Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong quản lý phát triển xã hội bền vững

Ensuring the harmonization of interests among social classes and strata in the governance of sustainable social development

TS. Đào Thị Hữu
Học viện Ngân hàng

(Quanlynhanuoc.vn) – Quản lý phát triển xã hội bền vững là một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030 được đặt ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng luôn đề ra mục tiêu phát triển đất nước bền vững, toàn diện, bao trùm “phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội”. Để đạt được mục tiêu đó, việc giải quyết hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội là một nội dung quan trọng trong quản lý phát triển xã hội bền vững tạo cơ cở cho xây dựng khối liên minh giai cấp, tầng lớp trong xã hội, khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, động lực để đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Bài viết tập trung làm rõ nội dung, vai trò và các giải pháp để xử lý hài hòa lợi ích trong mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp ở Việt Nam hiện nay góp phần quản lý phát triển xã hội bền vững.

Từ khóa: Hài hòa lợi ích; quản lý phát triển xã hội; công bằng xã hội; dân chủ; chủ nghĩa xã hội.

Abstract: The management of sustainable social development is one of the national development orientations for the 2026–2030 period set out in the Resolution of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam. Throughout its leadership in building socialism, the Communist Party of Vietnam has consistently pursued the goal of sustainable, comprehensive, and inclusive national development by promoting economic growth alongside social progress and equity. Achieving this goal requires the harmonization of interests among different social classes and strata, which constitutes a key component of sustainable social development management. It provides a foundation for strengthening alliances among social classes and strata, reinforcing the great national unity bloc, promoting the People’s right to mastery, and serving as a driving force for the country’s steady progress towards socialism. This article clarifies the content, significance, and solutions for harmonizing interests among social classes and strata in contemporary Vietnam, thereby contributing to the management of sustainable social development.

Keywords: Harmonious interests, social development management, social justice, democracy, socialism.

1. Đặt vấn đề

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là một trong những đặc trưng bản chất, hàng đầu của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân ta xây dựng1. Muốn đất nước phát triển bền vững, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, tiến bộ thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân là một nội dung quan trọng trong quản lý phát triển xã hội. Trong thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa hội ở Việt Nam, vấn đề quan hệ giai cấp có nội dung, tính chất khác hẳn về chất so với các xã hội trước đây, trong đó trọng tâm không nằm ở đấu tranh giai cấp mà ở nhiệm vụ xây dựng khối liên minh vững chắc giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Liên minh giai cấp, tầng lớp nhân dân là cơ sở cho việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền bình đẳng, làm chủ của Nhân dân và bảo đảm công bằng xã hội. Khối liên minh ấy chỉ thực sự bền chặt khi được tạo dựng trên cơ sở hài hòa lợi ích, phát huy sức mạnh, sự đóng góp của các giai tầng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

2. Đặc trưng quan hệ giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Dựa trên nền tảng hệ tư tưởng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với những yêu cầu của thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước, Đảng và Nhân dân đã lựa chọn con đường phát triển đất nước: quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một thời kỳ chuyển biến sâu sắc, triệt để xây dựng những nền tảng vật chất và tinh thần của chủ nghĩa xã hội; đồng thời, là thời kỳ diễn ra lâu dài, khó khăn, phức tạp. Tính phức tạp thể hiện ở chỗ có sự đan xen, lồng ghép, đấu tranh giữa cái cũ và cái mới trên mọi lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị đến tư tưởng, văn hóa. Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội không phải là mô hình sẵn có để bắt chước làm theo mà là một hiện thực được sáng tạo ra nhờ hoạt động thực tiễn của con người. Điều này đòi hỏi sự quản lý phát triển xã hội cần có định hướng, giải pháp đúng góp phần thúc đẩy cái mới tiến bộ ra đời, từng bước tạo tiền đề, cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. Giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ quan trọng trong quản lý phát triển xã hội bền vững. Việc này đòi hỏi chú ý đến những đặc trưng của quan hệ giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, cơ cấu xã hội – giai cấp ở Việt Nam hiện có tính chất đa dạng, biến đổi phức tạp. Kể từ Đại hội VI của Đảng, với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh các giai tầng cơ bản, như: công nhân, nông dân, trí thức, xã hội Việt Nam đã xuất hiện những tầng lớp, nhóm xã hội mới và có sự biến đổi phức tạp diễn ra trong nội bộ từng giai cấp và giữa các giai cấp. Hiện nay cơ cấu xã hội – giai cấp ở Việt Nam bao gồm những giai cấp, tầng lớp cơ bản như sau: giai cấp công nhân Việt Nam, giai cấp nông dân Việt Nam, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam, đội ngũ doanh nhân Việt Nam, phụ nữ Việt Nam, thế hệ trẻ Việt Nam. Ngoài ra, còn có các nhóm xã hội, như: cựu chiến binh, người cao tuổi, người Việt Nam ở nước ngoài…

