Vai trò của tăng năng suất lao động nông nghiệp trong phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn

The role of increasing agricultural labour productivity in socio – economic development in rural areas

TS. Bùi Đức Hòa
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích vai trò của tăng năng suất lao động nông nghiệp đối với phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn Việt Nam trong giai đoạn 2018 – 2023. Từ phân tích số liệu thống kê chính thức, bài viết chỉ ra, năng suất lao động nông nghiệp ở Việt Nam phát triển thì sẽ đóng góp đáng kể vào tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và cải thiện thu nhập của cư dân nông thôn. Tuy nhiên, đóng góp của việc gia tăng năng suất lao động nông nghiệp vào tăng trưởng kinh tế, cải thiện thu nhập vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Nông nghiệp và kỳ vọng của Chính phủ; quá trình tăng năng suất lao động đã làm phát sinh một số vấn đề kinh tế – xã hội và môi trường như dư thừa sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp, rủi ro thị trường và tài nguyên đất bị khai thác quá mức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển  năng suất lao động nông nghiệp vào phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn.

Từ khóa: Năng suất lao động nông nghiệp; giá trị gia tăng; xuất khẩu nông sản; thu nhập nông thôn; phát triển kinh tế nông thôn.

Abstract: This article analyzes the role of agricultural labor productivity growth in promoting socio-economic development in rural Vietnam during the 2018 – 2023 period. Based on an analysis of official statistical data, the study finds that improvements in agricultural labor productivity have made significant contributions to the growth of agricultural value added, the expansion of agricultural, forestry, and fishery exports, and the improvement of rural household incomes. However, the contribution of agricultural labor productivity growth to overall economic growth and income improvement has not yet matched the sector’s potential or the Government’s expectations. Moreover, the process of increasing agricultural labor productivity has also given rise to several economic, social, and environmental challenges, including oversupply of certain agricultural products, market risks, and the overexploitation of land resources. Based on these findings, the article proposes several policy recommendations to further enhance agricultural labor productivity and strengthen its contribution to socio-economic development in rural areas.

Keywords: Agricultural labor productivity; agricultural value added; agricultural exports; rural income; rural economic development.

1. Đặt vấn đề

Trong nền kinh tế thị trường, năng suất lao động là yếu tố trực tiếp quyết định giá thành, sức cạnh tranh của mọi loại sản phẩm hàng hóa, trong đó có các loại sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm có nguồn gốc từ các sản phẩm nông nghiệp. Từ đó, lại tác động đến doanh thu, thị phần, lợi nhuận của các chủ thể sản xuất nông nghiệp và các chủ thể lấy sản phẩm nông nghiệp làm yếu tố đầu vào để sản xuất.

Dưới góc độ vĩ mô, phát triển năng suất lao động nông nghiệp có vai trò quan trọng, đóng góp trực tiếp đến sự phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn nói riêng và kinh tế – xã hội quốc gia nói chung. Việc thúc đẩy năng suất lao động nông nghiệp làm cho giá trị gia tăng, giá trị xuất khẩu của ngành Nông nghiệp tăng lên, thu nhập của cư dân nông thôn được cải thiện và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh kinh tế; sức cạnh tranh của nền kinh tế và sự ổn định chính trị – xã hội của mỗi quốc gia.

Thực tiễn các nước trên thế giới và Việt Nam cho thấy, năng suất lao động nông nghiệp càng phát triển thì giá trị gia tăng ngành Nông nghiệp càng lớn, đồng thời, giá thành các sản phẩm nông nghiệp càng giảm, sản lượng nông nghiệp không chỉ đủ đáp ứng nhu cầu trong nước và dự trữ quốc gia mà còn có thể xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn ngày càng phát triển. Nhờ đó, đời sống nhân dân được cải thiện, sức cạnh tranh quốc gia được nâng lên, an ninh kinh tế được bảo đảm, chính trị – xã hội ổn định. Ngược lại, năng suất lao động nông nghiệp của nước nào bị suy giảm hoặc thấp thì sản lượng nông nghiệp thấp, giá thành các sản phẩm nông nghiệp cao, thậm chí có nước sản lượng nông nghiệp trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu trong nước và cho dự trữ. Hệ lụy là đời sống nhân dân gặp khó khăn, sức cạnh tranh của nền kinh tế yếu, an ninh kinh tế bị đe dọa, bất ổn chính trị – xã hội xuất hiện ở những mức độ khác nhau. Vì vậy, việc thúc đẩy năng suất lao động nông nghiệp là đòi hỏi khách quan đối với mọi quốc gia trong đó có Việt Nam.

