Social prevention of drug-related crime in urban entertainment service environments: evidence from Ho Chi Minh City
Nguyễn Thị Thuỳ Linh
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
(Quanlynhanuoc.vn) – Trước tình hình tội phạm ma túy diễn biến phức tạp, đặc biệt là nguy cơ lợi dụng các cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí đô thị để thực hiện hành vi phạm tội, công tác phòng ngừa xã hội và quản lý hành chính về trật tự xã hội có vai trò then chốt. Từ thực tiễn TP. Hồ Chí Minh, bài viết phân tích cơ sở lý luận, nhận diện thực trạng, các nhóm nguy cơ trong môi trường dịch vụ giải trí đô thị và làm rõ vai trò của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội của Công an TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa xã hội đối với tội phạm ma túy, góp phần xây dựng môi trường giải trí an toàn, lành mạnh, đồng thời phục vụ mục tiêu xây dựng TP. Hồ Chí Minh không sử dụng ma túy.
Từ khóa: Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; phòng ngừa xã hội; dịch vụ giải trí đô thị; tội phạm ma túy; TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: Given the complex nature of drug-related crime, particularly the risk of urban entertainment venues being exploited to commit criminal acts, social prevention efforts and administrative management of public order play a pivotal role. Drawing on the practical experience of Ho Chi Minh City, this article analyzes the theoretical foundations, identifies the current situation and risk groups within the urban entertainment service sector, and clarifies the role of the Public Order Police Force under the Ho Chi Minh City Police Department. Based on this analysis, the article proposes several solutions to enhance the effectiveness of social prevention of drug-related crimes, thereby contributing to creating a safe and healthy entertainment environment and supporting the goal of building a drug-free Ho Chi Minh City.
Keywords: Police for administrative management of social order; social prevention; urban entertainment services; drug-related crimes; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình đô thị hóa, dịch vụ giải trí đã trở thành một bộ phận của kinh tế ban đêm, du lịch, tiêu dùng văn hóa và giao tiếp xã hội. Đối với TP. Hồ Chí Minh – đô thị đặc biệt, trung tâm giao thương, dịch vụ, lao động, lưu trú và kết nối quốc tế của cả nước – các loại hình karaoke, vũ trường, bar, pub, club, lounge, nhà hàng có âm nhạc, cơ sở lưu trú, căn hộ cho thuê ngắn hạn và không gian tổ chức sự kiện tạo ra nhu cầu chính đáng về hưởng thụ văn hóa, nghỉ ngơi, gặp gỡ, giao lưu của người dân. Tuy nhiên, chính đặc điểm hoạt động về đêm, tập trung đông người, giao tiếp mở, có phòng kín, âm thanh lớn, ánh sáng yếu, khách vãng lai nhiều và mức độ biến động nhân sự cao đã làm cho một bộ phận người dân bị lợi dụng để mua bán, tàng trữ, chứa chấp, tổ chức sử dụng hoặc lôi kéo sử dụng trái phép chất ma túy.
Báo cáo của UNODC cho thấy, năm 2023 có 316 triệu người sử dụng ma túy, không kể rượu và thuốc lá; cần sa vẫn là chất được sử dụng rộng rãi nhất với 244 triệu người, tiếp theo là nhóm opioid, amphetamine, cocaine và ecstasy1. Cũng theo UNODC, thị trường ma túy tổng hợp tiếp tục mở rộng do chi phí sản xuất thấp, dễ che giấu, dễ phân tán và ít phụ thuộc vào vùng trồng tự nhiên; các vụ thu giữ chất kích thích dạng amphetamine đạt mức kỷ lục vào năm 2023 và chiếm gần một nửa tổng lượng ma túy tổng hợp bị thu giữ trên toàn cầu2. Đối với khu vực Đông Nam Á, báo cáo năm 2025 của UNODC ghi nhận lượng methamphetamine bị thu giữ năm 2024 đạt 236 tấn, tăng 24% so với năm 2023; số lượng bị thu giữ chỉ phản ánh phần đã được phát hiện, trong khi áp lực thẩm lậu vào thị trường tiêu thụ còn lớn hơn nhiều3.