Thứ hai, mỗi giai cấp, tầng lớp đều có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế – xã hội của đất nước. Trong đó, giai cấp công nhân Việt Nam giữ vị trí tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giai cấp nông dân Việt Nam giữ vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chủ thể xây dựng nông thôn mới. Đội ngũ trí thức Việt Nam là nòng cốt trong xây dựng nền kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển xã hội nhanh và bền vững. Ngoài ra các nhóm xã hội, như: phụ nữ, thế hệ trẻ, người cao tuổi đều có những đóng góp vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Thứ ba, các giai cấp, tầng lớp có mối quan hệ vừa đấu tranh, vừa hợp tác, liên minh, trong đó xu hướng liên minh là xu hướng chủ đạo. Do vị trí, vai trò khác nhau trong kết cấu kinh tế – xã hội làm cho mỗi giai cấp, tầng lớp đều có vai trò riêng của mình trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước; đồng thời, giữa các giai cấp, tầng lớp cũng có sự phụ thuộc, nương tựa vào nhau để tồn tại, phát triển; sự chuyển hóa lẫn nhau theo xu hướng từng bước xóa bỏ sự phân biệt giai cấp, tiến tới giải phóng giai cấp, công bằng xã hội. Vì vậy, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự khác biệt dẫn đến sự phân biệt giai cấp, đấu tranh giai cấp vẫn còn tồn tại, nhưng xu hướng chủ đạo là các giai cấp ngày càng xích lại gần nhau, liên minh với nhau vì nhu cầu, lợi ích của bản thân mỗi giai cấp, tầng lớp và vì mục tiêu chung xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là đạt được các giá trị công bằng, dân chủ, tự do cho nên giải phóng giai cấp là tiền đề cho giải phóng con người, là yếu tố chi phối quan hệ giai cấp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ tư, vấn đề cơ bản của việc giải quyết quan hệ giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề hài hòa lợi ích. Điều này xuất phát từ xu hướng chủ đạo của quan hệ giai cấp trong thời kỳ này là xu hướng liên minh nên việc xử lý hài hòa lợi ích là cơ sở quan trọng cho sự thống nhất giữa các giai cấp; lợi ích là vấn đề cơ bản và xuất phát của quan hệ giữa con người với con người. Trong mọi chế độ xã hội, ở mọi thời đại, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa con người và con người chính là vấn đề chính yếu của phát triển xã hội. Quan hệ lợi ích này được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống từ lĩnh vực kinh tế, đến chính trị, tư tưởng, văn hóa. Xã hội chỉ phát triển khi những mâu thuẫn lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp được giải quyết trên cơ sở hài hòa, thống nhất chứ không phải bằng cách triệt tiêu, cực đoan hóa sự khác biệt, đấu tranh giai cấp. Ở những giai đoạn lịch sử có tính chất bước ngoặt, một hình thái kinh tế – xã hội mới ra đời thay thế hình thái kinh tế xã hội cũ, sự hài hòa lợi ích giữa các giai cấp luôn là kết thúc cho trạng thái cũ và khởi đầu cho giai đoạn phát triển mới của lịch sử. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, hài hòa lợi ích là vấn đề xuyên suốt trong quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.

