Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng

The impact of economic restructuring on household livelihoods in Cao Bang province

TS. Nguyễn Thị Huyền
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình tái cơ cấu kinh tế ở tỉnh Cao Bằng. Nghiên cứu khái quát thực trạng và tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến sinh kế hộ gia đình, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Cao Bằng theo hướng hiệu quả, bền vững.

Từ khóa: Cơ cấu ngành kinh tế; chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; sinh kế hộ gia đình; tỉnh Cao Bằng.

Abstract: Economic restructuring is one of the important aspects of the economic restructuring process in Cao Bang province. This study summarizes the current situation and the impact of economic restructuring on household livelihoods, and proposes directions and solutions to promote economic restructuring in Cao Bang province in an effective and sustainable manner.

Keywords: Economic structure; economic restructuring; household livelihoods; Cao Bang province.

1. Đặt vấn đề

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng bền vững đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao chất lượng sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng nói riêng và Việt Nam nói chung. Là tỉnh miền núi, biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam, Cao Bằng có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng và giao thương quốc tế. Bên cạnh đó, tỉnh có đường biên giới dài tiếp giáp với Trung Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế cửa khẩu và thương mại biên mậu. Trong những năm qua, thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh đã có những chuyển biến rõ nét, thể hiện ở việc giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; đồng thời, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.

Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh còn chậm và thiếu tính đột phá; tiềm năng, thế mạnh của địa phương chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả; quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; giá trị gia tăng và sức cạnh tranh còn thấp. Những năm gần đây, tỉnh Cao Bằng đã triển khai nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tác động trực tiếp đến sinh kế hộ gia đình. Đặc biệt, Nghị quyết số 68 – NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo động lực mới cho việc phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong chuyển dịch cơ cấu ngành và tạo việc làm ở địa phương. Tuy nhiên, mức độ và chiều hướng tác động vẫn cần được đánh giá toàn diện và có cơ sở khoa học. Thực tế cho thấy, bên cạnh những tác động tích cực, như: tăng thu nhập, đa dạng hóa nguồn sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, quá trình chuyển dịch cũng có thể làm gia tăng rủi ro đối với các hộ có nguồn lực hạn chế hoặc thiếu khả năng thích ứng. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, tác động của quá trình chuyển dịch tới sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng và đề xuất giải pháp là nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý thuyết

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, thành phần và vùng kinh tế có quan hệ hữu cơ, tương tác lẫn nhau, tạo thành một hệ thống vững chắc. Cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lãnh thổ (vùng). Cơ cấu ngành kinh tế là sự phân chia và tỷ trọng giữa 3 nhóm ngành chính: nông – lâm – ngư nghiệp; công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Khung sinh kế bền vững và sinh kế bền vững theo cách tiếp cận của Bộ Phát triển Quốc tế (DFID) (2001)1, đã cung cấp nền tảng cho cách tiếp cận lý thuyết và khái niệm hóa tài sản sinh kế của hộ gia đình, chiến lược và tiềm năng bền vững cho kết quả sinh kế.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Một là, phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp. Thực trạng cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay thể hiện ở tỷ trọng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ; tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng qua các chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người trên 01 tháng; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động; tỷ lệ hộ nghèo. Các nguồn tài liệu được thu thập từ Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cao Bằng, Cục Thống kê tỉnh Cao Bằng, các luận văn, luận án và các tài liệu có liên quan.

Hai là, phương pháp thu thập thông tin sơ cấp. Tác giả lựa chọn mẫu khảo sát theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên nhằm bảo đảm tính đại diện. Cụ thể, các hộ gia đình được phân theo khu vực địa lý (thành thị, nông thôn, vùng sâu vùng xa) và theo mức độ tham gia vào các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp – xây dựng, dịch vụ). Từ mỗi nhóm, các hộ được lựa chọn ngẫu nhiên để tiến hành điều tra, với quy mô mẫu đủ lớn nhằm bảo đảm độ tin cậy của kết quả phân tích. Phương pháp này giúp phản ánh đầy đủ sự khác biệt về sinh kế giữa các nhóm hộ; đồng thời, tăng khả năng khái quát hóa kết quả nghiên cứu đối với toàn tỉnh Cao Bằng.

Quy mô mẫu khảo sát dự kiến là 200 phiếu, được phân bổ cho các nhóm đối tượng nghiên cứu trên2. Sau khi tiến hành sàng lọc và loại bỏ các phiếu khảo sát không hợp lệ, bộ dữ liệu thu thập được bảo đảm độ tin cậy cần thiết cho các phân tích tiếp theo. Nguồn số liệu này phản ánh tương đối đầy đủ thực trạng cũng như các vấn đề đặt ra trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tác động của nó đến sinh kế hộ gia đình tại Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay.

3. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Cao Bằng

Cơ cấu kinh tế tỉnh Cao Bằng chuyển dịch theo hướng tích cực. Trong đó, ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng chủ đạo và tiếp tục mở rộng, tăng từ 53,5% (năm 2021) lên 59,83% (năm 2025). Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng cao thứ hai trong cơ cấu kinh tế của tỉnh qua các năm. Ngược lại, tỷ trọng của ngành giảm xuống từ 22,41% (năm 2021) xuống còn 19,63% (năm 2025) trong cơ cấu kinh tế. Là ngành chiếm tỷ trọng thứ ba trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, công nghiệp và xây dựng tăng lên 0,63% trong hai năm 2021 – 2022, tuy nhiên, tỷ trọng ngành này giảm xuống còn 18,17% (năm 2023). Tỷ lệ này bắt đầu tăng lên giai đoạn 2023 – 2025, cụ thể tăng từ 18,17 (năm 2023) lên 20,54% (năm 2025). Dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất và có xu hướng tăng lên về mặt tỷ trọng từ 53,35% (năm 2021) lên 56,17% (năm 2025). Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm tỷ trọng thấp nhất và giảm qua các năm từ 4,11% (năm 2021) xuống 3,66% (năm 2025)3.

Như vậy, mặc dù chuyển dịch còn chậm, tuy nhiên, việc giá trị sản xuất hàng hóa của các ngành tăng lên qua các năm thể hiện tính tích cực trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Cao Bằng.

Bảng 1. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2021 – 2024

Đơn vị: tỷ đồng

NămNgành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sảnNgành công nghiệp và xây dựngNgành dịch vụ
20214506.23944.410587.2
20224734.94132.411638.3
20234824.74232.712927
20245249478714236
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng, 2024

Bảng 1 thể hiện giá trị ngành dịch vụ cao nhất và tăng lên qua các năm. Trong giai đoạn 2021 – 2024, giá trị của khu vực dịch vụ có xu hướng tăng lên đáng kể, từ 10.587,2 tỷ đồng (năm 2021) lên 14.236 tỷ đồng (năm 2024). Giá trị ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng từ 4.506,2 tỷ đồng (năm 2021) lên 5.249 tỷ đồng (năm 2024). Ngành công nghiệp và xây dựng có giá trị sản xuất thấp nhất, song chỉ tiêu này cũng tăng trong giai đoạn 2021 – 2024, từ 3.944,4 tỷ đồng (năm 2021) lên 4.787 tỷ đồng (năm 2024).

Khu vực dịch vụ đóng vai trò chủ đạo, phát triển nhanh trong cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Cao Bằng. Trong đó, chiếm tỷ trọng cao nhất trong khu vực này là bán lẻ đạt 9.349,2 tỷ đồng; dịch vụ lưu trú, ăn uống đứng thứ hai đạt 1.816 tỷ đồng; du lịch, lữ hành và các dịch vụ khác đạt tương ứng 14,6 tỷ đồng và 778,8 tỷ đồng . Các chỉ tiêu này đều tăng so với năm 2023. Trong giai đoạn 2021 – 2025, Cao Bằng phát triển du lịch dần trở thành ngành kinh tế quan trọng. Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng tiếp tục được khai thác hiệu quả, khẳng định thương hiệu du lịch đặc sắc của tỉnh. Ngành khai khóang và sản xuất, phân phối điện tăng khá; riêng ngành chế biến, chế tạo giảm do khó khăn về thị trường và việc tạm dừng sản xuất để bảo dưỡng của Công ty Cổ phần Gang thép Cao Bằng. Trong giai đoạn hiện nay, nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò nền tảng trong ổn định kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh lương thực của tỉnh. Cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng chăn nuôi, lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp, giảm dần phụ thuộc vào trồng trọt3.

4. Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng

Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng được thể hiện ở Bảng 2 với các tiêu chí:  tăng cơ hội việc làm, tăng thu nhập của hộ, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo

Bảng 2. Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng

STTChỉ tiêuĐiểm trung bình
1Tăng cơ hội việc làm3.69
2Tăng thu nhập hộ3.78
3Tỷ lệ hộ nghèo3.59
Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát của tác giả

Bảng 2 cho thấy, chỉ tiêu tăng thu nhập của hộ được đánh giá cao nhất với 3.78 điểm. Điều này cho thấy rằng, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập và nâng cao mức số hộ gia đình tỉnh Cao Bằng.

