Xây dựng liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng – những vấn đề đặt ra và giải pháp

Intra-regional linkages in the Red River Delta: issues and solutions

TS. Đào Ngọc Thủy
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(Quanlynhanuoc.vn) – Liên kết nội vùng giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của vùng đồng bằng sông Hồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, liên kết nội vùng vẫn còn manh mún do thiếu cơ chế điều phối đủ mạnh, trùng lặp quy hoạch giữa các địa phương, cạnh tranh thu hút đầu tư, hạn chế trong chia sẻ dữ liệu và đặc biệt là thiếu đánh giá tác động môi trường ở quy mô liên vùng. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền cấp xã chưa được phát huy trong chuỗi điều phối từ vùng tới cơ sở. Bài viết đề xuất các giải pháp hướng tới xây dựng nền tảng liên kết nội vùng chặt chẽ, minh bạch và bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Đồng bằng sông Hồng; xây dựng liên kết; liên kết nội vùng; giải pháp; vấn đề đặt ra.

Abstract: Intra-regional linkages play a critical role in the strategy for rapid and sustainable development of the Red River Delta. Research findings indicate that intra-regional linkages remain fragmented due to the lack of sufficiently robust coordination mechanisms, overlapping local planning, competition in attracting investment, limitations in data sharing, and, in particular, the absence of environmental impact assessments at the inter-provincial scale. Additionally, the role of commune-level governments has not been effectively leveraged within the coordination chain from the regional to the grassroots level. This article proposes solutions aimed at building a solid, transparent, and sustainable foundation for intra-regional linkages, thereby enhancing the competitiveness of the Red River Delta in the new development phase.

Keywords: Red River Delta; building linkages; intra-regional linkages; solutions; issues raised.

1. Đặt vấn đề

Vùng đồng bằng sông Hồng có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong bối cảnh mới sau khi sắp xếp địa giới hành chính và chính quyền địa phương hai cấp, liên kết nội vùng phải được xem như một động lực mới trong sự phát triển của vùng, bởi đây là điều kiện tiên quyết nhằm huy động và sử dụng nguồn lực một cách tối ưu, tạo ra sức mạnh tổng hợp và hạn chế tính cục bộ và phát huy tiềm năng, dư địa của địa phương mới sau khi sắp xếp địa giới hành chính.

Những năm qua, mặc dù nhiều chủ trương và định hướng về liên kết vùng đã được ban hành nhưng thực tiễn cho thấy, liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng vẫn còn diễn ra rời rạc và thiếu tính ràng buộc. Tình trạng trùng lặp quy hoạch, cạnh tranh thu hút đầu tư, thiếu chia sẻ dữ liệu, thiếu cơ chế điều phối đủ mạnh, đặc biệt là thiếu đánh giá tác động môi trường ở quy mô vùng đã làm suy giảm hiệu quả phát triển. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền cơ sở, nhất là cấp xã trong quản lý tài nguyên, môi trường, đất đai và tổ chức sản xuất vẫn chưa được phát huy tương xứng với yêu cầu của liên kết vùng trong giai đoạn mới. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cần nhìn nhận lại toàn diện thực trạng liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng; đồng thời, đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược nhằm tạo nền tảng điều phối phát triển thống nhất, hiệu quả và bền vững hơn trong thời gian tới.

