Innovating the supervisory activities of the commune-level people’s council in the context of reforming state governance
TS. Lê Thị Vân Anh
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, yêu cầu nâng cao chất lượng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã, tập trung vào các bất cập về nội dung, phương thức, năng lực đại biểu và cơ chế theo dõi sau giám sát. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp đổi mới theo hướng tăng cường tính thực chất của giám sát, nâng cao trách nhiệm giải trình, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi kiến nghị giám sát và thúc đẩy ứng dụng công nghệ số. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung luận cứ khoa học cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã trong bối cảnh đổi mới quản trị nhà nước.
Từ khóa: Giám sát; Hội đồng nhân dân cấp xã; quản trị địa phương; trách nhiệm giải trình; đổi mới quản trị.
Abstract: In the context of continuing to improve the two-tier local government model toward greater streamlining, effectiveness, and efficiency, the requirement to enhance the quality of supervisory activities of commune-level People’s Councils has become increasingly urgent. This article analyzes the current state of supervisory activities of commune-level People’s Councils, focusing on limitations related to supervisory content, methods, delegates’ capacity, and post-supervision monitoring mechanisms. On that basis, the article proposes solutions to innovate supervisory activities toward strengthening their substantive nature, enhancing accountability, improving mechanisms to ensure the implementation of supervisory recommendations, and promoting the application of digital technology. The research findings contribute additional scientific arguments for improving the effectiveness and efficiency of commune-level People’s Councils in the context of public governance reform.
Keywords: Supervision; commune-level People’s Council; local governance; accountability; governance innovation.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước và hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế quyền lực nhà nước ở cơ sở ngày càng trở nên cấp thiết. Trong đó, Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương giữ vị trí quan trọng trong việc thực hiện chức năng giám sát, góp phần kiểm soát quyền lực và bảo đảm trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính cùng cấp.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, hoạt động giám sát của HĐND cấp xã đã có những chuyển biến nhất định, từng bước góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới quản trị nhà nước và yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo hướng hiện đại, hoạt động giám sát vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, như: nội dung giám sát còn dàn trải, thiếu trọng tâm; phương thức giám sát chậm đổi mới; năng lực của đại biểu chưa đáp ứng yêu cầu; cơ chế theo dõi, đôn đốc sau giám sát chưa hiệu quả. Những hạn chế này làm giảm tính thực chất của hoạt động giám sát, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp đổi mới theo hướng nâng cao tính thực chất của giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình và hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi kiến nghị giám sát, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của HĐND cấp xã trong giai đoạn hiện nay.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Hoạt động giám sát của HĐND cấp xã được đặt trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương, gắn với yêu cầu bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị công. Về bản chất, giám sát không chỉ là việc theo dõi, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật mà còn là quá trình đánh giá hiệu quả thực thi chính sách, qua đó, phát hiện bất cập và kiến nghị điều chỉnh phù hợp.
Từ góc độ lý luận quản trị công, hoạt động giám sát của HĐND cấp xã có thể được tiếp cận theo ba trục cơ bản. (1) Tiếp cận theo lý thuyết kiểm soát quyền lực, trong đó giám sát được xem là công cụ quan trọng nhằm hạn chế lạm quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục tiêu và khuôn khổ pháp luật. (2) Tiếp cận theo lý thuyết trách nhiệm giải trình, nhấn mạnh vai trò của giám sát trong việc buộc các chủ thể quản lý công phải giải trình về quyết định và kết quả thực hiện nhiệm vụ. (3) Tiếp cận theo quản trị công hiện đại, coi giám sát là một quá trình liên tục, dựa trên thông tin và dữ liệu, hướng tới nâng cao hiệu quả và chất lượng phục vụ người dân.