Những số liệu trên cho thấy phòng, chống ma túy trong đô thị đòi hỏi phải kiểm soát không gian xã hội nơi nguồn cầu, cơ hội phạm tội và sự thiếu vắng cơ chế kiểm soát. Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa ma túy, trong các chương trình phòng ngừa hiệu quả phải dựa trên bằng chứng khoa học, có tác động đồng thời đến gia đình, nhà trường, cộng đồng, nhóm nguy cơ và môi trường xã hội; cần đầu tư cho phòng ngừa giúp tiết kiệm chi phí y tế, chi phí xã hội và chi phí tội phạm trong tương lai4.
Ở Việt Nam, năm 2024, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy toàn quốc đã đấu tranh thành công 29.928 vụ, bắt giữ 51.938 đối tượng phạm tội về ma túy, thu giữ 60 kg thuốc phiện, 680 kg heroin, gần 2,3 tấn cần sa, 3,3 tấn và 3,3 triệu viên ma túy tổng hợp, 138 khẩu súng cùng nhiều tang vật có liên quan. Năm 2025, số vụ phạm tội về ma túy trên toàn quốc là 25.753 vụ, giảm 4.175 vụ so với năm 2024, tương ứng giảm 13,95%5. Riêng TP. Hồ Chí Minh, trong năm 2024, Công an Thành phố đã đấu tranh, khám phá 3.482 vụ, phát hiện 8.996 đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về ma túy, thu giữ trên 1,4 tấn ma túy các loại, khởi tố 3.095 vụ với 6.280 bị can6. Đây là những số liệu cho thấy, tính chất phức tạp, quy mô lớn và mức độ liên kết của nhóm tội phạm ma túy trên địa bàn Thành phố.
2. Nhận thức về phòng ngừa xã hội trong môi trường dịch vụ giải trí đô thị
Phòng ngừa xã hội đối với tội phạm ma túy là tổng thể các biện pháp tác động vào nguyên nhân, điều kiện xã hội làm phát sinh, duy trì hoặc dung dưỡng hành vi liên quan đến ma túy. Khác với phòng ngừa nghiệp vụ, do lực lượng chuyên trách thực hiện bằng các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật, phòng ngừa xã hội có chủ thể rộng hơn, như: cấp ủy, chính quyền, Công an nhân dân, gia đình, nhà trường, doanh nghiệp, đoàn thể, khu phố, tổ dân phố, cơ sở kinh doanh và người dân. Trọng tâm của phòng ngừa xã hội là làm suy giảm nguồn cầu, làm giảm cơ hội phạm tội, củng cố chuẩn mực pháp luật và tạo năng lực tự phòng ngừa trong từng cộng đồng, từng thiết chế và từng cơ sở.
Các hướng dẫn của Liên Hợp quốc về phòng ngừa tội phạm coi phòng ngừa là những chiến lược và biện pháp nhằm giảm nguy cơ tội phạm xảy ra bằng cách tác động đến các nguyên nhân đa dạng của tội phạm; đồng thời nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Nhà nước, sự phối hợp liên ngành, sự tham gia của cộng đồng, khu vực tư nhân và xã hội dân sự7. Cách tiếp cận này có ý nghĩa trực tiếp đối với môi trường giải trí đô thị rằng, Nhà nước không thể và không nên thay thế toàn bộ trách nhiệm tự quản của cơ sở kinh doanh, gia đình, cộng đồng; ngược lại, cộng đồng và doanh nghiệp cũng không thể tự phòng ngừa nếu thiếu khung pháp lý, dữ liệu, hướng dẫn nghiệp vụ và sự hỗ trợ của cơ quan Công an.