Hình 2 thể hiện thu nhập bình quân đầu người tỉnh Cao Bằng, Trung du miền núi phía Bắc và ở Việt Nam đều có xu hướng tăng lên. Trong đó Cao Bằng tăng 357 nghìn đồng trong giai đoạn 2021 – 2024, Trung du miền núi phía Bắc và ở Việt Nam tăng 921 nghìn đồng và 1210 nghìn đồng/người/tháng5. Mặc dù có sự tăng lên, tuy nhiên mức tăng của tỉnh Cao bằng còn tương đối thấp so với các nước trong cùng một vùng và so với cả nước. Đáng chú ý, khoảng cách chênh lệch về mức thu nhập bình quân đầu người/tháng của Cao Bằng so với cả nước càng ngày càng có xu hướng gia tăng (1932 nghìn đồng/người/tháng năm 2021, tăng lên 2785 nghìn đồng/người/tháng năm 2024)6. Điều này cho thấy, mặc dù kinh tế địa phương có cải thiện, nhưng cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng hiệu quả hơn nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và cải thiện sinh kế cho người dân.

Hình 3  thể hiện thu nhập bình quân đầu người trên 01 tháng của người dân Cao Bằng có xu hướng tăng lên từ các nguồn tiền lương, tiền công; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; và các nguồn thu khác. Thu nhập từ nguồn thu nhập phi nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có xu hướng giảm trong giai đoạn 2021 – 2023 và phục hồi vào năm 2024.

Trong các nguồn, thu nhập bình quân đầu người/tháng cao nhất từ tiền lương, tiền công. Cụ thể, năm 2021, mức thu nhập bình quân đầu người là 1.130 nghìn đồng; đến năm 2024, thu nhập đã tăng lên 1.401 nghìn đồng/người/tháng. Thu nhập bình quân đầu người/tháng từ nguồn nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đứng thứ hai trong tổng số nguồn thu, tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng trong bảo đảm an ninh lương thực và sinh kế cho người dân. Bên cạnh đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp đã giúp thu nhập trong ngành này tăng lên từ 398 nghìn đồng/người/tháng năm 2021 lên 572 nghìn đồng/người/tháng năm 2024. Thu nhập từ các nguồn thu khác thấp nhất với 280 nghìn đồng/người/tháng năm 2021 và tăng lên 301 nghìn đồng/người/tháng năm 2024. Tuy nhiên, thu nhập từ ngành phi nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản lại giảm xuống trong giai đoạn 2021 – 2023 và tăng lên 356 nghìn đồng/người/tháng năm 2024.

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tác động đến tăng cơ hội việc làm, đa dạng hóa chiến lược sinh kế được đánh giá 3,69 điểm. Mức điểm này phản ánh xu hướng chuyển biến tương đối rõ nét trong việc mở rộng cơ hội việc làm ngoài khu vực nông nghiệp truyền thống, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Việc giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng cường phát triển công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đã tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp, như: chế biến, xây dựng, thương mại và du lịch, giúp người lao động có thêm lựa chọn ngoài sản xuất truyền thống. Nhờ đó, các hộ gia đình ngày càng chuyển sang chiến lược sinh kế đa dạng, kết hợp giữa nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ, lao động làm thuê hoặc kinh doanh nhỏ lẻ nhằm nâng cao thu nhập và giảm rủi ro.

Tăng cơ hội việc làm và đa dạng hóa chiến lược sinh kế của hộ gia đình của tỉnh Cao Bằng thể hiện ở tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động có xu hướng giảm xuống. Năm 2021, tỷ lệ thất nghiệp đạt 4,29% và giảm dần qua các năm; đến năm 2025, con số này chỉ còn 2,38%.

Chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đạt 3,59 điểm cho thấy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã góp phần cải thiện sinh kế và giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng.

Tỷ lệ hộ nghèo của Cao Bằng và vùng Trung du miền núi phía Bắc đều có xu hướng giảm rõ rệt trong giai đoạn 2021 – 2024. Cụ thể, Cao Bằng giảm từ 24,5% năm 2021 xuống còn 17% năm 2024, tương đương mức giảm 7,5 điểm phần trăm. Tương tự, khu vực Trung du miền núi phía Bắc cũng giảm từ 13,4% xuống 7,8%, giảm 5,6 điểm phần trăm. Mặc dù Cao Bằng luôn có tỷ lệ cao hơn mức trung bình vùng, song tốc độ giảm khá nhanh, đặc biệt giai đoạn 2023 – 2024. Điều này cho thấy, các chính sách phát triển kinh tế – xã hội và giảm nghèo đã phát huy hiệu quả tích cực, tuy nhiên, khoảng cách giữa Cao Bằng và mặt bằng chung của vùng vẫn còn, đòi hỏi tiếp tục có giải pháp mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng.

