Directions for improving the socialist commune and ward model in Vietnam
ThS. Ngô Quế Lân
Đại học Bách khoa Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong kỷ nguyên phát triển mới, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa là cần thiết, tạo ra không gian phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, chuyển đổi số, hệ sinh thái kinh tế chia sẻ, gắn với chính quyền cấp xã theo hướng kiến tạo, phục vụ nhân dân. Bài viết phân tích cơ sở khoa học đề xuất một số định hướng hoàn thiện mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Từ khóa: Chính quyền cấp xã; xã, phường xã hội chủ nghĩa; xây dựng; hoàn thiện; mô hình.
Abstract: In this new era of development, building socialist communes and wards is essential to creating space for local socioeconomic development, developing modern technical infrastructure, advancing digital transformation, and fostering a sharing economy ecosystem—all in conjunction with commune-level governments that adopt a proactive, people-centered approach. This article analyzes the scientific basis for proposing several directions to refine the model of socialist communes and wards in our country today.
Keywords: Commune-level government; socialist communes and wards; development; refinement; model.
1. Đặt vấn đề
Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Xây dựng mô hình xã, phường XHCN là một bước đi nhằm đạt mục tiêu phát triển đã nêu trên và củng cố nền tảng phát triển chế độ XHCN của đất nước. Mô hình này không phải là sự quay trở lại phương thức tổ chức xã hội của thời kỳ trước đổi mới, mà là quá trình kiến tạo một không gian phát triển mới, nơi các thành tựu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, của khoa học – công nghệ và chuyển đổi số được dẫn dắt, tổ chức, hội tụ, vận hành theo các định hướng, giá trị xã hội công bằng, dân chủ, bền vững dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Yêu cầu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng mô hình thí điểm này là cần thiết, trong đó cần làm rõ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, quy luật phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong phát triển mô hình này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện mô hình xã, phường XHCN hiện nay, góp phần khẳng định giá trị phát triển của chế độ XHCN ở nước ta.
2. Cơ sở lý khoa học xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa
2.1. Cơ sở lý luận về xây dựng mô hình xã, phường XHCN ở nước ta
Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng là nền tảng lý luận để xây dựng mô hình xã, phường XHCN ở nước ta.
Theo C. Mác, sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử – tự nhiên, trong đó lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và biến đổi của quan hệ sản xuất1. Chủ nghĩa xã hội không phải là một mô hình được thiết kế theo ý chí chủ quan, mà là giai đoạn phát triển tất yếu tiếp theo của xã hội khi lực lượng sản xuất đạt trình độ cao, của cải xã hội được tạo ra với năng suất vượt trội và những điều kiện vật chất cho sự phát triển toàn diện con người.
Nếu C. Mác luận giải tính tất yếu của sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản thì V.I. Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ trong điều kiện xây dựng nhà nước XHCN. V.I. Lênin cho rằng: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi một dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”2.
Theo Lênin, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử lâu dài, phức tạp, trong đó tồn tại đồng thời nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và nhiều yếu tố của xã hội cũ xen lẫn với những nhân tố của xã hội mới. Đây là thời kỳ “đấu tranh giữa cái mới và cái cũ”. Lý luận của Lênin cho thấy, trong thời kỳ quá độ cần cho phép sự tồn tại của nhiều hình thức tổ chức kinh tế khác nhau, đồng thời, từng bước phát huy vai trò quản lý của nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng để định hướng sự phát triển theo mục tiêu XHCN.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh khẳng định: “xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là chủ nghĩa xã hội”3. Theo người: “công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự của nhân dân ta”4.
Cương lĩnh bổ sung, phát triển đất nước (năm 2011) của Đảng khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”5.
Đảng tiếp tục phát triển và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để tạo dựng lý luận phát triển XHCN trong thời kỳ hòa bình. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước, với mô hình kế hoạch hoá tập trung như Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu.
Về bản chất, mô hình này mở rộng công hữu, được xem như tiêu chí quan trọng nhất của quá trình xây dựng CNXH. Trong quan hệ quản lý, Nhà nước trực tiếp quyết định phần lớn hoạt động sản xuất, phân phối và lưu thông hàng hóa thông qua hệ thống chỉ tiêu kế hoạch và mệnh lệnh hành chính. Trong quan hệ phân phối, xu hướng bình quân hóa được áp dụng khá phổ biến, chưa gắn chặt với năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động.