Từ lý luận tội phạm học, các cơ sở dịch vụ giải trí có thể bị lợi dụng khi hội tụ ba yếu tố gồm người có nhu cầu hoặc ý định sử dụng, tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng ma túy; môi trường thuận lợi về không gian, thời gian, cách bố trí phòng, âm thanh, ánh sáng, lối ra vào và mức độ ẩn danh; sự suy yếu của người giám hộ hoặc cơ chế kiểm soát chính thức, phi chính thức8. Ba yếu tố này cho thấy, phòng ngừa phải đồng thời hướng vào 3 mục tiêu: giảm cầu ma túy, giảm cơ hội lợi dụng cơ sở, tăng năng lực kiểm soát hợp pháp của cộng đồng, chủ cơ sở và cơ quan quản lý. Nếu chỉ xử lý hình sự mà không cải biến môi trường xã hội, cơ sở vi phạm có thể bị triệt xóa nhưng điều kiện phát sinh vi phạm vẫn có thể dịch chuyển sang địa điểm khác, hình thức khác hoặc nền tảng giao tiếp khác.
Trong phòng ngừa xã hội đối với tội phạm ma túy, cần phân biệt rõ giữa cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí hoạt động hợp pháp và địa điểm bị lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Không thể đồng nhất toàn bộ các cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí với địa bàn tiềm ẩn tội phạm; đồng thời, cũng không thể lấy quyền tự do kinh doanh làm căn cứ để xem nhẹ việc bảo đảm các điều kiện về an ninh, trật tự. Vì vậy, quản lý nhà nước cần được thực hiện theo hướng quản lý dựa trên nguy cơ, tập trung nhận diện và kiểm soát các yếu tố làm gia tăng khả năng phát sinh tội phạm, như: loại hình kinh doanh, khung thời gian hoạt động, đặc điểm địa bàn, lịch sử chấp hành pháp luật, phương thức tổ chức dịch vụ, nhóm khách hàng và mô hình vận hành của cơ sở. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý triển khai các biện pháp hướng dẫn, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, cảnh báo và hậu kiểm phù hợp với mức độ nguy cơ của từng cơ sở. Cách tiếp cận này vừa góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực quản lý nhà nước, vừa hạn chế tình trạng kiểm tra dàn trải, tránh gây ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ sở chấp hành tốt pháp luật, đồng thời tập trung kiểm soát đối với những cơ sở có nguy cơ cao bị lợi dụng để thực hiện các hành vi phạm tội về ma túy.
Trong quá trình đó, lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nếu lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy là mũi nhọn trong đấu tranh, phát hiện, bóc gỡ đường dây, xử lý đối tượng phạm tội thì lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội là tuyến phòng ngừa hành chính có khả năng tác động sớm vào các điều kiện pháp lý, điều kiện vận hành, thông tin cư trú, lưu trú, nhân sự và trật tự tại cơ sở kinh doanh. Đây là lực lượng trực tiếp quản lý nhiều lĩnh vực có liên quan đến môi trường dịch vụ giải trí đô thị, như: quản lý cư trú; quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; quản lý căn cước; hướng dẫn Cảnh sát khu vực, Công an cấp xã trong công tác quản lý địa bàn, bảo đảm an ninh, trật tự.
Vai trò của lực lượng này trong phòng ngừa tội phạm ma túy trong môi trường dịch vụ giải trí đô thị thể hiện trên một số phương diện chủ yếu. Một là, quản lý điều kiện pháp lý của cơ sở kinh doanh, bao gồm hồ sơ, giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý; phương án bảo đảm an ninh, trật tự và cơ chế phối hợp với cơ quan Công an. Hai là, kiểm tra, giám sát việc duy trì các điều kiện an ninh, trật tự trong quá trình hoạt động, kịp thời phát hiện tình trạng buông lỏng quản lý, biến tướng loại hình kinh doanh, cho thuê lại, khoán trắng cho người quản lý ca hoặc thiếu kiểm soát đối với nhân viên, khách ra vào. Ba là, xây dựng và cập nhật dữ liệu quản lý cơ sở, bản đồ nguy cơ, lịch sử vi phạm, phản ánh của Nhân dân, kết quả kiểm tra và tình trạng khắc phục sau kiểm tra. Bốn là, kết nối Công an cấp xã, Cảnh sát khu vực, khu phố, tổ dân phố, chủ cơ sở và người dân để hình thành mạng lưới phòng ngừa xã hội ngay tại địa bàn cơ sở. Năm là, chuyển hóa thông tin hành chính thành thông tin phục vụ phòng ngừa, qua đó phân loại dấu hiệu cần hướng dẫn, nhắc nhở, xử phạt hành chính hoặc chuyển giao cho lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy để xác minh, đấu tranh, xử lý theo quy định của pháp luật.