(1) Sự chuyển dịch còn chậm và thiếu đồng bộ khiến cơ hội việc làm phi nông nghiệp chưa được mở rộng đáng kể, nhiều lao động vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp truyền thống với năng suất thấp.

(2) Một bộ phận hộ gia đình bị thu hẹp đất sản xuất nhưng chưa có kỹ năng để chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp, dẫn đến nguy cơ giảm thu nhập và gia tăng rủi ro sinh kế. Bên cạnh đó, trình độ lao động còn hạn chế, thiếu kỹ năng nghề và khả năng tiếp cận thị trường khiến việc tận dụng cơ hội từ các ngành mới gặp nhiều khó khăn.

(3) Sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực cũng làm gia tăng chênh lệch thu nhập giữa các nhóm hộ, đặc biệt là hộ nghèo và hộ ở vùng sâu, vùng xa.

4. Giải pháp

Từ những phân tích trên cho thấy, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã và đang tạo ra những tác động tích cực đến sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng, thể hiện qua việc tăng thu nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo. Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch vẫn còn chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững, gắn với đổi mới sáng tạo và bảo đảm an sinh xã hội. Nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có hiệu quả và từ đó tác động tích cực đến sinh kế hộ gia đình tỉnh Cao Bằng, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh đào tạo nghề và nâng cao chất lượng nguồn lao động nông thôn gắn với nhu cầu thị trường. Trước hết, cần rà soát, dự báo nhu cầu lao động theo từng ngành, như: công nghiệp chế biến, xây dựng, du lịch và dịch vụ để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, tránh tình trạng đào tạo không sát thực tiễn. Nội dung đào tạo cần chú trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm và khả năng thích ứng với môi trường làm việc mới; đồng thời, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp nhằm tạo cơ hội thực tập và việc làm sau đào tạo. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa hình thức đào tạo, như: đào tạo ngắn hạn, đào tạo tại chỗ, đào tạo gắn với mô hình sinh kế cụ thể nhằm tạo điều kiện cho lao động nông thôn, đặc biệt là lao động nghèo và dân tộc thiểu số, dễ dàng tiếp cận. Ngoài ra, việc hỗ trợ tài chính, tư vấn nghề nghiệp và thông tin thị trường lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả đào tạo, góp phần giúp người lao động chuyển đổi việc làm bền vững và nâng cao thu nhập.

Thứ hai, phát triển các ngành phi nông nghiệp có lợi thế địa phương nhằm tạo thêm việc làm; tăng cường liên kết sản xuất, tiêu thụ thông qua hợp tác xã và doanh nghiệp. Cụ thể, tỉnh cần ưu tiên phát triển các ngành, như: công nghiệp chế biến nông, lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, thương mại, dịch vụ và đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa dân tộc. Những ngành này không chỉ tận dụng nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ mà còn có khả năng thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp. Song song với đó, cần tăng cường liên kết sản xuất, tiêu thụ thông qua việc phát triển hợp tác xã kiểu mới và thúc đẩy vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị. Việc triển khai hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân sẽ là động lực quan trọng cho định hướng này .

Thứ ba, đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất hạ tầng, đặc biệt ở vùng khó khăn. Trước hết, cần ưu tiên phát triển hệ thống giao thông liên vùng, đường nông thôn và kết nối đến các khu sản xuất, khu du lịch nhằm giảm chi phí vận chuyển và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Đồng thời, việc nâng cấp hạ tầng điện, nước sạch, thủy lợi và viễn thông, đặc biệt là internet và chuyển đổi số, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó, cần đầu tư các công trình hạ tầng phục vụ trực tiếp sinh kế, như: chợ nông thôn, kho bảo quản, cơ sở chế biến và trung tâm logistics quy mô nhỏ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm địa phương.

Chú thích:
1. Department for International Development – DFID (2001). Sustainable Livelihoods Guidance Sheets. London: UK Government.
2. Kết quả điều tra, khảo sát của tác giả trên mẫu 200 phiếu tại tỉnh Cao Bằng, tháng 6/2025.
3. Cục Thống kê tỉnh Cao Bằng (2025). Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng năm 2024.
4. Tỉnh ủy Cao Bằng (2025). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX.
5. Tổng cục Thống kê (2025). Niên giám thống kê Việt Nam năm 2024. H. NXB Thống kê.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Nguyễn Thị Huyền (2019). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên. Tạp chí Thông tin khoa học lý luận chính trị, số 5 (54)/2019, tr. 92 – 96.
4. Xây dựng Cao Bằng phát triển bền vững, nâng cao đời sống nhân dân. https://nhandan.vn/xay-dung-cao-bang-phat-trien-ben-vung-nang-cao-doi-song-nhan-dan-post966513.html