2. Những vấn đề đặt ra trong liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng

2.1. Thiếu cơ chế liên kết giữa các địa phương

Dù đã có nhiều chủ trương về liên kết vùng, song trên thực tế cạnh tranh trong thu hút đầu tư giữa các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng vẫn diễn ra mạnh mẽ. Hầu hết các địa phương đều phát triển khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm logistics theo định hướng riêng, dẫn đến trùng lặp mô hình phát triển, phân tán nguồn lực, cạnh tranh ưu đãi, không tận dụng được lợi thế bổ trợ của từng địa phương. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hơn 90% các tỉnh trong vùng đều ưu tiên phát triển khu công nghiệp như một ngành mũi nhọn. Toàn vùng đồng bằng sông Hồng có hơn 70 khu công nghiệp được phê duyệt, trong đó mỗi tỉnh đều xây dựng chiến lược trở thành “trung tâm công nghiệp”, “công nghiệp công nghệ cao” hoặc “điểm đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trọng điểm”1. Tuy nhiên, phần lớn các khu công nghiệp này có cơ cấu và định hướng ngành giống nhau, tập trung vào điện tử, cơ khí, lắp ráp, may mặc mà chưa được phân vai rõ ràng theo lợi thế từng địa phương. Điều này dẫn đến cạnh tranh thu hút đầu tư bằng ưu đãi thuế, đất đai, làm giảm hiệu quả chung của vùng.

Hơn nữa, sự phân tán nguồn lực còn thể hiện rõ ở hệ thống cảng cạn (ICD), trung tâm logistics, khi nhiều địa phương đua nhau xây dựng dù quy mô thị trường và nhu cầu sử dụng chưa tương xứng. Chẳng hạn, trong bán kính chưa đến 60 km quanh Hà Nội đã có tới 13 ICD và trung tâm logistics cấp tỉnh, trong đó nhiều trung tâm hoạt động dưới 50% công suất thiết kế2. Việc phát triển này làm gia tăng chi phí đầu tư, nhưng lại không tạo ra mạng lưới logistics hiệu quả cho cả vùng.

Tình trạng trùng lặp còn xuất hiện trong quy hoạch đô thị và khu đô thị vệ tinh. Hà Nội định hướng phát triển hệ thống đô thị vệ tinh, như: Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên, nhưng cùng lúc đó các tỉnh lân cận cũng phát triển các khu đô thị mới với chức năng tương đồng, không dựa trên phân tích nhu cầu dân cư vùng hay kế hoạch điều tiết dân số đô thị. Kết quả là hàng loạt khu đô thị mới xây nhưng thiếu cư dân, gây lãng phí nguồn lực và làm manh mún không gian phát triển.

Trong lĩnh vực du lịch, nhiều tỉnh trong vùng cũng theo đuổi mô hình xây dựng khu du lịch sinh thái, văn hóa – tâm linh với sản phẩm gần giống nhau, trong khi thiếu sự phối hợp để hình thành chuỗi sản phẩm du lịch liên tỉnh. World Bank (2019)3 nhận định, việc các tỉnh tự phát triển các khu du lịch có tính chất tương đồng không tạo ra sức hút liên vùng mà còn dẫn đến sự cạnh tranh nội bộ, làm phân tán nguồn khách và nguồn đầu tư.

Mặc dù Luật Quy hoạch năm 2017 yêu cầu quy hoạch vùng phải định hướng cho quy hoạch tỉnh, nhưng thực tế nhiều tỉnh vẫn xây dựng quy hoạch theo lợi ích địa phương, ít tham chiếu chiến lược vùng. Điều này làm cho các địa phương ưu tiên lợi ích ngắn hạn, dẫn đến nguồn lực đầu tư bị phân tán và thiếu hiệu quả. Báo cáo của JETRO (2023)4 chỉ ra rằng, nhiều nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn khi lựa chọn địa điểm trong vùng vì các tỉnh đều đưa ra ưu đãi tương tự, sự khác biệt về lợi thế so sánh không rõ ràng, khiến chi phí nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp tăng lên.

2.2. Hạn chế trong đánh giá tác động môi trường liên vùng

Một trong những thách thức lớn nhất của liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay là việc đánh giá tác động môi trường (Environmental Impact Assessment – EIA) và đánh giá môi trường chiến lược (Strategic Environmental Assessment – SEA) chưa được triển khai ở quy mô vùng mà chủ yếu dừng lại ở từng địa phương. Điều này tạo ra khoảng trống lớn trong quản lý môi trường liên tỉnh, đặc biệt khi hệ sinh thái tự nhiên, dòng sông, không khí và chất thải trong vùng có tính liên thông mạnh mẽ và không thể bị chia cắt bởi ranh giới hành chính.