Cơ sở pháp lý cho vai trò này ngày càng rõ ràng hơn. Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, trong đó xác lập trách nhiệm quản lý nhà nước, trách nhiệm của cơ sở kinh doanh, chế độ kiểm tra, thanh tra định kỳ hoặc đột xuất của cơ quan Công an đối với cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự. Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường và Nghị định số 148/2024/NĐ-CP ngày 12/11/2024 của Chính phủ tiếp tục điều chỉnh hoạt động karaoke, vũ trường như những loại hình có yêu cầu chặt chẽ về điều kiện kinh doanh, an ninh, trật tự và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh. Đáng chú ý, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP ngày 13/2/2026 của Chính phủ sửa đổi các nghị định liên quan đến điều kiện an ninh, trật tự, thúc đẩy số hóa hồ sơ, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và phân cấp một số thẩm quyền, qua đó tạo điều kiện để công tác quản lý hành chính chuyển từ thủ công sang số hóa.
Tóm lại, phòng ngừa xã hội trong môi trường dịch vụ giải trí đô thị là quá trình các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp thực hiện các biện pháp kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, giáo dục và quản lý xã hội nhằm loại trừ hoặc hạn chế các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm về ma túy, đồng thời xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn và tuân thủ pháp luật. Trong quá trình đó, lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an TP. Hồ Chí Minh giữ vai trò nòng cốt trong quản lý nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ giải trí, thông qua việc quản lý điều kiện an ninh, trật tự; hướng dẫn, kiểm tra việc chấp hành pháp luật; phát huy trách nhiệm của chủ cơ sở và người lao động; kết nối, chia sẻ thông tin với các lực lượng chức năng và chính quyền cơ sở để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các yếu tố nguy cơ, không để cơ sở kinh doanh hợp pháp bị lợi dụng làm địa điểm tổ chức, chứa chấp hoặc phát sinh các hành vi phạm tội về ma túy.
3. Thực trạng phòng ngừa xã hội đối với tội phạm ma túy tại TP. Hồ Chí Minh
Thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, công tác phòng ngừa xã hội đối với tội phạm ma túy trong môi trường dịch vụ giải trí đô thị chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố đặc thù. Trước hết là quy mô dân cư lớn, mật độ cư trú và lưu trú cao cùng với sự dịch chuyển thường xuyên của các nhóm lao động nhập cư, sinh viên, khách du lịch, người làm việc tự do và các nhóm cư trú lưu trú ngắn hạn. Bên cạnh đó, hệ thống dịch vụ giải trí phát triển nhanh, đa dạng về loại hình, trong đó xuất hiện nhiều mô hình kinh doanh lai ghép, biến đổi linh hoạt, chưa hoàn toàn tương thích với các danh mục quản lý truyền thống. Đáng chú ý, sự phổ biến của ma túy tổng hợp đã làm thay đổi tính chất và phương thức phòng ngừa. Hành vi sử dụng ma túy không còn chỉ gắn với nhóm nghiện có biểu hiện dễ nhận diện mà còn có thể phát sinh từ tâm lý tò mò, nhu cầu trải nghiệm trong không gian âm nhạc, tác động của nhóm bạn, giao tiếp qua mạng xã hội, đặt phòng trực tuyến và việc tổ chức sử dụng trong các không gian kín, khó kiểm soát.