3. Nội dung và vai trò của việc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp trong quản lý phát triển xã hội bền vững

Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội là mội trong những nội dung quan trọng trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn 2045 mà Đại hội XIV đã đặt ra. Mục tiêu phát triển vì một nước Việt Nam “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”2.

Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội là định hướng phát triển xã hội toàn diện, bao trùm, trong đó nhấn mạnh tính cân bằng giữa phát triển phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội, chăm lo đời sống cho Nhân dân và bảo vệ môi trường. Quản lý phát triển xã hội bền vững là một cơ chế, chính sách, mô hình quản lý xã hội hiện đại, hiệu quả để không một lĩnh vực nào, không một ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển3.  Đó cũng là quá trình “xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý trên cơ sở hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội”; khuyến khích sự sáng tạo trong “quản trị phát triển cộng đồng bền vững”4. Như vậy, quản lý phát triển xã hội bền vững theo tinh thần Đại hội XIV nhấn mạnh ba trụ cột: kinh tế – xã hội, môi trường, không hy sinh công bằng, an sinh xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần, lấy con người là trung tâm của sự phát triển, “lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”5. Vì vậy, việc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp là một nội dung trong quản lý phát triển triển xã hội bền vững thực hiện dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội. Hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp là việc giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp trên mọi lĩnh vực của đời sống một cách phù hợp để mỗi giai cấp, tầng lớp đều phát huy được vai trò của mình trong hệ thống kinh tế – xã hội, tạo động lực cho sự phát triển đất nước.

Nội dung bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp thể hiện ở các phương diện chính như sau:

Một là, bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trong việc thực hiện quyền lợi chính đáng và trách nhiệm của mỗi giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân xây dựng là hướng tới thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, ở đó mỗi công dân dù thuộc thành phần giai cấp, tầng lớp nào đều bình đẳng. Vì vậy, mọi người dân đều cần được trao quyền làm chủ, được tạo môi trường để thực thi quyền làm chủ của mình và tự chịu trách nhiệm. Về kinh tế, sự bình đẳng được thể hiện trong phân phối công bằng lợi ích kinh tế theo năng lực, cống hiến và hiệu quả lao động; về chính trị, mọi giai cấp, tầng lớp đều được tham gia thảo luận, giám sát và quyết định các vấn đề lớn của đất nước; về xã hội, tôn trọng và bảo đảm các lợi ích chính đáng khác của Nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống, như: giáo dục, y tế, văn hóa; về tư tưởng, mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, được quyền bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình trong phạm vi pháp luật cho phép.

Hai là, xây dựng khối liên minh giai cấp, tầng lớp trên cơ sở thống nhất chung về lợi ích, kết hợp chặt chẽ lợi ích của các giai cấp, tầng lớp Nhân dân. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, mỗi giai cấp, tầng lớp đều có vị trí, vai trò đặc biệt, quan trọng trong hệ thống kinh tế – xã hội, có đóng góp nhất định cho sự phát triển của đất nước; đồng thời, các giai cấp có thể hợp tác, hỗ trợ nhau cũng phát triển để đạt nhu cầu, mục tiêu chung là xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là xóa bỏ bất bình đẳng giai cấp, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ba là, phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm công bằng, phúc lợi và an sinh xã hội. Đây cũng là khía cạnh quan trọng trong quản lý phát triển xã hội bền vững. Sự hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp là vấn đề giai cấp xuyên suốt trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chỉ có được khi xã hội phát triển toàn diện và bền vững trên mọi lĩnh vực.

Với những nội dung trên, việc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp góp phần quan trọng trong quản lý phát triển xã hội bền vững: xây dựng khối liên minh giai cấp vững mạnh làm cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo sự đồng thuận xã hội tạo động lực cho đất nước đổi mới, phát triển.