Vấn đề ô nhiễm hệ thống sông Nhuệ, sông Đáy là minh chứng rõ ràng cho việc thiếu đánh giá môi trường liên vùng. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, hơn 70% nước thải sinh hoạt và công nghiệp đổ vào sông Nhuệ, sông Đáy từ địa bàn Hà Nội, trong khi các tỉnh phía dưới lại gánh chịu phần lớn hậu quả ô nhiễm. Tuy nhiên, mỗi tỉnh lại lập báo cáo EIA riêng cho các dự án công nghiệp, không có cơ chế bắt buộc chia sẻ thông tin, gây khó khăn cho việc đánh giá tác động tổng hợp đối với cả lưu vực5. Việc thiếu SEA cấp vùng khiến cho tình trạng ô nhiễm kéo dài nhiều năm, cản trở canh tác nông nghiệp và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng.

Vấn đề ô nhiễm không khí cũng mang tính liên tỉnh. Báo cáo của World Bank (2020) chỉ ra rằng, 38% bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội có nguồn gốc từ các hoạt động công nghiệp và giao thông từ các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, khi các tỉnh phê duyệt EIA cho các cụm công nghiệp mới, đánh giá tác động môi trường trong phạm vi tỉnh mà không phân tích sự lan truyền xuyên biên giới không khí. Việc này dẫn đến tình trạng Hà Nội phải hứng chịu phần lớn ô nhiễm, nhưng lại không có công cụ pháp lý để yêu cầu các tỉnh lân cận điều chỉnh quy hoạch hoặc kiểm soát hoạt động sản xuất. Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá đây là “khoảng trống lớn trong quản trị môi trường vùng đồng bằng sông Hồng6.

Mặc dù Việt Nam đã có những quy định về SEA cho quy hoạch vùng theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về cơ chế chia sẻ dữ liệu, trách nhiệm điều phối đánh giá môi trường liên vùng và quy trình đánh giá tác động môi trường cho các dự án có ảnh hưởng vượt ranh giới tỉnh7. Việc thiếu một cơ quan điều phối vùng có quyền lực thực thi càng làm cho quá trình đánh giá môi trường trở nên rời rạc, thiếu đồng bộ. Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng mới được thành lập nhưng chưa có quyền kiểm tra, giám sát hay yêu cầu điều chỉnh EIA của từng tỉnh. Khi không có đánh giá môi trường liên vùng, các tác động tiêu cực tích tụ và lan tỏa theo dòng sông, không khí và hoạt động kinh tế, gây chi phí khắc phục rất lớn và ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển xanh mà Chính phủ đang hướng tới. Trong bối cảnh hoạt động sản xuất – đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, đánh giá tác động môi trường liên vùng cần được xem như một trụ cột của liên kết nội vùng, thay vì chỉ là thủ tục trong phạm vi một tỉnh.

2.3. Khung pháp lý chưa đủ mạnh bảo đảm liên kết nội vùng

Một trong những trở ngại lớn nhất khiến liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng chính là sự thiếu vắng một khung pháp lý đủ mạnh, đủ ràng buộc và đủ tính thực thi để điều phối phát triển giữa các địa phương. Hiện nay, các cơ chế điều phối vùng chủ yếu mang tính chất phối hợp, khuyến nghị, chưa có tính ràng buộc pháp lý. Dù đã có nhiều văn bản đặt ra yêu cầu liên kết vùng, nhưng hệ thống pháp luật hiện hành chưa tạo ra cơ chế cưỡng chế buộc các tỉnh phải tuân thủ quy hoạch vùng, chia sẻ lợi ích hay phối hợp thực hiện các dự án liên tỉnh. Điều này khiến liên kết nội vùng chủ yếu dừng lại ở mức độ hình thức, trong khi các địa phương vẫn triển khai theo lợi ích cục bộ.