Lực lượng Công an nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong năm 2024, đã phát hiện và xử lý 3.482 vụ ma túy, tương đương 11,63% tổng số 29.928 vụ của cả nước; 8.996 đối tượng, tương đương 17,32% tổng số 51.938 đối tượng toàn quốc. Nếu tính bình quân, mỗi vụ ma túy tại TP. Hồ Chí Minh năm 2024 liên quan đến khoảng 2,58 đối tượng, trong khi bình quân toàn quốc là 1,74 đối tượng/vụ; mức của Thành phố cao hơn khoảng 1,49 lần. Trong số vụ được xử lý hình sự, 3.095 vụ khởi tố với 6.280 bị can cho thấy, bình quân 2,03 bị can/vụ khởi tố; đồng thời, tỷ lệ khởi tố trên số vụ phát hiện đạt 88,89%. Những tỷ lệ này không chỉ phản ánh hiệu quả phát hiện, xử lý mà còn đặt ra yêu cầu phòng ngừa sớm hơn, nhất là đối với các cơ sở, căn hộ, phòng kín, nhóm khách và nhân viên có dấu hiệu móc nối, môi giới, lôi kéo hoặc che giấu vi phạm. Về tang vật, với hơn 1,4 tấn ma túy bị thu giữ trong 3.482 vụ tại TP. Hồ Chí Minh năm 2024, lượng thu giữ bình quân tối thiểu đạt khoảng 0,402 kg/vụ. Con số này cho thấy, nguy cơ phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật về ma túy trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ, không chỉ ở hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mà còn có thể liên quan đến các hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Các số liệu trên cho thấy, một là, áp lực ma túy tổng hợp của khu vực Đông Nam Á làm cho công tác phòng ngừa xã hội ở TP. Hồ Chí Minh không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm xử lý các tụ điểm truyền thống; phương thức sử dụng, giao nhận, thanh toán, rủ rê, tổ chức tiệc kín và dịch chuyển địa điểm có khả năng thay đổi nhanh; hai là, tỷ trọng đối tượng của TP. Hồ Chí Minh trong tổng số đối tượng toàn quốc cao hơn tỷ trọng vụ, đồng thời số đối tượng bình quân trên một vụ cao hơn đáng kể so với trung bình toàn quốc; trong đó tỷ lệ vụ việc xảy ra và đã bị phát hiện tại các cơ sở dịch vụ giải trí có tỷ trọng cao, đặt ra yêu cầu về giải pháp hiệu quả để phòng ngừa tội phạm ma tuý ở những khu vực này.
Từ thực tiễn địa bàn, có thể nhận diện 5 nhóm nguy cơ chủ yếu. Nhóm thứ nhất, nguy cơ từ các loại hình dịch vụ: karaoke, vũ trường, bar, pub, club, lounge, nhà hàng có âm nhạc, cơ sở lưu trú, căn hộ cho thuê ngắn hạn, địa điểm tổ chức tiệc riêng và các mô hình dịch vụ kết hợp ăn uống, âm nhạc, lưu trú, giải trí. Nhóm thứ hai, nguy cơ từ cách thiết kế không gian vật lý, như: phòng kín, ánh sáng yếu, âm thanh lớn, nhiều lối ra vào, khu vực vệ sinh khó quan sát, hầm xe, phòng VIP, khu vực để đồ và hệ thống đặt phòng không minh bạch… Nhóm thứ ba, nguy cơ từ con người, cụ thể là chủ cơ sở khoán trắng cho quản lý ca; nhân viên, bảo vệ, lễ tân, quản lý bàn thiếu tập huấn; người môi giới; khách quen; nhóm bạn trẻ; đối tượng sử dụng mạng xã hội để rủ rê, đặt phòng, chuyển tiền. Nhóm thứ tư, nguy cơ từ quá trình vận hành như không kiểm soát được giờ hoạt động, không có quy trình báo tin, không lưu giữ các loại dữ liệu theo quy định, không khắc phục sau khi kiểm tra, tái phạm hoặc cố tình tạo điều kiện cho các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội. Nhóm thứ năm, nguy cơ từ người dân lo ngại khi phản ánh các hành vi vi phạm pháp luật cho cơ quan chức năng, họ có thể bị trả thù; coi đây là việc riêng của lực lượng Công an nhân dân; gia đình, nhà trường, doanh nghiệp chưa có cơ chế nhận diện sớm và hỗ trợ nhóm nguy cơ phạm tội về ma túy…
4. Một số giải pháp
Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu đối với các cơ sở dịch vụ giải trí. Công an TP. Hồ Chí Minh, trong đó nòng cốt là lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cần tham mưu thiết lập cơ sở dữ liệu thống nhất về các cơ sở kinh doanh có điều kiện và các cơ sở có nguy cơ bị lợi dụng. Dữ liệu quản lý cần bao quát thông tin pháp lý của cơ sở, người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự, loại hình hoạt động thực tế, điều kiện phòng cháy, chữa cháy, lịch sử kiểm tra, lịch sử vi phạm, phản ánh của người dân, tình trạng khắc phục sau kiểm tra, khung giờ hoạt động, nhân sự bảo vệ và biến động bất thường. Việc xây dựng dữ liệu không nhằm kiểm tra tràn lan, mà nhằm xác định đúng trọng tâm, đúng thời điểm và đúng biện pháp phòng ngừa.