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trong tư duy phát triển lý luận của Đảng. Đảng chủ trương đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang phát triển nền kinh tế hàng hóa có nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Đổi mới tư duy này không phải là sự thay đổi mục tiêu xây dựng CNXH mà là sự đổi mới phương thức thực hiện. Đổi mới kinh tế theo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, gắn với sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Từ đó, tạo nên sự giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất gắn với quyền tự chủ của các chủ thể trên thị trường. Nguồn lực và sức sáng tạo của xã hội được phát huy, thành phần kinh tế tư nhân phát triển nhanh, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp mạnh mẽ vào tăng trưởng GDP, hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng trên quy mô toàn cầu, chất lượng cuộc sống được nâng cao, quốc phòng và an ninh được đảm bảo.
Tổng kết thành tựu của công cuộc đổi mới, Đảng đã đúc kết bài học về “bốn kiên định”: kiên định nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên đinh mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng.
Bốn kiên định thể hiện sự thống nhất giữa mục tiêu chiến lược và phương thức thực hiện con đường đi lên CNXH ở nước ta. Điều này cũng là cơ sở lý luận để xây dựng mô hình xã, phường XHCN. Mô hình này không phải là sự phủ nhận nền kinh tế thị trường mà là sự cụ thể hóa mức độ phát triển cao của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong điều kiện lực lượng sản xuất mới được hình thành bởi chuyển đổi số, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Hiện nay, việc nghiên cứu mô hình xã, phường XHCN cần được đặt trong chính logic của thời kỳ quá độ. Mô hình này không nhằm thay thế ngay toàn bộ phương thức tổ chức kinh tế – xã hội hiện hành, mà là quá trình tạo lập những “không gian phát triển tiên phong”, nơi các điều kiện vật chất, thể chế và quản trị hội tụ để kiến tạo phát triển quốc gia, để thử nghiệm những phương thức tổ chức mới phù hợp với định hướng XHCN. Sau khi được kiểm nghiệm bằng thực tiễn, các kinh nghiệm thành công mới từng bước được tổng kết và nhân rộng. Đây cũng chính là phương pháp phát triển phù hợp với quan điểm “xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan” mà Đảng ta luôn nhấn mạnh trong quá trình đổi mới.
2.2. Cơ sở thực tiễn phát triển mô hình xã, phường XHCN ở nước ta
Tiến trình phát triển của đất nước ta đã và đang hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để từng bước nghiên cứu và triển khai mô hình xã, phường XHCN. Cụ thể:
Một là, những thành tựu của thực tiễn gần 40 năm đổi mới.
Công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (năm 1986) của Đảng đã tạo dựng nền tảng vật chất và thể chế để xây dựng mô hình mô hình xã, phường XHCN. Từ một nước nghèo, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình khá. Năm 2025, quy mô GDP đã đạt hơn 500 tỷ USD và GDP bình quân đạt khoảng 5,020 USD/người/năm6. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển năng động, nhiều tập đoàn kinh tế trong nước có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
Những thành tựu đó đã tạo ra tiền đề vật chất để chuyển mục tiêu phát triển đất nước từ “thoát nghèo và phát triển” sang mục tiêu “phát triển nhanh và bền vững”. Trong bối cảnh đó, xây dựng mô hình thí điểm xã, phường XHCN không nhằm thay đổi bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mà nhằm từng bước xây dựng CNXH từ cấp cơ sở, nơi người dân trực tiếp sinh sống, lao động và thụ hưởng thành quả phát triển.
Hai là, những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số toàn diện.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, mỗi hình thái kinh tế – xã hội đều gắn với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Ngày nay, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật, công nghệ chuỗi khối và các công nghệ số đang tạo ra những điều kiện vật chất – kỹ thuật mà các giai đoạn trước chưa từng có, làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị xã hội và đời sống con người. Những thành tựu đó không chỉ tạo ra năng suất lao động cao hơn mà còn cho phép phát triển cộng đồng dân cư với trình độ quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn rất nhiều so với trước đây.
Sự phát triển của khoa học – công nghệ chính là biểu hiện tập trung của sự phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra công cụ mới để phục vụ nhân dân, công khai minh bạch, bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ công và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước. Đó là nền tảng về kỹ thuật để xây dựng mô hình xã, phường XHCN như một cộng đồng văn minh, nơi mọi hoạt động đều được hỗ trợ bởi hạ tầng số hiện đại. Chính quyền hoạt động theo nguyên tắc minh bạch, dữ liệu được quản trị tập trung, người dân có thể thực hiện hầu hết thủ tục hành chính trực tuyến, còn doanh nghiệp được tiếp cận các dịch vụ công nhanh chóng, thuận lợi và chi phí thấp.