Cơ chế điều phối vùng hiện nay thiếu quyền hạn rõ ràng và gần như không có công cụ pháp lý để yêu cầu các tỉnh thực hiện chiến lược phát triển chung. Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng được thành lập theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 08/02/2023 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, mới chỉ có chức năng tư vấn và điều phối mềm, chứ chưa được trao quyền xem xét, thẩm định hay buộc các tỉnh điều chỉnh quy hoạch khi xảy ra xung đột liên vùng. Việc không có quyền cưỡng chế khiến nhiều chương trình liên kết chỉ mang tính tượng trưng, trong khi các địa phương vẫn ưu tiên dự án riêng, ít tuân thủ chiến lược phát triển vùng. Chẳng hạn, Luật Quy hoạch năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định quy hoạch tỉnh phải phù hợp với quy hoạch vùng, tuy nhiên, do quy hoạch vùng được phê duyệt chậm hơn, nhiều tỉnh đã hoàn thành quy hoạch trước khi có quy hoạch vùng. Điều này dẫn đến sự lệch pha giữa định hướng vùng và tỉnh, tạo ra hàng loạt trường hợp quy hoạch trùng lặp hoặc thiếu tính liên kết.

Bên cạnh đó, khung pháp lý thiếu quy định về trách nhiệm chia sẻ thông tin, đặc biệt là dữ liệu môi trường, quy hoạch đất đai, giao thông và phát triển công nghiệp. Báo cáo của Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn quốc gia chỉ ra rằng, các tỉnh vẫn quản lý dữ liệu theo cách riêng lẻ, thiếu tích hợp và thiếu minh bạch8 khiến quá trình lập kế hoạch liên vùng gặp khó khăn. Thực tế, việc đánh giá tác động môi trường liên vùng, điều phối hệ thống thoát nước hay quy hoạch không gian đô thị – công nghiệp đều cần có dữ liệu chung, nhưng do pháp luật không bắt buộc chia sẻ, nên các địa phương hầu như không thực hiện. Tuyến Vành đai 4, cao tốc Hà Nội – Hải Phòng… đều phải trải qua nhiều vòng thẩm định, do thiếu cơ chế pháp lý phân định rõ trách nhiệm giữa các tỉnh trong việc bố trí vốn, bồi thường giải phóng mặt bằng và quản lý triển khai. Điều này cho thấy, pháp luật hiện hành chưa đủ khả năng tạo ra một quy trình thống nhất và bắt buộc, khiến nhiều dự án trọng điểm bị kéo dài, làm mất cơ hội phát triển vùng.

Một vấn đề cốt lõi khác là pháp luật không xác định rõ vai trò và trách nhiệm của đô thị trung tâm – Hà Nội trong điều phối phát triển vùng. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Nhật Bản hay CHLB Đức cho thấy, vùng kinh tế chỉ hoạt động hiệu quả khi đô thị trung tâm được trao quyền dẫn dắt, điều phối và đảm nhiệm trách nhiệm kết nối các tỉnh xung quanh. Tuy nhiên, trong trường hợp vùng đồng bằng sông Hồng chưa có văn bản nào quy định quyền của Hà Nội trong việc yêu cầu các địa phương điều chỉnh quy hoạch, chia sẻ dữ liệu hay phối hợp dự án liên vùng. Sự mơ hồ này làm suy yếu vai trò “hạt nhân vùng thủ đô” của Hà Nội, khiến vùng không có một trung tâm điều phối đủ mạnh.
2.4. Vai trò của chính quyền cơ sở cần được đổi mới
Trong bối cảnh chính quyền hai cấp đi vào hoạt động, cấp xã hiện nay cần được xem xét giữ vai trò quan trọng, trung tâm trong triển khai các nội dung liên kết vùng vì đây là nơi tiếp xúc trực tiếp với hệ thống tự nhiên, dân cư và các hoạt động sản xuất. Mặc dù các tỉnh đưa ra định hướng chiến lược, nhưng cấp xã mới là đơn vị tổ chức thực thi, giám sát và quản lý nhiều yếu tố liên quan đến liên kết vùng, như: môi trường, đất đai, hạ tầng nông thôn và kinh tế địa phương. Có 65% điểm xả thải nhỏ và trung bình vào hệ thống sông Nhuệ – Đáy nằm trong phạm vi quản lý trực tiếp của chính quyền cấp xã nhưng phần lớn không được giám sát hiệu quả9.