Hai là, đổi mới phương thức quản lý theo hướng phân loại rủi ro. Cần xây dựng thang đánh giá nguy cơ đối với cơ sở dịch vụ giải trí theo 6 nhóm tiêu chí: pháp lý, không gian, vận hành, nhân sự, lịch sử vi phạm và tín hiệu cộng đồng. Mỗi nhóm có thể được lượng hóa theo thang điểm phù hợp để phân loại cơ sở thành các mức rủi ro thấp, trung bình, cao và rất cao. Cơ sở rủi ro thấp được ưu tiên hướng dẫn, tự kiểm tra và giảm tần suất kiểm tra hành chính; cơ sở rủi ro trung bình phải khắc phục trong thời hạn xác định; cơ sở rủi ro cao và rất cao phải được kiểm tra, hậu kiểm và xử lý nghiêm nếu tái phạm hoặc chuyển cho lực lượng chuyên trách khi có dấu hiệu tội phạm. Cách tiếp cận này vừa bảo vệ hoạt động kinh doanh hợp pháp, vừa tập trung nguồn lực vào những điểm có khả năng phát sinh tội phạm ma túy.
Ba là, cụ thể hóa trách nhiệm của chủ cơ sở, người quản lý ca và người lao động thông qua bộ tiêu chí “cơ sở dịch vụ giải trí an toàn, không sử dụng ma túy”. Bộ tiêu chí cần ngắn gọn, dễ kiểm tra, có tài liệu hướng dẫn, có cơ chế công nhận, nhắc nhở và rút công nhận. Nội dung trọng tâm gồm: hồ sơ pháp lý đầy đủ; chủ cơ sở và quản lý ca được tập huấn; nhân viên biết nhận diện dấu hiệu nguy cơ; có nội quy, cảnh báo pháp lý, quy trình tiếp nhận và báo tin; không để nhân viên môi giới, che giấu hoặc tạo điều kiện cho hành vi sử dụng, tổ chức sử dụng, chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy; chấp hành kiểm tra hành chính và khắc phục đúng thời hạn. Cơ sở thực hiện tốt cần được biểu dương trong phạm vi phù hợp; cơ sở buông lỏng quản lý, cố tình né tránh hoặc tái phạm phải bị xử lý nghiêm theo quy định.
Bốn là, nâng cao chất lượng nắm tình hình từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Công an cấp xã, Cảnh sát khu vực và lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cần phối hợp thường xuyên trong việc rà soát địa bàn, quản lý cư trú, lưu trú, kiểm tra điều kiện an ninh, trật tự và tiếp nhận phản ánh của người dân. Cần chuẩn hóa phiếu thu thập thông tin, mẫu đánh giá rủi ro, quy trình báo cáo nhanh, trách nhiệm phản hồi thông tin báo cáo và cơ chế bảo vệ thông tin của người cung cấp. Những dấu hiệu nhỏ như biến động khách vãng lai, hoạt động quá giờ, đặt phòng qua trung gian, tụ tập nhóm lớn bất thường, âm thanh hoặc ánh sáng bất thường, khu vực khó quan sát, nhân viên môi giới hoặc che giấu vi phạm cần được ghi nhận, sàng lọc và xử lý kịp thời trước khi hình thành điểm, tụ điểm phức tạp.