2. Vai trò của tăng năng suất lao động nông nghiệp vào phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn Việt Nam

Thứ nhất, đóng góp của việc nâng cao năng suất lao động nông nghiệp vào tăng giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp ngày càng tăng và cao hơn so với giai đoạn trước và so với các ngành kinh tế khác

Số liệu phân tích ở Bảng 1 cho thấy, trong giai đoạn 2018 – 2023 đóng góp của việc nâng cao năng suất lao động vào tăng giá trị gia tăng cao hơn nhiều lần đóng góp của lao động vào giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp. Tính trung bình, giai đoạn 2018 – 2023 thì giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp đạt 3,47% năm/năm, trong đó tỷ lệ đóng góp của việc phát triển năng suất lao động chiếm 6,78%, tỷ lệ đóng góp của lao động là -3,31%. Nếu tính theo tỷ trọng đóng góp thì đóng góp của việc phát triển năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp trung bình giai đoạn 2018 – 2023 là 195,31%/năm trong khi đó tỷ trọng đóng góp của lao động vào giá trị gia tăng là – 95,31%/năm. Theo đó, giá trị đóng góp của năng suất lao động vào tăng giá trị gia tăng trung bình giai đoạn 2018 – 2023 là 38.020,72 tỷ đồng/năm1.

So với giai đoạn 2012 – 2017, tỷ lệ đóng góp năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp giai đoạn 2018 – 2023 cao hơn giai đoạn 2012 – 2017 (6,78% so với 4,83%). Theo đó, tỷ trọng và giá trị đóng góp của năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp giai đoạn 2012 – 2017 cũng thấp hơn giai đoạn 2018 – 2023, đạt 181,89%/năm, tương đương giá trị đóng góp là 22.671,60 tỷ đồng/năm2.

Bảng 1: Đóng góp của tăng năng suất lao động vào tăng giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp

Giai đoạnMức tăng VANN bình quân (tỷ đồng)Tốc độ tăng VANN bình quân (%)Tăng VATỷ trọng đóng góp vào tăng VANNMức đóng góp vào tăng VANN
Do tăng NSLĐ
(%)
Do thay đổi CCLĐ
(%)
Do tăng NSLĐ (%)Do thay đổi CCLĐ (%)Do tăng NSLĐ (tỷ đồng)Do thay đổi CCLĐ (người)
2012 201712.458,292,654,83-2,18181,98-81,9822.671,60-10.213,31
2018 – 202319.466,853,476,78-3,31195,31-95,3138.020,72-18.553,86
Số liệu của Tổng cục Thống kê từ năm 2018 – 2023.

Số liệu phân tích ở Bảng 2 cũng cho thấy, trong giai đoạn 2018 – 2023, tỷ trọng đóng góp của năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp là cao nhất và cao hơn nhiều lần tỷ trọng đóng góp của năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ. Trong khi tỷ trọng đóng góp của năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp đạt trung bình 195,31%/năm, thì tỷ trọng đóng góp của năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành dịch vụ và ngành Công nghiệp, xây dựng chỉ đạt trung bình là 68,62%/năm và 40,01%/năm3.

Bảng 2: Tỷ trọng đóng góp của tăng năng suất lao động vào tăng giá trị gia tăng của nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ bình quân giai đoạn 2018 – 2023

Tỷ trọng đóng góp vào tăng VANNTỷ trọng đóng góp vào tăng VACNTỷ trọng đóng góp vào tăng VADV
Do tăng NSLĐ (%)Do thay đổi CCLĐ (%)Do tăng NSLĐ
(%)
Do thay đổi CCLĐ (%)Do tăng NSLĐ
(%)
Do thay đổi CCLĐ (%)
195,31-95,3140,0159,9968,5231,48
Số liệu của Tổng cục Thống kê từ năm 2018 – 2023.