Trong bối cảnh đổi mới mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, hoạt động giám sát của HĐND cấp xã cần được chuyển từ cách tiếp cận hành chính truyền thống sang tiếp cận quản trị, trong đó nhấn mạnh tính thực chất, khả năng phát hiện vấn đề và hiệu lực thực thi các kiến nghị sau giám sát.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu được sử dụng để hệ thống hóa các quan điểm lý luận và quy định pháp luật liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND cấp xã; đồng thời, kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước đây nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu. Phương pháp phân tích thực tiễn được vận dụng thông qua việc xem xét các báo cáo, tài liệu tổng kết và thực trạng hoạt động giám sát ở cấp cơ sở, qua đó, nhận diện những hạn chế mang tính phổ biến và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, bài viết sử dụng phương pháp so sánh và đối chiếu giữa yêu cầu của lý luận quản trị công hiện đại với thực tiễn hoạt động giám sát hiện nay nhằm làm rõ mức độ phù hợp và những điểm cần điều chỉnh. Phương pháp phân tích chuẩn tắc được sử dụng để đề xuất các định hướng và giải pháp đổi mới hoạt động giám sát của HĐND cấp xã, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với bối cảnh đổi mới quản trị nhà nước hiện nay.
3. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã
3.1. Hoạt động giám sát còn hình thức, thiếu trọng tâm và chiều sâu
Thứ nhất, nhiều chương trình giám sát được xây dựng theo hướng bao quát nhiều lĩnh vực nhằm bảo đảm tính đầy đủ, nhưng lại thiếu cơ chế lựa chọn vấn đề dựa trên mức độ rủi ro, tính cấp bách hoặc tác động xã hội. Thực tiễn hoạt động của HĐND cấp xã sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 cho thấy, nội dung giám sát ở nhiều địa phương vẫn chủ yếu tập trung vào việc nghe báo cáo, xem xét hồ sơ và đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ chung, trong khi số lượng các cuộc giám sát chuyên đề về quản lý đất đai, giải quyết khiếu nại, cải cách thủ tục hành chính hoặc quản lý đầu tư công ở cấp xã còn hạn chế. Theo Báo cáo của Bộ Nội vụ năm 2025 về tình hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương sau sắp xếp đơn vị hành chính, một số địa phương bước đầu đã đổi mới hoạt động giám sát theo hướng tăng cường giám sát chuyên đề và theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau giám sát, tuy nhiên, nhìn chung chương trình giám sát của HĐND cấp xã vẫn còn dàn trải, chưa xác định rõ các vấn đề trọng tâm gắn với những khó khăn, bất cập phát sinh trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp1.
Thực tiễn hiện nay, hoạt động giám sát của HĐND ở một số địa phương vẫn còn biểu hiện nặng về kiểm tra thủ tục, đánh giá hình thức đối với việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan chịu sự giám sát mà chưa đi sâu phân tích nguyên nhân của những hạn chế, bất cập cũng như xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể liên quan. Chất lượng chất vấn, giải trình và tranh luận tại một số phiên giám sát chưa thật sự hiệu quả, việc theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận sau giám sát còn thiếu tính thường xuyên và quyết liệt. Vì vậy, nhiều kiến nghị giám sát còn mang tính khái quát, thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm, chưa tạo được áp lực đủ mạnh để cơ quan chịu sự giám sát nghiêm túc khắc phục tồn tại và nâng cao hiệu quả thực thi nhiệm vụ.
Thứ hai, phương thức giám sát vẫn chủ yếu được thực hiện theo cách tiếp cận hành chính truyền thống, thiên về xem xét hồ sơ, báo cáo hơn là khảo sát thực tế và đối thoại đa chiều. Hoạt động thu thập thông tin của các đoàn giám sát phần lớn dựa vào báo cáo do chính cơ quan chịu sự giám sát cung cấp, trong khi việc kiểm chứng độc lập thông tin còn hạn chế. Điều này tạo ra nguy cơ “lệ thuộc thông tin”, khiến hoạt động giám sát khó phát hiện những sai lệch giữa báo cáo và thực tiễn triển khai.