4. Các giải pháp góp phần bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp ở Việt Nam hiện nay

Trước hết, xây dựng môi trường dân chủ, hoàn thiện chính sách, đảm bảo an sinh xã hội. Đảng đại biểu cho lợi ích chung của mọi tầng lớp nhân dân, chứ không phải mưu cầu cho lợi ích riêng của nhóm người nào. Vì vậy, mọi quan điểm, tư tưởng và các quyết sách của Đảng đều đặt lợi ích của Nhân dân làm đầu, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, không phân biệt giai tầng, xây dựng sự đoàn kết vững mạnh từ trong Đảng. Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chính sách an sinh xã hội và các công cụ quản lý tác động, điều chỉnh các quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp theo hướng ngăn ngừa xung đột, giảm bất bình đẳng, tạo cơ hội phát triển cho mọi người dân. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, do tính phức tạp của trạng thái đan xen giữa cái cũ và cái mới cho nên dấu vết của chủ nghĩa cá nhân, sự kỳ thị giai cấp vẫn còn tồn tại; đồng thời, sự tồn tại đan xen của nhiều loại hình quan hệ sản xuất nên mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các giai tầng vẫn xảy ra. Do đó, Đảng và Nhà nước lấy lợi ích của Nhân dân làm gốc rễ, cần nhận diện kịp thời, có các chính sách, chế tài để xử lý các mâu thuẫn phát sinh giữa các giai tầng, nhóm xã hội. Đồng thời, Nhà nước thông qua các công cụ, như: thuế, chính sách tiền lương, trợ cấp và phúc lợi hỗ trợ người yếu thế, giảm khoảng cách giàu nghèo, tạo điều kiện cho mọi người dân được tiếp cận điều kiện để phát triển.

Xây dựng khối liên minh giai cấp, tầng lớp vững mạnh, lấy lợi ích chung làm cơ sở xây dựng sự thống nhất, đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp. Tuy có vị trí, vai trò khác nhau trong hệ thống kinh tế – xã hội nhưng các giai cấp, tầng lớp ở Việt Nam đều có chung lợi ích quốc gia – dân tộc, có chung mục tiêu, lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội, chung khát vọng làm chủ, độc lập, tự  do, phát triển toàn diện, chung một nền văn hóa thấm đẫm các giá trị nhân văn, nhân ái. Đó chính là chất keo gắn kết, là “công cụ quyền lực mềm” để điều chỉnh quan hệ giai cấp.

Phát huy vai trò, thế mạnh của tất cả các giai cấp, tầng lớp trong hệ thống kinh tế – xã hội để mỗi người dân đều có cơ hội cống hiến và thụ hưởng thành quả phát triển. Mỗi giai cấp, tầng lớp đều được tạo điều kiện để nâng cao vai trò chủ thể trong xây dựng và phát triển xã hội, phát huy năng lực, nêu cao trách nhiệm với quốc gia – dân tộc.

5. Kết luận

Hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp là yếu tố quan trọng thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng khối liên minh giai cấp, tạo động lực cho đất nước vững bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để xử lý hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp trong quản lý phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay là trách nhiệm của toàn bộ các chủ thể trong hệ thống kinh tế – xã hội từ các tổ chức chính trị – xã hội cho đến toàn thể Nhân dân. Đất nước chỉ thực sự dân chủ, tiến bộ, văn minh, hiện đại chỉ khi mỗi người dân không phân biệt giai cấp, tầng lớp xuất thân đều được tạo cơ hội phát triển, được tôn trọng, làm chủ, hạnh phúc, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 68.
2, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 375, 380, 382.
3. Quản lý phát triển xã hội bền vững, đảm bảo tiến bộ công bằng xã hội trong kỷ nguyên mới. https://btgdvtukhanhhoa.vn/ly-luan-chinh-tri/quan-ly-phat-trien-xa-hoi-ben-vung-dam-bao-tien-bo-cong-bang-xa-hoi-trong-k-ngu