Ba là, bối cảnh lịch sử hiện nay đòi hỏi mô hình phát triển mới từ cấp cơ sở.
Lịch sử cho thấy những bước nhảy chuyển hoá về chất của các quốc gia thường xuất hiện khi nhiều điều kiện thuận lợi hội tụ cùng một thời điểm. Đối với Việt Nam, có thể nhận thấy ít nhất ba điều kiện lớn đang đồng thời xuất hiện, đó là, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển với khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045. Đây là mục tiêu có tính chiến lược, đòi hỏi không chỉ tăng trưởng nhanh mà còn phải đổi mới mô hình quản trị và tổ chức xã hội. Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ dân số vàng, lực lượng lao động trẻ có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học – công nghệ, kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, thông qua quá trình hội nhập sâu rộng, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư quốc tế.
Từ ba điều kiện trên có thể thấy, nếu không chủ động nghiên cứu các mô hình phát triển tiên tiến ngay trong giai đoạn hiện nay, thì khi các lợi thế về dân số, khoa học – công nghệ và môi trường quốc tế thay đổi, chi phí cải cách sẽ lớn hơn rất nhiều. Nói cách khác, việc xây dựng mô hình xã, phường XHCN không chỉ là một yêu cầu của lý luận mà còn là một lựa chọn mang tính thực tiễn nhằm tận dụng “cơ hội lịch sử” để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.
Như vậy, xét trên cả ba phương diện: nền tảng vật chất kỹ thuật của gần bốn mươi năm đổi mới, sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ và bối cảnh phát triển mới của đất nước, có thể khẳng định rằng Việt Nam đang hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để nghiên cứu và từng bước xây dựng mô hình xã, phường XHCN. Việc xây dựng này góp phần bổ sung thực tiễn cho lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Bốn là, thành tựu phát triển lực lượng sản xuất.
Sau gần 40 năm đổi mới, lực lượng sản xuất của Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, song vẫn tồn tại ở nhiều cung bậc trình độ khác nhau.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới đối với nhiều mặt hàng như gạo, cà phê, hồ tiêu, điều, thủy sản và trái cây nhiệt đới. Nông nghiệp đang chuyển mạnh từ tư duy sản lượng sang tư duy kinh tế nông nghiệp chất lượng cao, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh và chuyển đổi số.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Việt Nam đã hình thành các trung tâm sản xuất điện tử, cơ khí, chế biến và chế tạo có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các địa phương như Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai và Bình Dương đã trở thành cực tăng trưởng công nghiệp của cả nước.
Trong lĩnh vực dịch vụ, kinh tế số có tốc độ phát triển diễn ra rất nhanh. Thương mại điện tử, thanh toán số, dịch vụ tài chính số và các nền tảng công nghệ đang tạo nên phương thức sản xuất và tiêu dùng mới. Năm 2025, kinh tế số tăng trưởng 14,6% và đóng góp 14% vào GDP của Việt Nam7.
Năm là, thành tựu về quan hệ sản xuất.
Đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là sự tồn tại đồng thời của nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế. Trong đó, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ những lĩnh vực then chốt; kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố; kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; khu vực đầu tư nước ngoài là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Sáu là, về thể chế.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, hướng đến mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ chiến lược. Hiện nay, thể chế đang là điểm nghẽn, cần tích cực giải toả để mở đường cho sự phát triển. Vì vậy, mô hình xã, phường XHCN sẽ là mô hình tiên phong về chuyển đổi thể chế tại cơ sở, xây dựng chính quyền số, cải cách thủ tục hành chính, phục vụ người dân và đảm bảo hiệu lực của pháp luật
Có thể thấy, sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự hoàn thiện của quan hệ sản xuất và quá trình đổi mới thể chế ở Việt Nam ra những tiền đề quan trọng để xây dựng mô hình xã, phường XHCN. Đây là bước phát triển tiếp theo trong quá trình từng bước xây dựng Chủ nghĩa xã hội từ cấp cơ sở, thông qua việc kiến tạo những cộng đồng văn minh, có năng suất cao và quản trị hiện đại trên nền tảng chuyển đổi số, chất lượng sống tốt và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
3. Định hướng hoàn thiện mô hình xã, phường XHCN của nước ta
Hoàn thiện mô hình xã, phường XHCN cần được triển khai theo phương châm thận trọng, có lộ trình, có tổng kết thực tiễn, không tạo nên sự mất cân bằng giữa các địa phương, không làm xáo trộn hệ thống chính quyền địa phương hiện hành. Các giải pháp cần hình thành và triển khai theo hướng toàn diện, hệ thống, đồng bộ và hội tụ các lợi thế phát triển đặc thù của từng địa phương.
Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển xã, phường XHCN.
Phát triển xã, phường XHCN cần dựa trên kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ để trở thành nơi thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, chứ không đơn thuần là nơi cư trú sinh hoạt chất lượng cao của một cộng đồng dân cư. Điều này đòi hỏi các xã, phường XHCN phải có tiềm năng phát triển con người và kết cấu hạ tầng đồng bộ, bao gồm hệ thống giao thông kết nối thuận lợi, hạ tầng số hiện đại, điện, nước, viễn thông ổn định, hạ tầng logistics và các thiết chế phục vụ sản xuất, kinh doanh. Đây là điều kiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ về kinh tế, sản xuất kinh doanh, đồng thời thu hút các hoạt động đầu tư và đổi mới sáng tạo.
Xây dựng xã, phường XHCN cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Trong đó, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất và các tổ chức khoa học – công nghệ được kết nối thông qua nền tảng số để chia sẻ dữ liệu, giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đối với khu vực nông thôn, có thể hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao kết hợp chế biến, logistics và du lịch sinh thái. Đối với khu vực đô thị, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ số, thương mại điện tử và các ngành công nghiệp sáng tạo.
Cần dựa trên lợi thế so sánh tự nhiên và xã hội của địa phương để kiến tạo hệ sinh thái kinh tế cho xã, phường XHCN. Do đó, xây dựng mô hình này cần căn cứ vào lợi thế so sánh về tự nhiên và xã hội của từng địa phương, tránh tư duy bình quân hoặc triển khai theo phong trào. Trong bối cảnh sắp xếp lại đơn vị hành chính, việc hình thành các xã, phường có quy mô diện tích và dân số phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn để xây dựng các hệ sinh thái kinh tế có sức lan tỏa, thay vì những đơn vị hành chính quá nhỏ, thiếu không gian phát triển.
Thứ hai, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.
Một yêu cầu quan trọng của xây dựng mô hình xã, phường XHCN là phát triển kinh tế gắn với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Do đó, mọi thành quả tăng trưởng cần được chuyển hóa thành điều kiện sống tốt hơn, thông qua hệ thống dịch vụ công chất lượng cao và khả năng tiếp cận bình đẳng của người dân.
Xã, phường XHCN cần bảo đảm người dân được tiếp cận thuận lợi với dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao và an sinh xã hội. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa mỗi xã, phường XHCN đều phải đầu tư đầy đủ tất cả các công trình quy mô lớn. Thay vào đó, chúng ta có thể tổ chức mạng lưới dịch vụ theo mạng lưới kết nối với xã, phường lân cận để người dân có thể tiếp cận nhanh chóng thông qua hệ thống giao thông công cộng thuận tiện và hạ tầng số đồng bộ.
Xây dựng xã, phường XHCN cần bảo đảm môi trường sống an toàn, xanh và bền vững. Quy hoạch phát triển của địa phương phải dành tỷ lệ hợp lý cho cây xanh, mặt nước, không gian công cộng và các công trình văn hóa cộng đồng; đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý môi trường, cảnh báo thiên tai và bảo đảm an ninh, trật tự. Đây là những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng phát triển con người, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước đã xác định.
Cần quan tâm xây dựng môi trường sống thân thiện với người cao tuổi, trẻ em người khuyết tật và yếu thế; phát triển các dịch vụ chăm sóc dài hạn trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào quá trình già hóa dân số. Đồng thời, cần hình thành cộng đồng dân cư có ý thức chấp hành pháp luật, tinh thần tương trợ, đoàn kết và trách nhiệm xã hội, tạo nên nền tảng văn hóa của một xã hội phát triển.
Thứ ba, hoàn thiện năng lực phục vụ nhân dân của chính quyền địa phương xã, phường XHCN.
