Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh vì mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam

Promoting green economic growth for sustainable development in Vietnam

TS. Lê Thị Hồng Hạnh
Trường Đại học Điện lực

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu diễn biến phức tạp, chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh đã trở thành xu thế tất yếu và là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam – quốc gia chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh không chỉ là giải pháp ứng phó với các thách thức môi trường mà còn là yêu cầu quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Trên thực tế, mặc dù hệ thống chủ trương, chính sách và khung pháp lý về tăng trưởng xanh đã từng bước được hoàn thiện, song quá trình triển khai vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu bộ tiêu chí phân loại xanh thống nhất, hạn chế về nguồn lực tài chính và năng lực công nghệ. Do đó, việc nghiên cứu đề xuất một số giải pháp dưới góc độ quản lý nhà nước là việc làm cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế, thúc đẩy tín dụng xanh, huy động nguồn lực cho chuyển đổi xanh và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu năng lượng, góp phần thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam.

Từ khóa: Kinh tế xanh; tăng trưởng xanh; phát triển bền vững; quản lý nhà nước; Việt Nam.

Abstract: In the context of increasingly complex global climate change, the transition to a green economy model has become an inevitable trend and a key driver for enhancing the competitiveness of each nation. For Vietnam, a country highly vulnerable to the impacts of climate change, promoting green growth is not only a solution to environmental challenges but also a critical requirement for achieving sustainable development goals. In practice, although the system of policies, strategies, and legal frameworks for green growth has been gradually improved, the implementation process continues to face numerous challenges, including the absence of a unified green taxonomy, limitations in financial resources, and insufficient technological capacity. Therefore, conducting research and proposing solutions from a public administration and state management perspective is essential to further improve institutional frameworks, promote green finance and green credit, mobilize resources for the green transition, and accelerate the restructuring of the energy sector. These efforts will contribute to fulfilling international commitments on environmental protection while supporting the achievement of sustainable economic development objectives in Vietnam.

 Keywords: Green economy; green growth; sustainable development; state management; Vietnam.
1. Đặt vấn đề

Những năm gần đây, tăng trưởng kinh tế xanh đã trở thành một trong những định hướng trong chiến lược phát triển của Việt Nam. Nhiều chủ trương và chính sách quan trọng đã được ban hành nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm phát triển bền vững. Điều này khẳng định quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc hiện thực hóa mục tiêu hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách nhất định giữa định hướng chính sách và kết quả đạt được. Nhiều mục tiêu tăng trưởng xanh còn gặp khó khăn trong quá trình thực hiện do hạn chế về nguồn lực tài chính, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và sự phối hợp giữa các chủ thể có liên quan. Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chí đánh giá, cơ chế khuyến khích đầu tư xanh và các công cụ thị trường phục vụ chuyển đổi xanh vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Thực tế này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tăng trưởng kinh tế xanh, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
2. Một số vấn đề lý luận về kinh tế xanh và phát triển bền vững

Theo quan điểm của Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP), kinh tế xanh là nền kinh tế góp phần cải thiện phúc lợi con người và tài sản xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể các rủi ro môi trường và sự khan hiếm sinh thái. Dưới góc độ vận hành, đây là nền kinh tế có mức phát thải các-bon thấp, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và bảo đảm tính bao trùm, công bằng xã hội.

Khác với mô hình tăng trưởng truyền thống vốn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và tiêu dùng năng lượng hóa thạch, kinh tế xanh coi vốn tự nhiên như một loại tài sản kinh tế đặc biệt quan trọng cần được bảo tồn, tái tạo và phát triển. Theo đó, hệ sinh thái, đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên thiên nhiên không chỉ là đầu vào của quá trình sản xuất mà còn là nền tảng bảo đảm sự phát triển lâu dài của nền kinh tế và xã hội. Trong khi đó, phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nội hàm của phát triển bền vững được cấu thành từ ba trụ cột cơ bản gồm: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội, cùng với bảo vệ môi trường sinh thái. Ba trụ cột này có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau. Sự thiếu hụt hoặc mất cân đối ở bất kỳ trụ cột nào đều có thể làm suy giảm tính bền vững của quá trình phát triển.