Đồng bằng sông Hồng tập trung rất nhiều làng nghề, phần lớn nằm trong phạm vi quản lý của cấp xã. Tuy nhiên, khi cấp xã chưa chủ động kiểm soát ô nhiễm, quy hoạch đất đai hoặc hạ tầng sản xuất, thì hoạt động của làng nghề gây ảnh hưởng lớn đến môi trường liên vùng như ô nhiễm nước, không khí, tiếng ồn và chất thải rắn. Cấp xã thường là nơi đầu tiên tiếp nhận phản ánh của người dân về môi trường, đất đai, tác động của dự án liên tỉnh. Nhiều xã chưa thực hiện đầy đủ việc chuyển tải thông tin lên cấp tỉnh, khiến phản ánh cộng đồng không đến được nơi cần thiết để điều chỉnh chính sách liên vùng10. Nếu những hạn chế này nếu không được khắc phục thì dù cấp tỉnh có chủ động đến đâu, liên kết vùng vẫn bị “đứt đoạn” từ cấp cơ sở.

3. Một số giải pháp

Một là, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích của vùng. Việc hình thành một khuôn khổ pháp lý thống nhất phải dựa trên các nguyên tắc hài hòa lợi ích, minh bạch trách nhiệm và cam kết ràng buộc giữa các tỉnh, trong đó mọi thỏa thuận hợp tác đều được cụ thể hóa bằng văn bản có hiệu lực pháp lý, được xây dựng trên cơ sở đồng thuận và có cơ chế giám sát chặt chẽ.

Vùng cần ban hành “Hiệp định hợp tác phát triển vùng đồng bằng sông Hồng” hoặc một nghị định của Chính phủ đóng vai trò như khung pháp lý cao nhất cho hợp tác liên kết, quy định cụ thể các lĩnh vực bắt buộc phải hợp tác, như: quy hoạch không gian phát triển, quản lý tài nguyên – môi trường, phát triển hạ tầng giao thông kết nối, xúc tiến đầu tư – du lịch và chuyển đổi số. Cùng với đó, cần hình thành một cơ chế chia sẻ tài chính vùng thông qua một Quỹ hợp tác phát triển vùng được đóng góp theo tỷ lệ phù hợp từ ngân sách các địa phương, ngân sách trung ương hỗ trợ và huy động từ khu vực tư nhân. Quỹ này sẽ được sử dụng cho các dự án mang tính liên vùng, đặc biệt là các dự án hạ tầng trọng điểm và bảo vệ môi trường; đồng thời, tạo động lực để các địa phương tham gia tích cực và có trách nhiệm hơn.

Ngoài ra, cơ chế chia sẻ lợi ích phải được thiết kế theo hướng “cùng thắng”, trong đó các lợi ích kinh tế – xã hội và môi trường được phân bổ theo các tiêu chí minh bạch, như: tỷ lệ đóng góp nguồn lực, mức độ bị tác động bởi dự án, khả năng lan tỏa phát triển và nhu cầu bức thiết của từng địa phương. Điều này đòi hỏi xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá chung và hệ thống giám sát – đánh giá độc lập ở cấp vùng để bảo đảm tính khách quan, giảm thiểu xung đột lợi ích và nâng cao mức độ chấp hành. Việc tổ chức đàm phán lợi ích giữa các tỉnh phải được thể chế hóa thành quy trình chuẩn, có hội đồng trọng tài vùng hoặc tổ công tác pháp lý trung gian để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Nhờ đó, mọi quyết định liên kết đều được thực hiện trên cơ sở pháp lý chặt chẽ và đồng thuận hợp tác dài hạn.