Kết quả này cho thấy, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã có chuyển biến tích cực trong những năm vừa qua, khi mà tăng giá trị gia tăng trong nông nghiệp đang giảm dần sự phụ thuộc vào lao động. Thay vào đó, chủ yếu là do phát triển năng suất lao động mà khoa học, kỹ thuật, công nghệ là những yếu tố đóng góp nhiều nhất làm tăng năng suất lao động trong nông nghiệp.

Thứ hai, tăng năng suất lao động trong nông nghiệp làm tăng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản.

Trong giai đoạn 2018 – 2023, nhờ năng suất lao động phát triển mà sản lượng nông nghiệp cũng tăng theo. Nhiều sản phẩm nông nghiệp không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế. Tiêu biểu nông sản có gạo, sắn, khoai, sầu riêng, soài, vải thiều… lâm sản có gỗ dăm, gỗ ép, than, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ gỗ mà chủ yếu là bàn ghế… thủy sản có tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, cá ba sa, các loại hải sản… Nhờ đó, giá trị xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản đã tăng lên liên tục từ năm 2018 đến nay.

Số liệu từ Bảng 3 cho thấy, năm 2018, giá trị xuất khẩu ngành Nông nghiệp đạt 29.174,70 triệu USD thì đến năm 2023 đã tăng lên 38.539,90 triệu USD. Trong đó, xuất khẩu nông sản tăng từ 17.484,60 triệu USD lên 23.749,60 triệu USD; giá trị xuất khẩu lâm sản từ 2.919,10 triệu USD lên 5.235,10 triệu USD; giá trị xuất khẩu thủy sản tăng từ 8.771,00 triệu USD lên 10.895,40 triệu USD vào  năm 2022, sau đó, giảm nhẹ vào năm 2023 nhưng vẫn cao hơn năm 2018, 2019, 2020, 2021 (đạt 9.555,20 triệu USD)4.

Bảng 3. Giá trị xuất khẩu nông sản giai đoạn 2018 – 2023

(Đơn vị tính: Triệu USD)

NămTổngNông sảnLâm sảnThủy sản
201829.174,7017.484,602.919,108.771,00
201928.381,3016.593,603.273,708.514,00
202027.728,2016.027,703.311,508.389,00
202131.489,8018.311,004.325,508.853,30
202235.465,1018.995,805.573,9010.895,40
202338.539,9023.749,605.235,109.555,20
Tổng cục Thống kê, từ năm 2018 – 2023.

Thứ ba, năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên góp phần cải thiện đời sống người dân và phát triển thị trường nông thôn.

Năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên làm cho thu nhập của cư dân nông thôn được cải thiện. Theo số liệu thống kê tại Bảng 4, nếu năm 2018, thu nhập bình quân đầu người mỗi tháng của cư dân nông thôn là 2,99 triệu đồng/người/tháng thì đến năm 2023, thu nhập bình quân đầu người mỗi tháng của cư dân nông thôn tăng lên 4,17 triệu đồng/người/tháng, nhờ đó, đời sống nông dân được cải thiện5.

Hơn nữa, các sản phẩm nông nghiệp là tư liệu sinh hoạt chính của người dân và là nguồn nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến. Vì thế, năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên, giúp cho người dân mua được tư liệu sinh hoạt với giá rẻ hơn. Tương tự, giá cả các sản phẩm công nghiệp có sử dụng sản phẩm nông nghiệp làm yếu tố đầu vào cũng giảm xuống và đời sống người dân được cải thiện.

Bảng 4: Thu nhập bình quân/tháng của người lao động theo giá hiện hành giai đoạn 2018 – 2023 phân theo thành thị và nông thôn

(Đơn vị tính: Triệu USD)

Năm201820192020202120222023
Thành thị5,626,025,55,395,956,26
Nông thôn2,993,43,483,493,864,17
Mức chênh lệch2,632,622,021,92,092,09
Nguồn: Tổng cục Thống kê từ năm 2018 – 2023.