Thực tiễn tại một số địa phương cho thấy, có trường hợp báo cáo của UBND cấp xã đánh giá tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính đúng hạn đạt mức cao, tuy nhiên, qua phản ánh của cử tri và kiểm tra thực tế vẫn tồn tại tình trạng hồ sơ giải quyết chậm, người dân phải bổ sung giấy tờ nhiều lần hoặc việc công khai thủ tục hành chính chưa bảo đảm đầy đủ. Trong một số cuộc giám sát về quản lý đất đai và giải quyết kiến nghị của công dân, kết quả khảo sát thực địa của đại biểu HĐND cho thấy, có sự khác biệt giữa số liệu báo cáo và tình hình thực tế tại cơ sở, đặc biệt liên quan đến tiến độ xử lý vi phạm đất đai hoặc giải quyết đơn thư kéo dài2.
Bên cạnh đó, trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, yêu cầu nâng cao tính công khai, minh bạch và tăng cường sự tham gia của người dân trong hoạt động giám sát của HĐND ngày càng trở nên cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều hoạt động giám sát vẫn chủ yếu được tiến hành thông qua việc xem xét báo cáo và làm việc với cơ quan hành chính nhà nước, trong khi sự tham gia trực tiếp của người dân, doanh nghiệp và các nhóm chịu tác động của chính sách còn tương đối hạn chế. Việc thiếu các cơ chế đối thoại, tham vấn và tiếp nhận phản hồi đa chiều từ xã hội đã làm cho một số nội dung giám sát chưa phản ánh đầy đủ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình quản lý và tổ chức thực hiện chính sách ở địa phương. Đồng thời, cũng làm hạn chế khả năng phát hiện sớm các vấn đề nổi cộm và ảnh hưởng đến tính khách quan, thực tiễn của kết luận giám sát.
Thứ ba, hoạt động chất vấn – một trong những công cụ giám sát trực tiếp và hiệu quả của HĐND chưa được phát huy đúng mức. Theo tổng hợp của Bộ Nội vụ năm 2025, số lượng phiên giải trình và chất vấn chuyên đề ở nhiều địa phương còn thấp, nội dung chất vấn chủ yếu tập trung vào phản ánh tình hình chung, chưa đi sâu làm rõ trách nhiệm cá nhân và nguyên nhân của các hạn chế trong quản lý địa phương. Chẳng hạn, trong quá trình giám sát về quản lý trật tự xây dựng và giải quyết thủ tục hành chính tại một số địa phương, đại biểu HĐND chủ yếu tập trung phản ánh tình trạng chậm xử lý hồ sơ hoặc tồn tại vi phạm kéo dài, nhưng chưa làm rõ trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức trực tiếp phụ trách lĩnh vực hoặc trách nhiệm quản lý của người đứng đầu UBND cấp xã3. Điều này dẫn đến việc nhiều vấn đề được nêu đi nêu lại qua các kỳ họp nhưng chậm được khắc phục.
Hoạt động chất vấn của HĐND tại một số địa phương hiện nay vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương. Trong nhiều trường hợp, nội dung chất vấn còn mang tính trao đổi hành chính, thiên về yêu cầu cung cấp thông tin hoặc giải trình tình hình thực hiện nhiệm vụ mà chưa đi sâu làm rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân được chất vấn đối với những hạn chế, bất cập phát sinh trong thực tiễn quản lý. Một số đại biểu HĐND còn tâm lý nể nang, ngại va chạm hoặc chưa có nhiều kỹ năng phản biện, truy vấn nên câu hỏi chất vấn còn dàn trải, thiếu trọng tâm và chưa tạo được áp lực đủ mạnh đối với cơ quan chịu sự giám sát.