Để cơ chế chia sẻ lợi ích phát huy hiệu quả, phải tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của từng địa phương, thông qua việc công khai kết quả thực hiện, sử dụng ngân sách, tiến độ dự án và hiệu quả lan tỏa. Khi cơ chế chia sẻ lợi ích được vận hành trên nền tảng pháp lý rõ ràng, gắn với trách nhiệm cụ thể và quy định chế tài nghiêm minh, liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng sẽ có điều kiện phát triển bền vững và thực chất hơn, giảm thiểu tình trạng cục bộ địa phương, tạo lập môi trường hợp tác tin cậy và cùng hướng tới lợi ích chung của toàn vùng.

Hai là, xây dựng chương trình hành động liên kết nội vùng.

Xây dựng chương trình chung về phát triển liên kết vùng đồng bằng sông Hồng dựa trên các chuỗi giá trị ưu tiên mang tính đặc trưng của vùng, như công nghiệp chế biến – chế tạo, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch văn hóa – sinh thái, dịch vụ sáng tạo và kinh tế số. Trên cơ sở này, chương trình chung sẽ phân định rõ vai trò của từng địa phương trong chuỗi giá trị, tránh đầu tư trùng lặp và tạo điều kiện cho sự bổ trợ lẫn nhau. Chẳng hạn, Hà Nội giữ vai trò trung tâm đổi mới sáng tạo và dịch vụ chất lượng cao; Hải Phòng là đầu mối cảng biển, logistics và công nghiệp nặng; Bắc Ninh là trung tâm công nghiệp hỗ trợ; Hưng Yên phát triển nông nghiệp công nghệ cao; Ninh Bình phát triển du lịch sinh thái – văn hóa. Khi chức năng được xác lập rõ ràng, các địa phương có thể hợp tác sâu trong thu hút đầu tư, chia sẻ hạ tầng và xây dựng thương hiệu vùng.

Song song với chuỗi giá trị, chương trình cần phát triển hệ thống đô thị liên kết vùng theo mô hình mạng lưới, trong đó Hà Nội là cực trung tâm, kết nối với các đô thị vệ tinh và các hành lang kinh tế – giao thông trọng điểm. Chương trình chung sẽ định hướng quy hoạch đô thị theo tiêu chuẩn thống nhất về giao thông, chất lượng môi trường, phát triển không gian xanh và dịch vụ đô thị, bảo đảm sự tương thích giữa các quy hoạch, tránh tình trạng manh mún hoặc phát triển không kiểm soát. Việc phối hợp trong phát triển đô thị liên kết còn giúp giảm áp lực dân số cho Hà Nội, đồng thời tạo ra mạng lưới đô thị đa trung tâm, nâng cao năng lực cạnh tranh của cả vùng.

Để bảo đảm tính bền vững, chương trình chung cần có cơ chế điều phối vùng mang tính ràng buộc, với bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả theo chuỗi giá trị và đô thị liên kết. Hệ thống đánh giá phải được thực hiện định kỳ, công khai để tăng trách nhiệm giải trình và tạo áp lực cải thiện cho từng địa phương. Khi chương trình phát triển chuỗi giá trị và đô thị liên kết được xây dựng trên nền tảng thống nhất, đồng bộ và lâu dài, liên kết vùng đồng bằng sông Hồng sẽ có cơ sở vững chắc để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Ba là, xây dựng cơ chế đánh giá tác động môi trường liên vùng. Thay vì mỗi tỉnh tự tiến hành đánh giá theo tiêu chí riêng, cần ban hành quy trình EIA liên vùng áp dụng thống nhất, với sự tham gia của cơ quan vùng, các chuyên gia độc lập và chính quyền cấp cơ sở nơi dự án tác động trực tiếp. Thể chế hóa cơ chế REIA giúp loại bỏ tình trạng “mạnh ai nấy làm”; đồng thời, bảo đảm các tác động môi trường được nhìn nhận một cách tổng thể, không bỏ sót những hệ lụy lan truyền theo lưu vực sông hoặc theo chuỗi sản xuất.