Trong giai đoạn này, việc thúc đẩy năng suất lao động nông nghiệp còn làm cho thị trường nông thôn ngày càng phát triển thông qua việc trao đổi, mua bán các sản phẩm nông nghiệp với các loại hàng hóa, dịch vụ khác. Theo đó, thu ngân sách nhà nước ở khu vực nông thôn cũng tăng lên. Đây lại là nguồn để các địa phương đầu tư trở lại để phát triển kết cấu hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội ở khu vực nông thôn. Ngoài ra, năng suất lao động nông nghiệp tăng lên trong giai đoạn này còn làm cho quá trình đô thị hóa nông thôn nước ta diễn ra mạnh mẽ; đóng góp của cư dân nông thôn vào xây dựng nông thôn mới như đóng góp kinh phí cùng với Nhà nước xây dựng đường xá, trường học, hệ thống điện lưới, hệ thống nước sạch ngày càng nhiều hơn.

Mặc dù tỷ trọng đóng góp của năng suất lao động vào tăng giá trị gia tăng ngành Nông nghiệp giai đoạn 2018 – 2023 cao (cao nhất trong các ngành kinh tế), nhưng mức đóng góp còn rất thấp và chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Nông nghiệp ở Việt Nam. Đóng góp của năng suất lao động vào giá trị gia tăng giai đoạn 2018 – 2023 chỉ đạt trung bình 38.020,72 tỷ đồng/năm. Trong khi đó, đóng góp của năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành Công nghiệp và xây dựng trung bình là 41.674,48 nghìn tỷ đồng/năm; đóng góp năng suất lao động vào giá trị gia tăng của ngành dịch vụ trung bình là 327.063,3 tỷ đồng/năm6.

Bảng 5: Tỷ trọng và giá trị đóng góp của tăng năng suất lao động vào tăng VA của các ngành kinh tế giai đoạn 2018 – 2023 (theo giá năm 2010)

NgànhMức tăng VA bình quân giai đoạn 2018 – 2023 (Tỷ đồng/năm)Tỷ trọng đóng góp của NSLĐ (%/năm)Giá trị đóng góp của NSLĐ (Tỷ đồng/năm)
Nông nghiệp19.466,66195,3138.020,72
Công nghiệp, xây dựng104.160,240,0141.674,50
Dịch vụ477.325,368,52327.063,30
Nguồn: Tổng cục Thống kê từ năm 2018 – 2023.

Điều này cũng phản ánh, sức sản xuất của lao động nông nghiệp chưa được giải phóng hết, mà còn bị kìm hãm bởi nhiều lý do khác nhau. Nếu sản xuất nông nghiệp được tổ chức, sắp xếp lại, chuyển sang các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa lớn, đồng thời, giảm mạnh số lượng lao động nông nghiệp và đẩy manh hơn nữa việc ứng dụng khoa học, công nghệ thì tỷ trọng và mức đóng góp của năng suất lao động vào tăng giá trị gia tăng sẽ lớn hơn nhiều. Nhờ đó, tốc độ tăng năng suất lao động sẽ tăng cao hơn nữa, khoảng cách giữa năng suất lao động nông nghiệp với năng suất lao động của các ngành kinh tế khác sẽ nhanh chóng được rút ngắn.

Đóng góp của năng suất lao động vào tăng thu nhập của cư dân nông thôn còn khiêm tốn, nên khoảng cách về thu nhập giữa cư dân thành thị và cư dân nông thôn từ năm 2018 – 2023 là không đáng kể. Số liệu thống kê tại Bảng 4 cho thấy, năm 2018, khoảng cách về thu nhập hằng tháng giữa cư dân thành thị và cư dân nông thôn là 2,63 triệu đồng, đến năm 2018, khoảng cách này rút ngắn lại còn 2,09 triệu đồng7. Điều này phản ánh đúng thực tế là năng suất lao động nông nghiệp ở Việt Nam thấp và tốc độ tăng chưa cao, chưa tạo được bứt phá để tạo điều kiện cho thu nhập của cư dân nông thôn tăng lên nhanh hơn để có thể rút ngắn hơn nữa khoảng cách về thu nhập giữa cư dân thành thị và cư dân nông thôn.

Trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất luôn tìm cách thúc đẩy năng suất lao động tăng lên nhằm giảm giá thành sản phẩm để dành ưu thế trong cạnh tranh trước các đối thủ, nhưng điều này lại vô tình đẩy sản lượng một số mặt hàng tăng lên quá mức nhu cầu của thị trường, sản phẩm nông nghiệp làm ra tiêu thụ không kịp, phải bán rẻ, thậm chí bị hư hỏng, đổ bỏ ở một số thời điểm như: thanh long, dưa hấu, khoai, sắn, cá tra, cá ba sa… Thậm chí, trong cuộc đua này, có nhiều chủ thể sản xuất nông nghiệp bị thua lỗ, thậm chí phá sản, do giá các sản phẩm nông sản đi xuống vì sản lượng vượt quá nhu cầu của thị trường. Điều này làm nảy sinh nguy cơ tiêu cực, có thể gây bất ổn xã hội nông thôn, dẫn đến hệ lụy về đất đai bị bạc màu do bị khai thác, nguồn nước bị nhiễm các loại hóa chất độc hại (nhất là các loại thuốc bảo vệ thực vật).

3. Một số kiến nghị

Năng suất lao động nông nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn Việt Nam. Trong giai đoạn 2018 – 2023, sự gia tăng năng suất lao động đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và cải thiện thu nhập của cư dân nông thôn. Tuy nhiên, mức đóng góp của tăng năng suất lao động nông nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành Nông nghiệp. Khoảng cách về năng suất lao động và thu nhập giữa khu vực nông thôn với các khu vực kinh tế khác vẫn còn khá lớn. Đồng thời, quá trình gia tăng năng suất lao động cũng đặt ra một số thách thức liên quan đến thị trường tiêu thụ nông sản và bảo vệ môi trường.

Trong những năm tới, dự báo nhu cầu các sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam sẽ tăng lên do dân số Việt Nam vẫn tiếp tục tăng lên, đồng thời ngành sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản ngày càng phát triển; nhu cầu nông, lâm, thủy sản và các sản phẩm được chế biến từ nông, lâm, thủy sản của các đối tác thương mại của Việt Nam ngày càng lớn. Trong khi đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và biến đổi khí hậu gây ra. Mặt khác, do Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh thế giới, nên các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn với các sản phẩm nông nghiệp của các nước trên thế giới, nhất là những nước có nền nông nghiệp phát triển. Nếu năng suất lao động không được cải thiện thêm thì các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam sẽ không thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của các nước này.

Vì vậy, để phát huy vai trò của tăng năng suất lao động nông nghiệp trong phát triển kinh tế – xã hội nông thôn ở Việt Nam thời gian tới, cần chú trọng một số định hướng chính sau:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất nông nghiệp.

Đây là giải pháp có tác động mạnh nhất đến tăng năng suất lao động cũng như tăng giá trị gia tăng cho ngành nông nghiệp. Thực hiện giải pháp này, Nhà nước, hộ nông dân và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nông nghiệp cần phải đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất nông nghiệp. Trong đó, Nhà nước đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi, thệ thống tưới tiêu, hệ thống điện lưới, hệ thống giao thông, hệ thống sân bay, bến cảng… Hộ nông dân tập trung đầu tư phát triển chuồng trại, máy móc, phương tiện sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp phù hợp với quy mô và trình độ sản xuất.

Bên cạnh đó, các trường đại học, các viện nghiên cứu nông nghiệp cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu nhằm tạo ra các giống, cây, con mới có năng suất, chất lượng cao, có khả năng thích ứng với các điều kiện sản xuất khác nhau và các quy trình sản xuất mới tiên tiến, hiện đại, hiệu quả. Để kết quả nghiên cứu được ứng dụng nhanh chóng, rộng rãi vào quá trình sản xuất nông nghiệp, Nhà nước cần thực hiện cơ chế đặt hàng hoặc hỗ trợ cho các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu thực hiện dự án nghiên cứu thông qua các chính sách như tại trợ một phần kinh phí nghiên cứu, mua lại các kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho nông dân với chi phí ưu đãi hoặc miễn giảm thuế, tài trợ trực tiếp cho các hộ nông dân ứng dụng khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất. Cùng với đó, cần phải đẩy mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào quá trình sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất lao động và tăng giá trị gia tăng trong nông nghiệp.