Bên cạnh đó, kết quả giám sát ở nhiều nơi vẫn chưa phản ánh đầy đủ bản chất và mức độ của các vấn đề quản lý phát sinh trong thực tiễn. Một số báo cáo giám sát còn thiên về mô tả tình hình, ghi nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ hoặc nêu các tồn tại chung chung mà chưa đi sâu phân tích nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể cũng như tác động của vấn đề đối với đời sống kinh tế – xã hội ở địa phương. Trong các lĩnh vực, như: quản lý đất đai, giải quyết thủ tục hành chính hoặc thực hiện chính sách an sinh xã hội, nội dung giám sát nhiều khi mới tập trung vào số lượng hồ sơ đã giải quyết hoặc tiến độ triển khai nhiệm vụ mà chưa làm rõ nguyên nhân của tình trạng chậm trễ, tồn đọng hay mức độ hài lòng của người dân đối với chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Vì vậy, nhiều kết luận giám sát vẫn mang tính khái quát, chủ yếu dừng ở các kiến nghị chung như “tăng cường”, “đẩy mạnh” hoặc “khắc phục tồn tại” mà chưa gắn với yêu cầu cụ thể về trách nhiệm và giải pháp thực hiện.
Trong bối cảnh đổi mới quản trị địa phương hiện nay, hoạt động giám sát của HĐND không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tính tuân thủ pháp luật và quy trình hành chính mà cần hướng đến đánh giá hiệu quả quản lý, chất lượng cung ứng dịch vụ công và khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, năng lực phân tích, tổng hợp và đánh giá chính sách của một bộ phận đại biểu HĐND cấp xã vẫn còn hạn chế; việc khai thác dữ liệu thực tiễn, phản hồi của người dân và thông tin từ các nhóm chịu tác động trực tiếp của chính sách trong quá trình xây dựng kết luận giám sát chưa được chú trọng đầy đủ. Do đó, một số hoạt động giám sát vẫn chủ yếu phản ánh hiện tượng mà chưa đi sâu làm rõ nguyên nhân và tác động của vấn đề quản lý. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng phân tích chính sách và khả năng sử dụng thông tin thực tiễn của đại biểu HĐND nhằm nâng cao chất lượng giám sát và tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Hạn chế về năng lực chủ thể và điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát
Thứ nhất, xét về năng lực chủ thể, đại biểu HĐND cấp xã phần lớn hoạt động kiêm nhiệm; đồng thời, đảm nhiệm nhiều vị trí công tác khác trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Theo báo cáo của Bộ Nội vụ về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương năm 2025, tỷ lệ đại biểu HĐND cấp xã hoạt động chuyên trách còn thấp; nhiều đại biểu đồng thời đảm nhiệm chức vụ trong các tổ chức chính trị – xã hội hoặc cơ quan hành chính ở địa phương4. Thực tế này ảnh hưởng đáng kể đến khả năng đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tiễn và theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.
Bên cạnh đó, nhiều đại biểu HĐND cấp xã chưa được đào tạo bài bản về các kỹ năng giám sát. Điều này thể hiện khá rõ tại một số phiên chất vấn và giám sát chuyên đề ở cơ sở, khi nội dung trao đổi chủ yếu xoay quanh tình hình thực hiện nhiệm vụ chung mà chưa đi sâu làm rõ nguyên nhân của những hạn chế hoặc trách nhiệm cá nhân trong quản lý địa phương. Việc thiếu kỹ năng phân tích và truy vấn cũng khiến cho một số kiến nghị giám sát còn mang tính khái quát, chưa tạo được áp lực đủ mạnh để nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính ở địa phương.
Thứ hai, các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát còn nhiều bất cập. Trước hết là hạn chế về nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất. Kinh phí dành cho hoạt động giám sát ở cấp xã còn ở mức thấp, chủ yếu đáp ứng các hoạt động tối thiểu, chưa đủ để tổ chức các cuộc giám sát chuyên đề có chiều sâu hoặc khảo sát thực địa trên diện rộng. Theo phản ánh của một số địa phương trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, kinh phí phục vụ hoạt động khảo sát, thu thập thông tin và tổ chức giám sát chuyên đề còn hạn chế, dẫn đến việc nhiều đoàn giám sát chủ yếu làm việc tại trụ sở UBND cấp xã thay vì tổ chức kiểm tra thực tế tại địa bàn dân cư hoặc các công trình, dự án cụ thể5. Điều này làm giảm khả năng kiểm chứng thông tin và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kết luận giám sát.