Bên cạnh đó, thể chế hóa chương trình hành động cần đi đôi với việc xây dựng hệ thống giám sát – báo cáo môi trường vùng. Việc thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng nước, không khí, rác thải và biến đổi khí hậu có khả năng kết nối dữ liệu theo thời gian thực sẽ giúp các địa phương chia sẻ thông tin; đồng thời, giúp cơ quan điều phối vùng đưa ra cảnh báo sớm và biện pháp xử lý kịp thời. Mỗi tỉnh có nghĩa vụ báo cáo định kỳ tiến độ thực hiện chương trình hành động và cập nhật tình hình xử lý môi trường, trong khi cơ quan vùng thực hiện đánh giá độc lập hằng năm, công khai kết quả để tăng cường trách nhiệm giải trình.

Để chương trình hành động và cơ chế đánh giá môi trường vận hành hiệu quả, cần có hệ thống chế tài đủ mạnh và cơ chế khen thưởng phù hợp. Các địa phương vi phạm cam kết, không đạt chỉ tiêu môi trường hoặc phê duyệt dự án gây tác động tiêu cực kéo dài phải chịu trách nhiệm trước cơ quan điều phối vùng và Chính phủ, có thể bị hạn chế tiếp cận nguồn vốn phát triển hoặc yêu cầu dừng dự án. Ngược lại, những địa phương thực hiện tốt, có sáng kiến giảm thiểu ô nhiễm, sử dụng tài nguyên hiệu quả hoặc có mô hình liên kết thành công sẽ được ưu tiên phân bổ ngân sách, hỗ trợ kỹ thuật và nguồn lực đầu tư. Khi chương trình hành động được thể chế hóa đầy đủ, gắn với đánh giá môi trường chặt chẽ, liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng sẽ có nền tảng bền vững, minh bạch và hiệu quả hơn, hướng tới mục tiêu phát triển xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu cho toàn vùng.

Bốn là, nâng cao vai trò của chính quyền cấp xã trong liên kết vùng. Để cấp xã thực sự trở thành một chủ thể có năng lực trong liên kết nội vùng, cần xây dựng cơ chế trao quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm và có sự hỗ trợ từ cấp tỉnh nhằm tạo ra sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển vùng và nhu cầu thực tế của từng cộng đồng dân cư.

Trước hết, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cấp xã phải được coi là giải pháp trọng tâm. Cán bộ xã cần có khả năng tham gia vào quy trình lập quy hoạch, quản lý dự án liên vùng, giám sát thực thi chính sách và vận hành hệ thống dữ liệu dùng chung. Các chương trình đào tạo chuyên môn về quản trị cơ sở, quản lý tài nguyên – môi trường, chuyển đổi số và phát triển cộng đồng cần được triển khai thường xuyên, có đánh giá năng lực định kỳ và có cơ chế sử dụng nhân lực phù hợp. Khi đội ngũ cán bộ xã được đào tạo bài bản và chủ động hơn, họ có thể trở thành cầu nối hiệu quả giữa các chương trình liên kết vùng và người dân địa phương.

Một giải pháp quan trọng khác là tạo điều kiện để cấp xã tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng và giám sát các dự án liên kết vùng. Khi thiết kế các dự án liên quan đến hạ tầng giao thông, du lịch, môi trường, chuyển đổi số…, các xã phải được tham vấn và tham gia từ giai đoạn đầu nhằm bảo đảm dự án phù hợp với điều kiện thực tế và nhu cầu của người dân. Việc này không chỉ giúp giảm rủi ro trong quá trình triển khai mà còn nâng cao tính đồng thuận của cộng đồng, tăng hiệu quả lan tỏa của các chương trình vùng. Cấp xã cũng cần được giao quyền trong quản lý một số phần việc cụ thể của dự án liên vùng như bảo vệ môi trường, giám sát sử dụng đất, điều phối các hoạt động sản xuất hoặc du lịch cộng đồng.