Thành công trong xây dựng mô hình xã, phường XHCN phụ thuộc trước hết vào chất lượng quản trị của chính quyền địa phương. Vì vậy, chính quyền xã, phường XHCN cần được xây dựng theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và thực sự phục vụ nhân dân.
Trước hết, chính quyền xã, phường XHCN thực sự là chính quyền số, trong đó, hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất phục vụ quản lý dân cư, đất đai, đầu tư, môi trường, an sinh xã hội và cung cấp dịch vụ công. Trí tuệ nhân tạo hỗ trợ cán bộ, công chức trong xử lý hồ sơ, phân tích dữ liệu, dự báo và ra quyết định, qua đó nâng cao hiệu suất của bộ máy hành chính và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Chính quyền cần phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và “dân là gốc”. Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân xã, phường XHCN duy trì kết nối thường xuyên với người dân thông qua kênh trực tiếp và trực tuyến. Phát huy dân chủ cơ sở không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền.
Cần bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với quá trình xây dựng và vận hành xã, phường XHCN. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa nền tảng, nhằm giữ vững định hướng XHCN, bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng cần được thực hiện thông qua việc định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, tăng cường kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
4. Kết luận
Nghiên cứu hoàn thiện mô hình xã, phường XHCN là yêu cầu cấp thiết, có cơ sở khoa học vững chắc. Xét dưới góc độ kinh tế chính trị Mác – Lênin, đây là biểu hiện của yêu cầu tiếp tục điều chỉnh quan hệ tổ chức quản lý xã hội, để phù hợp hơn với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất. Xây dựng xã, phường XHCN không phải là tạo ra một mô hình tổ chức hành chính mới, mà là xây dựng một mô hình tổ chức phát triển có khả năng đồng hành với sự vận động của lực lượng sản xuất mới. Đây là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
Mô hình xã, phường XHCN ở nước ta cần được xác định là một bước đi trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được triển khai trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chứ không phải là sự quay trở lại mô hình kế hoạch hóa tập trung trước đây. Mô hình này là biểu hiện thực tiễn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; phát huy đầy đủ vai trò của các thành phần kinh tế; lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao làm động lực phát triển; đồng thời bảo đảm vai trò kiến tạo của Nhà nước và vai trò lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu của mô hình xã, phường XHCN là xây dựng không gian phát triển kinh tế – xã hội bền vững, cộng đồng dân cư văn minh, chính quyền hiện đại, môi trường sống chất lượng cao, người dân có điều kiện phát triển toàn diện, được tham gia và thụ hưởng công bằng thành quả phát triển của đất nước.
Xây dựng mô hình xã, phường XHCN cần được thực hiện theo nguyên tắc thí điểm, có lộ trình, có đánh giá và tổng kết thực tiễn. Việc lựa chọn phát triển mô hình phải căn cứ vào điều kiện của từng địa phương, không áp dụng theo phong trào hoặc hành chính hoá. Trong quá trình phát triển, cần chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển hệ sinh thái kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; nâng cao chất lượng an sinh xã hội; xây dựng chính quyền số, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Thực tiễn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học và kinh nghiệm quản trị để từng bước hoàn thiện chính sách, góp phần cụ thể hóa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, thịnh vượng, hùng cường trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Giáo trình Triết học Mác-Lênin. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. V.I. Lênin toàn tập (2005).Tập 30. H. NXB Chính trị quốc gia. tr. 159 – 160.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật. tr. 432.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật. tr. 445.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 69. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
6. GDP (current US$) – Viet Nam. https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.CD?locations=VN;
7. Tăng thêm 72 tỷ USD, kinh tế số đóng góp hơn 14% vào GDP 2025. https://vneconomy.vn/tang-them-72-ty-usd-kinh-te-so-dong-gop-hon-14-vao-gdp-2025.htm, ngày 06/01/2026.
Tài liệu tham khảo:
1. Hội thảo khoa học “Xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/22/hoi-thao-khoa-hoc-xay-dung-xa-phuong-xa-hoi-chu-nghia-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-nhung-van-de-ly-luan-va-thuc-tien/, ngày 22/5/2026.
2. Tăng cường phối hợp truyền thông trong xây dựng phường xã hội chủ nghĩa ở Lào Cai. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/03/tang-cuong-phoi-hop-truyen-thong-trong-xay-dung-phuong-xa-hoi-chu-nghia-o-lao-cai/, ngày 03/4/2026.