Thực tiễn cho thấy, trong một số cuộc giám sát về quản lý đất đai, vệ sinh môi trường hoặc thực hiện chính sách an sinh xã hội, đoàn giám sát chủ yếu dựa trên hồ sơ và báo cáo do cơ quan chuyên môn cung cấp do không đủ điều kiện tổ chức khảo sát diện rộng hoặc tiếp cận đầy đủ các đối tượng chịu tác động của chính sách. Vì vậy, nhiều vấn đề phát sinh trong thực tiễn như tình trạng chậm giải quyết hồ sơ, ô nhiễm môi trường cục bộ hoặc bất cập trong chi trả chính sách hỗ trợ chỉ được phát hiện sau khi có phản ánh từ cử tri hoặc báo chí địa phương.
Bên cạnh đó, hệ thống thông tin phục vụ giám sát chưa được thiết lập đầy đủ và hiệu quả. Việc thu thập thông tin hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào báo cáo hành chính, trong khi các kênh dữ liệu độc lập và ứng dụng công nghệ trong xử lý, phân tích thông tin còn hạn chế. Chẳng hạn, ở nhiều địa phương, HĐND cấp xã chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử phục vụ theo dõi việc giải quyết kiến nghị cử tri, quản lý tiến độ thực hiện kết luận giám sát hoặc cập nhật phản ánh của người dân theo thời gian thực.
Trong khi đó, theo yêu cầu của cải cách hành chính và chuyển đổi số, hoạt động quản lý nhà nước cần dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Tuy nhiên, sự thiếu hụt về hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung và công cụ phân tích khiến hoạt động giám sát ở cấp xã khó chuyển sang mô hình “giám sát dựa trên dữ liệu”, vốn đang trở thành xu hướng của quản trị công hiện đại. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho hiệu quả giám sát của HĐND cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Thứ ba, cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị ở cơ sở chưa thực sự hiệu quả. Trong nhiều trường hợp, HĐND gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin kịp thời và đầy đủ từ các cơ quan chịu sự giám sát. Một số tài liệu, số liệu chuyên môn hoặc kết quả xử lý vụ việc được cung cấp còn chậm hoặc mang tính khái quát, gây khó khăn cho đại biểu HĐND trong việc kiểm chứng thông tin và đánh giá thực chất vấn đề quản lý. Điều này không chỉ làm giảm tính chủ động của hoạt động giám sát mà còn ảnh hưởng đến khả năng đưa ra kết luận khách quan và kiến nghị phù hợp với thực tiễn.
3.3. Bất cập trong cơ chế thực thi và hiệu lực sau giám sát
Một trong những hạn chế mang tính cốt lõi của hoạt động giám sát của HĐND cấp xã hiện nay không nằm ở khâu tổ chức thực hiện giám sát mà nằm ở cơ chế bảo đảm thực thi và hiệu lực của các kết luận, kiến nghị sau giám sát. Trên thực tế, mặc dù hoạt động giám sát vẫn được triển khai tương đối đầy đủ theo quy định, song khả năng chuyển hóa các kết quả giám sát thành những thay đổi cụ thể trong quản lý nhà nước còn rất hạn chế, làm cho giám sát chưa thực sự phát huy vai trò là công cụ kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm giải trình.
Thứ nhất, cơ chế bảo đảm thực hiện kiến nghị giám sát còn thiếu tính ràng buộc và chưa đủ mạnh để tạo áp lực thực thi. Theo Điều 89 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải quyết và báo cáo kết quả thực hiện kiến nghị sau giám sát. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu dừng ở mức nguyên tắc, chưa thiết lập được các chế tài cụ thể và hiệu quả đối với trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Điều này dẫn đến thực trạng khá phổ biến là kiến nghị giám sát được tiếp thu về mặt hình thức nhưng việc triển khai trong thực tiễn còn chậm, thậm chí có trường hợp bị “trôi” theo thời gian mà không có cơ chế xử lý rõ ràng.