Phát huy vai trò của cấp xã còn đòi hỏi sự minh bạch và chủ động trong công tác thông tin. Mỗi xã cần xây dựng hệ thống dữ liệu cơ sở đồng bộ, có khả năng kết nối với hệ thống dữ liệu vùng, phục vụ cho công tác báo cáo, giám sát và dự báo. Đồng thời, cần tăng cường truyền thông tới người dân về các chương trình liên kết vùng, giúp họ hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm khi tham gia. Khi người dân được thông tin đầy đủ, họ sẽ có xu hướng đồng hành cùng chính quyền, đặc biệt trong các lĩnh vực sử dụng đất, bảo vệ môi trường, phát triển sản phẩm đặc trưng và tham gia các mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ.

4. Kết luận

Liên kết nội vùng đồng bằng sông Hồng là yêu cầu cấp bách và là con đường tất yếu để vùng phát huy vai trò đầu tàu phát triển của cả nước. Mặc dù đã có nhiều tiến triển, liên kết vùng vẫn chưa đạt mức độ thực chất do thiếu một khung pháp lý đủ mạnh, thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng, hạn chế trong đánh giá tác động môi trường liên vùng và sự tham gia còn mờ nhạt của cấp cơ sở. Để khắc phục những bất cập này, vùng cần xây dựng một cơ chế điều phối thống nhất, có tính ràng buộc, có khả năng phân vai phát triển và giám sát tuân thủ giữa các địa phương. Đồng thời, các chương trình hành động chung về chuỗi giá trị, đô thị liên kết và bảo vệ môi trường phải được thể chế hóa, triển khai đồng bộ và gắn với trách nhiệm giải trình cụ thể. Việc nâng cao vai trò của cấp xã, phát triển dữ liệu dùng chung, chuẩn hóa quy hoạch và thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý sẽ tạo nền tảng để các địa phương phối hợp hiệu quả hơn, tránh chồng chéo và giảm thiểu chi phí phát triển. Khi những giải pháp này được triển khai một cách nhất quán và lâu dài, liên kết nội vùng Đồng bằng sông Hồng sẽ trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững, lan tỏa và hài hòa, góp phần đưa vùng trở thành cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia trong giai đoạn tới.

Chú thích:
1, 10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Báo cáo về tình hình phát triển khu công nghiệp và thu hút FDI năm 2023.
2. Tổng cục Hải quan (2022). Báo cáo hạ tầng logistics và hoạt động ICD tại Việt Nam.
3. World Bank (2019). Tourism Landscape Assessment in Northern Vietnam. Washington, DC.
4. JETRO (2023). Survey on Business Conditions of Japanese Companies in Vietnam. Tokyo.
5, 9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2022: Môi trường nước lưu vực sông Nhuệ, song Đáy.
6. World Bank (2020). Vibrant Cities: Urban Development Challenges in Vietnam. Washington, DC.
7. National Assembly of Vietnam (2020). Law on Environmental Protection.
8. Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Quốc gia (VIUP) (2021). Đánh giá tác động môi trường trong các dự án giao thông liên vùng.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2023). Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 08/02/2023 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Quốc hội (2017, 2025). Luật Quy hoạch năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
3. Nghiên cứu mối quan hệ giữa liên kết vùng và quá trình phát triển bền vững tại vùng đồng bằng Sông Hồng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/01/nghien-cuu-moi-quan-he-giua-lien-ket-vung-va-qua-trinh-phat-trien-ben-vung-tai-vung-dong-bang-song-hong/
4. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vùng đồng bằng sông Hồng – thực trạng và giải pháp. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/06/phat-trien-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-vung-dong-bang-song-hong-thuc-trang-va-giai-phap/
5. World Bank. (2020). Vietnam: Air Pollution Challenges and Policy Solutions in the Red River Delta. Washington, DC.