Nếu phát triển bền vững được xem là mục tiêu tổng thể mà các quốc gia hướng tới thì kinh tế xanh chính là phương thức và động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đó. Thông qua việc chuyển đổi cơ cấu năng lượng, phát triển công nghệ sạch, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy các mô hình sản xuất, tiêu dùng bền vững, kinh tế xanh góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, tạo ra việc làm mới, nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bao trùm hơn. Qua đó, giúp giải quyết những hạn chế và mâu thuẫn của mô hình tăng trưởng truyền thống vốn đặt nặng mục tiêu kinh tế mà chưa quan tâm đầy đủ đến các yếu tố môi trường và xã hội.

Ngược lại, các nguyên tắc và mục tiêu của phát triển bền vững giữ vai trò định hướng cho quá trình phát triển kinh tế xanh. Đây là cơ sở để bảo đảm quá trình chuyển đổi xanh không chỉ hướng tới hiệu quả kinh tế và môi trường mà còn phải gắn với tiến bộ xã hội, công bằng và nâng cao phúc lợi cho người dân.

Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế xanh và bền vững không thể hoàn toàn dựa vào cơ chế thị trường mà cần có sự định hướng của Nhà nước. Vai trò của Nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế xanh vì mục tiêu phát triển bền vững được thể hiện trên ba phương diện sau:

Thứ nhất, Nhà nước thực hiện chức năng kiến tạo thể chế thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch và các tiêu chuẩn môi trường, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển của các mô hình kinh tế mới như: kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ và tài chính xanh.

Thứ hai, Nhà nước điều tiết nền kinh tế thông qua các công cụ kinh tế như: thuế môi trường, thuế các-bon, phí bảo vệ môi trường, tín dụng xanh và các chính sách ưu đãi đầu tư nhằm định hướng hành vi của doanh nghiệp và người tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường.

Thứ ba, Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt và kích hoạt các nguồn lực phát triển xanh thông qua đầu tư công vào hạ tầng xanh, năng lượng sạch, giao thông bền vững và nghiên cứu khoa học công nghệ. Thông qua đó, tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân và thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh một cách hiệu quả và bền vững.
3. Thực trạng phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam
3.1. Những kết quả đạt được

Một là, thể chế quản lý và hành lang pháp lý từng bước được định hình và hoàn thiện.

Thành tựu lớn nhất mang tính kiến tạo của Nhà nước trong thời gian qua là việc từng bước luật hóa và chiến lược hóa các mục tiêu tăng trưởng xanh. Dấu mốc quan trọng là“Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 2030, tầm nhìn 2050” (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ) đặt ra lộ trình rõ ràng về giảm cường độ phát thải khí nhà kính và xanh hóa các ngành kinh tế. Đặc biệt, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đi vào cuộc sống đã tạo ra một bước ngoặt lớn khi lần đầu tiên đưa quy định về “Kinh tế tuần hoàn” vào văn bản luật, buộc các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về vòng đời sản phẩm. Đây là nền tảng quản lý quan trọng giúp dịch chuyển tư duy điều hành từ trạng thái “xử lý phần ngọn” sang “kiểm soát và ngăn ngừa từ gốc”. Từ đó, “bước đầu hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới, sáng tạo, khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo tại các đô thị; tỉ lệ đô thị hóa năm 2025 đạt 45%”1.

Hai là, cơ cấu năng lượng và phát triển hạ tầng nguồn sạch từng bước được chuyển dịch.

Những năm qua, ngành năng lượng chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ của xu hướng phi carbon hóa. Việt Nam đã và đang trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về công suất lắp đặt năng lượng tái tạo. Do sự ưu đãi lớn về điều kiện tự nhiên cùng các cơ chế khuyến khích giá điện (hệ thống giá FIT), hàng loạt dự án điện mặt trời quy mô lớn và tổ hợp điện gió (cả trên bờ lẫn ngoài khơi) đã được hình thành tập trung tại các tỉnh khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ. Sự chuyển dịch này không chỉ giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn điện than gây ô nhiễm mà còn mở ra triển vọng nội địa hóa ngành công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng mới. Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước đã có những chủ trương và định hướng “Chú trọng đầu tư phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhất là công nghệ cao, xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia; ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử… tạo động lực đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế”2.

