hai, giải pháp về phương tiện giao thông.
Việc nâng cấp xe buýt và phương tiện công cộng tại Hà Nội cần được xem là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận thực sự cho người khuyết tật. Các phương tiện cần được trang bị sàn thấp, cầu nâng hoặc ram dốc để giảm rào cản khi lên xuống xe, đồng thời, phải có quy trình vận hành rõ ràng để thiết bị được sử dụng hiệu quả. Bên trong xe, cần bố trí khu vực dành riêng cho xe lăn với không gian phù hợp, linh hoạt và không tạo cảm giác tách biệt cho người sử dụng.
Ngoài ra, hệ thống thông tin trên phương tiện cũng cần được đồng bộ giữa âm thanh, màn hình hiển thị và ứng dụng di động để hỗ trợ cả người khiếm thị và khiếm thính. Bên cạnh việc cải thiện phương tiện hiện có, Hà Nội cần phát triển thêm các phương tiện chuyên biệt như xe buýt dành cho người khuyết tật tại khu vực bệnh viện, trường học chuyên biệt hoặc trung tâm phục hồi chức năng. Các phương tiện chuyên biệt không nên hoạt động tách rời mà phải gắn với mạng lưới giao thông công cộng chung.
Thứ ba, giải pháp về công nghệ và thông tin.
Công nghệ không chỉ cung cấp thông tin mà còn giúp người dùng hiểu hệ thống, lựa chọn hành trình phù hợp và giảm rủi ro trong quá trình di chuyển. Cần xây dựng ứng dụng tìm tuyến dành riêng cho người khuyết tật, trong đó tích hợp các yếu tố như mức độ tiếp cận của phương tiện, điều kiện điểm dừng, khả năng trung chuyển và tình trạng đông đúc. Bên cạnh đó, bản đồ tiếp cận cần phản ánh chất lượng hạ tầng thực tế như ram dốc, gạch dẫn hướng, độ bằng phẳng của lối đi và khả năng sử dụng của các điểm trung chuyển. Hệ thống này nên cho phép người dùng cập nhật, phản ánh tình trạng thực tế để dữ liệu luôn chính xác và có tính cộng đồng. Ngoài ra, thông tin trong quá trình di chuyển cần được thiết kế đa dạng, phù hợp với từng nhóm người khuyết tật. Người khiếm thị cần hệ thống âm thanh rõ ràng, đúng thời điểm, trong khi người khiếm thính cần bảng điện tử, màn hình hiển thị và ký hiệu trực quan dễ hiểu.
Thứ tư, giải pháp về nguồn nhân lực và nhân thức.
Đội ngũ lái xe, phụ xe và nhân viên vận hành cần được đào tạo không chỉ về kỹ thuật mà còn về kỹ năng hỗ trợ, giao tiếp và xử lý tình huống với từng nhóm người khuyết tật. Việc hỗ trợ cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ, tránh thái độ thương hại hoặc can thiệp quá mức. Mục tiêu của đào tạo là hình thành chuẩn mực hành vi nghề nghiệp mới, trong đó hỗ trợ người khuyết tật trở thành phản xạ tự nhiên và văn hóa phục vụ của toàn hệ thống. Cộng đồng cần được nâng cao nhận thức để coi việc nhường ghế, hỗ trợ và tôn trọng người khuyết tật là quy tắc ứng xử trong không gian công cộng. Các chiến dịch truyền thông nên được triển khai liên tục, đa kênh và hướng tới thay đổi cách nhìn về người khuyết tật từ đối tượng cần giúp đỡ sang chủ thể có quyền tiếp cận bình đẳng.
Thứ năm, đề xuất áp dụng thẻ nhận diện hỗ trợ trong giao thông công cộng.
Giải pháp thẻ nhận diện hỗ trợ tích hợp mã QR được đề xuất nhằm kết hợp nhận diện trực quan với công nghệ số. Thẻ có thể hiển thị nhu cầu hỗ trợ cơ bản, đồng thời mã QR cho phép truy cập các thông tin cần thiết như dạng khuyết tật, nhu cầu hỗ trợ, liên hệ khẩn cấp và lưu ý y tế. Người sử dụng cần được quyền lựa chọn mức độ chia sẻ thông tin để bảo đảm quyền riêng tư. Khi được quét, mã QR có thể giúp nhân viên giao thông, người dân hoặc hệ thống quản lý phản ứng kịp thời và phù hợp hơn. Trong tương lai, thẻ có thể kết nối với ứng dụng giao thông, bản đồ tiếp cận, định vị hành trình và cảnh báo điểm dừng.
4. Kết luận
Thông qua việc phân tích thực trạng tiếp cận dịch vụ công ích giao thông công cộng của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội, bài viết đã chỉ rõ các tiêu chí ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận dịch vụ công ích của người khuyết tật, đồng thời, đã đề xuất ra hệ thống giải pháp về hạ tầng giao thông, phương tiện vận tải, công nghệ số, hệ thống thông tin, nguồn nhân lực và nhận thức xã hội cùng tương tác và bổ trợ. Các giải pháp này không chỉ nhằm cải thiện khả năng tiếp cận giao thông công cộng cho người khuyết tật, mà còn góp phần định hình một hệ thống dịch vụ công ích mang tính bao trùm, nơi mọi cá nhân đều có thể tham gia vào đời sống xã hội một cách chủ động và bình đẳng. Đây cũng là cơ sở quan trọng để hướng tới mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành một đô thị văn minh, hiện đại và giàu tính nhân văn, trong đó việc bảo đảm quyền tiếp cận không còn là một giải pháp mang tính hỗ trợ, mà trở thành một tiêu chuẩn tất yếu trong quá trình phát triển.
Tài liệu tham khảo:
Báo cáo tổng hợp Đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên. (2026). Tiếp cận dịch vụ công ích của người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tài liệu nội bộ.
Quốc hội Việt Nam (2010). Luật Người khuyết tật năm 2010.
Sở Y tế Hà Nội (2025). Báo cáo số 6145/BC-SYT ngày 04/11/2025 về sơ kết Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 – 2025.
Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 1190/QĐ-TTg ngày 05/8/2020 phê duyệt Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 – 2030.
Trịnh Thị Tuyết Mai (22/8/2024). Quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2021). Kế hoạch số 239/KH-UBND ngày 08/12/2020 về trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 – 2030.