Hai là, thúc đẩy tái cơ cấu ngành Nông nghiệp.

Thời gian tới cần phải đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Để phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, trước mắt, Nhà nước cần tiến hành “cách mạng dồn điền đổi thửa” để tập trung ruộng đất nhằm xóa bỏ tình trạng manh mún trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần tập trung vào những lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có giá trị gia tăng cao. Đồng thời Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp và khuyến khích người dân, doanh nghiệp liên kết với nhau để sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn.

Ba là, chuyển dịch cơ cấu và nâng cao trình độ cho lao động khu vực nông thôn.

Để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, cần phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, trước mắt chính quyền các địa phương cần tập trung phát triển khu, cụm công nghiệp và có cơ chế chính sách để thu hút đầu tư vào khu, cụm công nghiệp này để tạo việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp. Mặt khác, Nhà nước cùng với cộng đồng doanh nghiệp cần phải bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp cho nông dân, đồng thời đẩy mạnh dạy nghề, đào tạo nghề mới để nông dân có thể làm việc ở các cơ sở công nghiệp.

Bốn là, mở rộng, phát triển thị trường tiêu thụ nông, lâm, thủy sản và chuỗi giá trị nông sản.

Tăng năng suất lao động chỉ có giá trị khi sản phẩm làm ra được tiêu thụ hết, đồng thời giá trị gia tăng chỉ được hiện thực hóa khi sản phẩm làm ra được trao đổi mua bán trên thị trường. Vì vậy, mở rộng, phát triển thị trường tiêu thụ là đòi hỏi khách quan, nhất là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng chịu nhiều sức ép từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và thị trường thế giới liên tục biến động bất thường như hiện nay. Để mở rộng thị trường tiêu thụ, Nhà nước cần phải mở rộng quan hệ kinh tế, ký thêm các hiệp định thương mại với các nước và khu vực và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đồng thời cùng với cộng đồng doanh nghiệp tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến thương mại ở các thị trường mới để quảng bá, giới thiệu các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam.

Năm là, tăng cường quản lý tài nguyên đất, nước.

Những năm gần đây, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng bị thu hẹp để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Quá trình này ít nhiều đã ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và giá trị gia tăng của ngành Nông nghiệp. Do đó, Nhà nước tiếp tục xây dựng luật về bảo vệ đất nông nghiệp, trong đó quy định cụ thể các vùng đất nông nghiệp cần phải được bảo vệ, các quy định lấy đất nông nghiệp để thực hiện dự án… nhằm ngăn chặn tình trạng lấy đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị. Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, Nhà nước cần phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu quy hoạch lại vùng sản xuất nông nghiệp phù hợp với từng giống cây, con cụ thể để phát triển sản xuất theo vùng trên phạm vi của cả nước.

Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2024. H. NXB Thống kế.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2023). Báo cáo tổng kết ngành Nông nghiệp năm 2023.
2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026, ngày  31/12/2025.
3. Nguyễn Thị Lê Hoa, Lê Xuân Biên (2021). Nâng cao năng suất lao động dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam, số 1+2 (2021).
4. Đỗ Thị Ngọc (2023). Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp tính và phân tích, đánh giá tình hình năng suất lao động tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. Hà Nội
5. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1305/QĐ-TTg ngày 08/11/2023 phê duyệt Chương trình quốc gia về tăng năng suất lao động đến năm 2030.
6. Nguyễn Thị Hải Vân (2023). Phát triển nông thôn theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân thông minh. Tạp chí Quản lý nhà nước số 323 (4/2023), tr. 17 – 22. https://vi.quanlynhanuoc.vn/qlnn/article/view/49