Ba là, chuyển biến nhận thức và hành động của thị trường.

Áp lực từ thị trường toàn cầu đã thúc đẩy làn sóng “xanh hóa” tự thân mạnh mẽ từ khối doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, nông sản và thủy sản. Để không bị loại khỏi các chuỗi cung ứng khắt khe của EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản, nhiều doanh nghiệp trong nước đã chủ động đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn, sử dụng nguyên liệu tái chế và áp dụng các tiêu chuẩn báo cáo phát triển bền vững. Song hành với đó, nhận thức của người tiêu dùng tại các đô thị lớn cũng có sự thay đổi rõ rệt; xu hướng lựa chọn thực phẩm hữu cơ, sản phẩm bao bì thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng đang dần định hình một lối sống xanh mới trong xã hội.

3.2. Một số hạn chế, bất cập

Thứ nhất, hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ và cơ chế thực thi còn chồng chéo.

Mặc dù chủ trương, chiến lược vĩ mô đã được ban hành song hệ thống văn bản hướng dẫn dưới luật chưa hoàn thiện và còn thiếu tính đồng bộ. Bên cạnh đó, “Một số luật, cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây cản trở đối với sự phát triển”3. Điển hình như khái niệm “vốn tín dụng xanh” hay “trái phiếu xanh” đã được nhắc đến nhiều năm nhưng việc triển khai trong hệ thống ngân hàng thương mại chưa đạt được hiệu quả như mong đợi do thiếu một công cụ quản lý then chốt: Bộ tiêu chí phân loại xanh quốc gia (Green Taxonomy). Việc thiếu quy định phân loại rõ ràng danh mục thế nào là dự án xanh khiến các tổ chức tài chính lúng túng trong thẩm định, phân bổ dòng vốn và giám sát rủi ro môi trường, dẫn đến tình trạng khung chính sách có nhưng thực tế dòng vốn vẫn tắc nghẽn.

Thứ hai, hạn chế về nguồn lực tài chính và sức hút dòng vốn đầu tư.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp cho các mục tiêu môi trường và hạ tầng xanh hiện nay chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ so với nhu cầu thực tế. Trong khi đó, việc huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài chất lượng cao gặp nhiều khó khăn. Các dự án kinh tế xanh, đặc biệt là hạ tầng năng lượng tái tạo hay xử lý rác thải công nghệ cao, đòi hỏi dòng vốn đầu tư ban đầu cực kỳ lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài hàng chục năm, trong khi chính sách giá điện hay cơ chế hợp tác công tư lại thường xuyên thay đổi hoặc chưa có hướng dẫn bù đắp rủi ro thỏa đáng. Điều này khiến các nhà đầu tư tư nhân giữ tâm lý e dè, thận trọng.

Thứ ba, hạn chế về trình độ công nghệ và sự thiếu hụt nhân lực xanh chuyên sâu.

Nền sản xuất của Việt Nam về cơ bản vẫn nằm ở phân khúc hạ nguồn của chuỗi giá trị, với trình độ công nghệ ở mức trung bình, tỷ lệ tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GDP còn cao. Điều này được Đảng ta xác định: “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực chính cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước”4.Việc chuyển đổi sang công nghệ sạch đòi hỏi chi phí bản quyền và thiết bị nhập khẩu đắt đỏ vượt quá năng lực của đại bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục và đào tạo nghề chưa kịp thích ứng để cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao; Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng các chuyên gia có kỹ năng chuyên sâu về kiểm toán năng lượng, vận hành lưới điện thông minh, định giá tài sản carbon hay chuyên viên thẩm định ESG.
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

Việt Nam xuất phát điểm là một quốc gia đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nên nhu cầu năng lượng và nguồn lực đầu vào cho phát triển kinh tế tăng trưởng theo cấp số nhân là điều khó tránh khỏi. Thêm vào đó, tích lũy tư bản của quốc gia còn mỏng, công nghệ cốt lõi phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài. Đồng thời, là một trong những rốn bão của thế giới, hàng năm Việt Nam phải dành một phần nguồn lực tài chính không nhỏ để khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ và biến đổi khí hậu, làm phân tán nguồn lực đầu tư dài hạn cho các dự án xanh.