Năm là, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền theo từng nhóm nguy cơ. Đối với chủ cơ sở, cần nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý, hậu quả xử phạt, đình chỉ, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, tổn thất uy tín kinh doanh và trách nhiệm hình sự khi chứa chấp, tổ chức hoặc dung túng hành vi liên quan đến ma túy. Đối với nhân viên, cần tập huấn kỹ năng nhận diện các dấu hiệu bất thường trong quá trình phục vụ, bảo vệ, lễ tân, quản lý phòng và quản lý ca. Đối với khách hàng trẻ, thông điệp cần ngắn gọn, trực quan, phù hợp với nền tảng số, nhấn mạnh hệ quả đối với sức khỏe, học tập, nghề nghiệp, gia đình và trách nhiệm hình sự. Đối với gia đình, nhà trường, doanh nghiệp và khu dân cư, cần cung cấp dấu hiệu nhận biết sớm, địa chỉ tư vấn và kênh báo tin an toàn.
Sáu là, kiện toàn quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội với các lực lượng, cơ quan có liên quan. Cần xác lập cơ chế phối hợp rõ ràng giữa Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cảnh sát trật tự, cơ quan quản lý văn hóa, y tế, quản lý thị trường và chính quyền cơ sở. Thông tin hành chính phải được phân loại thành nhóm phục vụ hướng dẫn, nhóm phục vụ kiểm tra điều kiện, nhóm phục vụ xử phạt hành chính và nhóm có dấu hiệu đường dây, tổ chức sử dụng, chứa chấp hoặc mua bán ma túy để chuyển cho lực lượng chuyên trách. Cơ chế phối hợp cần bảo đảm không làm lộ nguồn tin, không ảnh hưởng đến biện pháp nghiệp vụ, đồng thời không để thông tin có giá trị phòng ngừa bị lưu giữ hình thức trong hồ sơ.
Bảy là, gắn phòng ngừa xã hội trong môi trường dịch vụ giải trí với mục tiêu xây dựng TP. Hồ Chí Minh không ma túy vào năm 2030. Thành phố đã đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng toàn bộ địa bàn không ma túy; đến cuối năm 2029, 100% xã, phường, khu phố, ấp, khu dân cư đạt tiêu chí địa bàn không ma túy; 100% cơ sở giáo dục, y tế, cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức đoàn thể không có ma túy. Trên cơ sở mục tiêu đó, cần cụ thể hóa thành ba cấp độ quản lý: cơ sở dịch vụ giải trí an toàn; tuyến phố hoặc khu vực dịch vụ an toàn; phường, xã không để phát sinh điểm, tụ điểm phức tạp về ma túy. Nếu thiếu tiêu chí riêng cho khu vực dịch vụ giải trí, mục tiêu địa bàn không ma túy sẽ thiếu một mảnh ghép quan trọng trong quản trị đô thị hiện đại.
Tám là, xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả phòng ngừa xã hội theo hướng thực chất. Không nên đánh giá phòng ngừa chỉ bằng số vụ bắt giữ hoặc số lượt kiểm tra, bởi phòng ngừa thành công còn thể hiện ở khả năng cơ sở tự khắc phục, rủi ro giảm, tái phạm giảm, tin báo được xử lý đúng và môi trường kinh doanh được cải thiện. Hệ chỉ số cần bao gồm số cơ sở được lập hồ sơ, phân loại rủi ro; tỷ lệ cơ sở rủi ro cao được hướng dẫn và hậu kiểm; tỷ lệ cơ sở khắc phục đúng hạn; tỷ lệ cơ sở tái phạm; số chủ cơ sở, quản lý ca, nhân viên được tập huấn; số phản ánh của người dân được tiếp nhận, xác minh, phản hồi; số thông tin hành chính chuyển lực lượng chuyên trách; số điểm nguy cơ được chuyển hóa; mức giảm vụ việc tại nhóm cơ sở từng có rủi ro cao; mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với cách thức quản lý. Khi có chỉ số rõ ràng, công tác quản lý mới chuyển từ kinh nghiệm sang chứng cứ, từ xử lý sau vi phạm sang phòng ngừa chủ động.