Thứ hai, cơ chế theo dõi, đôn đốc và tái giám sát chưa được thiết kế một cách chặt chẽ và có hệ thống khiến cho chu trình giám sát bị đứt đoạn ở khâu “hậu giám sát”. Ở nhiều địa phương, việc theo dõi thực hiện kiến nghị chủ yếu dựa vào báo cáo của chính cơ quan chịu sự giám sát, trong khi thiếu các công cụ kiểm chứng độc lập và thiếu quy trình đánh giá lại kết quả thực hiện. Trong khi đó, theo tiếp cận quản trị công hiện đại, giám sát chỉ thực sự có ý nghĩa khi được vận hành như một chu trình khép kín, bao gồm: phát hiện vấn đề, kiến nghị xử lý, theo dõi thực hiện và tái giám sát để bảo đảm kết quả được thực thi đến cùng. Việc thiếu vắng cơ chế tái giám sát và đánh giá lại đã làm cho nhiều kiến nghị không được thực hiện triệt để, từ đó, làm giảm tính liên tục và hiệu quả của hoạt động giám sát.
Thứ ba, trách nhiệm giải trình của các chủ thể chịu sự giám sát chưa được xác lập và thực thi một cách đầy đủ. Mặc dù pháp luật đã quy định về nghĩa vụ giải trình, song trong thực tiễn, hoạt động giải trình ở cấp xã còn mang tính hình thức, chưa gắn với trách nhiệm cá nhân cụ thể và chưa trở thành tiêu chí quan trọng trong đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức. Điều này dẫn đến một nghịch lý là dù tồn tại các kết luận giám sát, nhưng việc xác định “ai chịu trách nhiệm” và “chịu trách nhiệm đến đâu” vẫn chưa rõ ràng, làm suy yếu vai trò của giám sát như một công cụ kiểm soát quyền lực.
Thứ tư, sự thiếu liên kết giữa hoạt động giám sát với các cơ chế đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương. Các kết luận, kiến nghị giám sát hiện nay ít được tích hợp vào hệ thống đánh giá kết quả thực thi nhiệm vụ của cơ quan hành chính hoặc của đội ngũ cán bộ, công chức, trong khi cải cách hành chính đang hướng tới việc đánh giá dựa trên kết quả và mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Sự tách rời này làm giảm động lực thực hiện kiến nghị giám sát, bởi các chủ thể chịu giám sát không chịu áp lực trực tiếp từ hệ thống đánh giá chính thức.
4. Một số giải pháp
Một là, cần đổi mới căn bản cách thức xác định nội dung và phương thức giám sát của HĐND cấp xã theo hướng tập trung, có trọng tâm và dựa trên bằng chứng. Hoạt động giám sát phải được thiết kế trên cơ sở lựa chọn các vấn đề có tính rủi ro cao, tác động lớn đến đời sống kinh tế – xã hội ở địa phương, thay vì dàn trải theo lĩnh vực quản lý. Việc xây dựng chương trình giám sát cần gắn với phân tích dữ liệu, phản ánh của người dân và các vấn đề nổi cộm trong thực tiễn, qua đó, bảo đảm giám sát đi đúng vào những “điểm nghẽn” của quản lý nhà nước. Đồng thời, cần đa dạng hóa phương thức giám sát theo hướng tăng cường khảo sát thực địa, đối thoại trực tiếp với đối tượng chịu tác động chính sách, kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin để thu thập và xử lý dữ liệu, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong quản trị công.