Ở một số địa phương, căn bệnh “thành tích GDP” ngắn hạn vẫn còn tồn tại. Lãnh đạo cấp cơ sở đôi khi sẵn sàng “trải thảm đỏ” đón các dự án công nghiệp có nguy cơ ô nhiễm cao hoặc tiêu tốn tài nguyên để đổi lấy tăng trưởng số liệu kinh tế tức thời và giải quyết việc làm trước mắt. Bên cạnh đó, các vấn đề kinh tế xanh mang tính liên vùng (như quản lý lưu vực sông, xử lý rác thải liên tỉnh, quy hoạch năng lượng) thường bị nghẽn do sự chồng chéo nhiệm vụ giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng cùng chính quyền các địa phương.

4. Giải pháp thúc đẩy kinh tế xanh hướng tới phát triển bền vững
Một là, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và thể chế quản lý nhà nước.

Thể chế luôn đóng vai trò mở đường và định hình cho sự phát triển. Để giải quyết tình trạng khung chính sách vĩ mô thì rộng nhưng thực thi lại tắc nghẽn, Nhà nước cần tập trung vào hai nhiệm vụ cấp bách:

(1) Nhanh chóng ban hành và áp dụng đồng bộ Bộ tiêu chí phân loại xanh quốc gia. Đây là công cụ kỹ thuật pháp lý tối quan trọng, đóng vai trò làm “thước đo” chuẩn hóa để xác định các dự án, ngành nghề thực sự mang yếu tố xanh. Bộ tiêu chí này sẽ là căn cứ pháp lý cốt lõi để Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng thẩm định, phân bổ dòng vốn “tín dụng xanh”, cũng như phát hành “trái phiếu xanh” ra thị trường, tránh hiện tượng “tẩy xanh” của các doanh nghiệp;

(2) Lồng ghép các chỉ tiêu về tăng trưởng xanh vào Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hằng năm của từng địa phương. Cần thay đổi tư duy đánh giá năng lực điều hành của chính quyền cấp cơ sở; thay vì chỉ chú trọng vào chỉ số tăng trưởng GDP thuần túy, cần tích hợp các chỉ số xanh như: tỷ lệ giảm phát thải, mức độ tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm, hay tỷ lệ xử lý chất thải tuần hoàn. Điều này giúp định hướng lại hành vi điều hành của lãnh đạo địa phương, chấm dứt tình trạng đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Hai là, sử dụng hiệu quả các công cụ kinh tế và chính sách tài chính vĩ mô.

Nhà nước cần vận dụng linh hoạt “bàn tay hữu hình” thông qua cơ chế thị trường để điều tiết hành vi của các chủ thể kinh tế, theo đó cần:

(1) Xây dựng lộ trình áp dụng thuế carbon và tối ưu hóa hệ thống phí bảo vệ môi trường. Việc nội hóa các chi phí ngoại ứng tiêu cực (chi phí ô nhiễm) vào giá thành sản phẩm thông qua thuế carbon sẽ tạo áp lực kinh tế trực tiếp, buộc các doanh nghiệp phải chủ động đổi mới công nghệ, giảm phát thải nếu không muốn mất đi năng lực cạnh tranh về giá trên thị trường.