Các giải pháp nêu trên cần được triển khai theo nguyên tắc quản lý nghiêm, phát huy trách nhiệm tự quản của cơ sở nhưng không hình sự hóa hoạt động kinh doanh hợp pháp, không buông lỏng vai trò quản lý nhà nước và phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, không kỳ thị người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy và luôn đặt mục tiêu phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm trong khuôn khổ pháp luật.
5. Kết luận
Để nâng cao hiệu quả phòng ngừa xã hội đối với tội phạm ma túy trong môi trường dịch vụ giải trí đô thị, Công an TP. Hồ Chí Minh, nòng cốt là lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, cần triển khai đồng bộ các biện pháp nắm chắc tình hình từ sớm, từ xa, từ cơ sở; quản lý chặt chẽ các cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; phân loại rủi ro; tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, hậu kiểm và kịp thời chuyển giao dấu hiệu tội phạm cho lực lượng chuyên trách để đấu tranh, xử lý theo quy định. Công tác này cần gắn với việc xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý, bộ tiêu chí cơ sở dịch vụ giải trí an toàn, không ma túy và hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả phòng ngừa theo hướng thực chất. Bên cạnh đó, các sở, ngành, chính quyền cơ sở, doanh nghiệp, gia đình, nhà trường và Nhân dân cần nâng cao trách nhiệm phối hợp trong tuyên truyền, quản lý, giám sát, phản ánh và hỗ trợ nhóm nguy cơ, không để các loại hình dịch vụ giải trí hợp pháp bị biến tướng thành địa điểm tổ chức, chứa chấp hoặc phát sinh hành vi phạm tội về ma túy. Việc kết hợp giữa quản lý nhà nước nghiêm minh, trách nhiệm tự quản của cơ sở kinh doanh và sự tham gia chủ động của cộng đồng là điều kiện quan trọng để xây dựng môi trường giải trí văn minh, an toàn, góp phần thực hiện mục tiêu TP. Hồ Chí Minh không ma túy.
Chú thích:
1. World Drug Report 2025: Key figures at a glance, 2025. https://www.unodc.org/unodc/frontpage/2025/June/wdr25.html.
2. UNODC World Drug Report 2025: Global instability compounding social, economic and security costs of the world drug problem. https://unis.unvienna.org/unis/en/pressrels/2025/unisnar1499.html.
3. United Nations Office on Drugs and Crime, Synthetic Drugs in East and Southeast Asia: Latest Developments and Challenges 2025. https://www.unodc.org/roseap/uploads/documents/Publications/2025/Synthetic_Drugs_in_East_and_Southeast_Asia_2025.pdf.
4. United Nations Office on Drugs and Crime and World Health Organization, International Standards on Drug Use Prevention: Second updated edition, 2018. https://www.who.int/publications/i/item/international-standards-for-drug-use-prevention-second-edition-2018.
5. Số liệu về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm năm 2025. https://bocongan.gov.vn/bai-viet/so-lieu-ve-cong-tac-dau-tranh-phong-chong-toi-pham-nam-2025-1774611621.
6. Những kết quả tích cực sau 01 năm xây dựng xã, phường không ma túy. https://congan.hochiminhcity.gov.vn/wps/portal/Home/trang-chu/noi-dung-chi-tiet/tin chuyennganh/tin%2Bhoat%2Bdong/nhung%2Bket%2Bqua%2Btich%2Bcuc%2Bsau%2B1%2Bnam%2Bxay%2Bdung%2Bxa%2Bphuong%2Bkhong%2Bma%2Btuy.
7. Economic and Social Council, Guidelines for the Prevention of Crime, ECOSOC Resolution 2002/13, United Nations, 2002, https://www.unodc.org/documents/justice-and-prison-reform/crimeprevention/resolution_2002-13.pdf.
8. Lawrence E. Cohen and Marcus Felson (1997). Social change and crime rate trends: A routine activity approach. American Sociological Review, 44(4), 1979, tr. 588-608; Ronald V. Clarke, Situational Crime Prevention: Successful Case Studies, 2nd ed., Harrow and Heston.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2016). Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
2. Chính phủ (2019). Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường.
3. Chính phủ (2026). Nghị định số 58/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến điều kiện về an ninh, trật tự, quản lý và sử dụng con dấu, quản lý, sử dụng pháo.