Hai là, nâng cao năng lực của chủ thể giám sát theo hướng chuyên nghiệp hóa và tăng cường hỗ trợ kỹ thuật. Trước hết, cần chú trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho đại biểu HĐND cấp xã, đặc biệt là kỹ năng phân tích chính sách, đánh giá tác động và truy vấn trách nhiệm. Đồng thời, cần từng bước thiết lập cơ chế hỗ trợ chuyên môn cho hoạt động giám sát, như: xây dựng mạng lưới chuyên gia tư vấn, tăng cường vai trò của các cơ quan tham mưu hoặc khai thác nguồn lực từ các tổ chức xã hội và cộng đồng. Trong bối cảnh nguồn lực ở cấp xã còn hạn chế, việc thiết kế một “hệ sinh thái hỗ trợ giám sát” là cần thiết để nâng cao chất lượng và chiều sâu của hoạt động này, phù hợp với thông lệ quản trị tốt về sử dụng tri thức và dữ liệu trong kiểm soát quyền lực.
Ba là, hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi và nâng cao hiệu lực sau giám sát, coi đây là khâu đột phá để chuyển hóa giám sát thành công cụ tạo thay đổi thực chất. Trước hết, cần bổ sung các quy định mang tính ràng buộc cao hơn đối với việc thực hiện kiến nghị giám sát, trong đó làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan, cá nhân và thiết lập chế tài phù hợp đối với trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế theo dõi, đôn đốc và tái giám sát một cách chặt chẽ, bảo đảm các kiến nghị được thực hiện chặt chẽ và được kiểm chứng độc lập. Việc thiết lập chu trình giám sát khép kín, từ phát hiện vấn đề, kiến nghị xử lý đến theo dõi và đánh giá kết quả là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu lực của hoạt động giám sát.
Bốn là, gắn kết hoạt động giám sát với cơ chế đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức. Các kết luận, kiến nghị giám sát cần được tích hợp vào hệ thống đánh giá kết quả thực thi nhiệm vụ, coi đây là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá, xếp loại và bổ nhiệm cán bộ. Cách tiếp cận này không chỉ tạo động lực thực hiện kiến nghị giám sát mà còn góp phần thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa giám sát và quản trị kết quả, phù hợp với định hướng cải cách hành chính hiện nay.
Năm là, đổi mới nhận thức về vai trò của giám sát trong quản trị địa phương, từ đó, tạo cơ sở cho việc đầu tư nguồn lực và hoàn thiện thể chế. Hoạt động giám sát của HĐND cấp xã cần được nhìn nhận không chỉ là một chức năng pháp lý mang tính thủ tục mà là một công cụ quản trị quan trọng nhằm nâng cao chất lượng chính sách, kiểm soát quyền lực và tăng cường niềm tin của người dân đối với chính quyền địa phương.
5. Kết luận
Trong bối cảnh đổi mới mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của HĐND cấp xã có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu quả quản trị địa phương. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đã chỉ ra rằng, hoạt động giám sát hiện nay vẫn còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu; đồng thời, chịu tác động bởi những hạn chế về năng lực chủ thể và điều kiện bảo đảm, đặc biệt là những bất cập trong cơ chế thực thi và hiệu lực sau giám sát, từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp đổi mới theo hướng nâng cao tính thực chất của giám sát, hoàn thiện cơ chế thực thi, tăng cường năng lực chủ thể và gắn kết chặt chẽ giữa giám sát với quản trị theo kết quả.
Có thể khẳng định rằng, chỉ khi hoạt động giám sát được tổ chức như một chu trình khép kín, có đủ năng lực, công cụ và cơ chế ràng buộc thì mới có thể chuyển hóa từ “giám sát hình thức” sang “giám sát tạo ra thay đổi”, qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương và củng cố niềm tin của người dân đối với chính quyền cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5. Bộ Nội vụ (2025). Cẩm nang chính quyền địa phương cấp xã.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Ngân hàng Thế giới (2017). World Development Report 2017: Governance and the Law. Washington, DC: World Bank.
4. Quốc hội (2015, 2025). Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
5. Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.