(2) Đột phá trong chính sách ưu đãi tài chính, thuế và đất đai cho khối đổi mới sáng tạo xanh. Cần ban hành các gói miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn, giảm tiền thuê đất và áp dụng cơ chế khấu hao nhanh đối với các dự án khởi nghiệp (startup) trong lĩnh vực công nghệ sạch, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn. Những ưu đãi này đóng vai trò là chất xúc tác nhằm giảm thiểu rủi ro ban đầu, thu hút dòng vốn tư nhân đổ vào các phân khúc kinh tế mới.
Ba là, đẩy mạnh phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ và công nghệ xanh.

Đầu tư công của Nhà nước phải giữ vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng và hiệu ứng mồi để kích hoạt các nguồn lực xã hội, trong đó: ưu tiên tối đa nguồn vốn đầu tư công và vốn trái phiếu chính phủ cho hạ tầng năng lượng sạch và lưới điện thông minh. Nhà nước cần tập trung giải quyết dứt điểm bài toán giải tỏa công suất cho các vùng lõi năng lượng tái tạo tại miền Trung và miền Nam bằng cách nâng cấp hệ thống truyền tải điện quốc gia. Đồng thời, cần đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống giao thông công cộng phát thải thấp và hạ tầng logistic xanh tại các đô thị đặc biệt, như: Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Qua đó, sẽ tạo ra một hệ sinh thái sẵn sàng, giúp hạ thấp chi phí chuyển đổi cho toàn bộ nền kinh tế.
Bốn là, nâng cao năng lực nguồn nhân lực xanh và đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

Chuyển đổi xanh là một hành trình dài hạn, đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo về con người và sự kết nối toàn cầu. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ có liên quan cần xây dựng các mã ngành đào tạo mới liên quan đến kinh tế xanh tại các trường đại học và hệ thống dạy nghề; đồng thời, hỗ trợ các doanh nghiệp kinh phí đào tạo lại cho người lao động dịch chuyển từ các ngành công nghiệp thâm dụng tài nguyên sang các ngành công nghiệp sạch. Cùng với đó, chủ động, tích cực tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ từ các định chế tài chính và tổ chức quốc tế lớn như: Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc. Sự hợp tác này không chỉ hướng đến việc tìm kiếm các khoản viện trợ không hoàn lại hay vốn vay ưu đãi, mà quan trọng hơn là tiếp nhận chuyển giao các công nghệ lõi độc quyền về lưu trữ năng lượng, thu hồi carbon, và học hỏi quy trình quản trị, vận hành thị trường tín chỉ carbon từ các nước phát triển.
5. Kết luận

Tăng trưởng kinh tế xanh không đơn thuần là một xu thế phát triển mang tính thời thượng, mà đã trở thành vấn đề mang tính sinh mệnh, là sự lựa chọn chiến lược tất yếu đối với tương lai phát triển của Việt Nam. Trong một thế giới đang định hình lại luật chơi bằng các rào cản kỹ thuật xanh nghiêm ngặt, việc kiên trì theo đuổi mô hình tăng trưởng cũ đồng nghĩa với việc tự loại mình ra khỏi dòng chảy văn minh và thịnh vượng của nhân loại. Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi xanh ban đầu có thể tạo ra những áp lực lớn về chi phí đầu tư và đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ trong cấu trúc quản lý. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận dưới lăng kính quản lý nhà nước mang tầm nhìn chiến lược, tăng trưởng xanh không phải là một gánh nặng tài chính mà ngược lại, chính là cơ hội vàng để Việt Nam đi tắt đón đầu. Đây là chìa khóa đột phá giúp tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm an ninh sinh thái và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI một cách bền vững nhất.

Chú thích:
1, 2, 3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 49, 51, 64, 65.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Báo cáo quốc gia nửa chặng đường thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) của Việt Nam.
2. Lê Xuân Đình (2023). Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về kinh tế xanh tại Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước số 326 (11/2023).
3. Trần Thị Minh Hằng (2024). Sử dụng công cụ tài chính trong điều tiết và thúc đẩy đầu tư xanh tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Tài chính, kỳ 1 tháng 4/2024.
4. Nguyễn Hồng Sơn (2022). Thúc đẩy tăng trưởng xanh hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh mới. Tạp chí Cộng sản số 994 (7/2022).
7. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
8. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050.
9. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/07/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030.