Scaling up green technology and circular economy models linked to key agricultural value chains in the Ben Tre area, Vinh Long Province
PGS.TS Nguyễn Phú Son
Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ
TS. Lê Thị Thanh Hiếu
TS. Nguyễn Thị Thu An
ThS. Lê Bửu Minh Quân
Trường Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng và khả năng nhân rộng các mô hình công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với chuỗi giá trị nông nghiệp chủ lực trên địa bàn Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long. Bài viết nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, tham vấn chuyên gia, thảo luận nhóm và khảo sát thực địa các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ sản xuất trên địa bàn Bến Tre trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính. Các mô hình được đánh giá theo 5 nhóm tiêu chí, gồm hiệu quả môi trường, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế, khả năng thích ứng biến đổi khí hậu và khả năng nhân rộng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh trong nông nghiệp Bến Tre tại tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn, chuỗi giá trị nông nghiệp, biến đổi khí hậu, nhân rộng mô hình, khu vực Bến Tre tỉnh Vĩnh Long.
Abstract: This article analyzes the current status and scalability of green technology and circular economy models associated with the value chains of key agricultural products in Ben Tre, now part of Vinh Long Province following the administrative reorganization. The study employs secondary data analysis, expert consultation, focus group discussions, and field surveys of enterprises, cooperatives, cooperative groups, and farming households in Ben Tre prior to the administrative restructuring. The models are evaluated based on five groups of criteria: environmental performance, social performance, economic performance, climate change adaptability, and scalability. Based on the findings, the article proposes several policy implications to promote the green transition in Ben Tre’s agricultural sector within the newly reorganized Vinh Long Province in the next stage of development.
Keywords: Green technology; circular economy; agricultural value chains; climate change; scaling up; Ben Tre area, Vinh Long Province.
1. Đặt vấn đề
Bến Tre là địa bàn có nhiều đặc thù về sinh thái nông nghiệp, chịu tác động rõ rệt của biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt dưới sức ép của xâm nhập mặn, hạn hán, thời tiết cực đoan và suy giảm chất lượng nguồn nước. Trong bối cảnh đó, yêu cầu phát triển nông nghiệp không chỉ dừng ở gia tăng sản lượng mà còn phải bảo đảm thích ứng khí hậu, giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và gia tăng giá trị cho các chuỗi ngành hàng chủ lực. Từ ngày 01/7/2025, theo chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, địa bàn Bến Tre được hợp nhất Trà Vinh và Vĩnh Long để hình thành tỉnh Vĩnh Long mới. Trong bài viết này, thuật ngữ “Bến Tre” được sử dụng để chỉ phạm vi địa bàn nghiên cứu tương ứng với tỉnh Bến Tre (cũ) trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính (hiện nay thuộc tỉnh Vĩnh Long).
Những năm qua, nhiều chương trình và dự án liên quan đến phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu đã được triển khai tại Bến Tre nhằm hỗ trợ phát triển nông nghiệp bền vững, tăng cường liên kết thị trường, cải thiện thu nhập và giảm rủi ro cho các nhóm sản xuất dễ bị tổn thương. Trên nền tảng đó, việc rà soát các mô hình công nghệ xanh và kinh tế tuần hoàn đang tồn tại ở địa phương có ý nghĩa quan trọng để nhận diện những mô hình thực sự hiệu quả, có khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu – sinh thái của Bến Tre và có thể nhân rộng trong thực tiễn.
Về mặt tiếp cận, công nghệ xanh nhấn mạnh việc giảm đầu vào gây ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao an toàn môi trường trong sản xuất; trong khi kinh tế tuần hoàn hướng đến kéo dài vòng đời tài nguyên, tận dụng phụ phẩm và giảm phát sinh chất thải. Trong nông nghiệp, hai cách tiếp cận này có tính bổ trợ lẫn nhau và đặc biệt phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững, thích ứng khí hậu ở cấp địa phương.
Đối với Bến Tre, nơi có các ngành hàng chủ lực như dừa, cây ăn trái, chăn nuôi, thủy sản, cây giống, rau màu và hoa kiểng, chuyển đổi xanh không thể thực hiện bằng các giải pháp đồng loạt, mà cần dựa trên từng mô hình cụ thể, gắn với điều kiện sản xuất, năng lực của chủ thể tiếp nhận và yêu cầu của thị trường. Vì vậy, mục tiêu của bài viết là phân tích, xếp hạng và lựa chọn các mô hình công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn đang được thực hiện trên địa bàn Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long; từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy quá trình nhân rộng các mô hình này trong bối cảnh tổ chức lại không gian phát triển cấp tỉnh sau sắp xếp đơn vị hành chính.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và phương pháp chấm điểm đa tiêu chí. Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước sau:
(1) Nhóm nghiên cứu khai thác thông tin thứ cấp từ các báo cáo, nghiên cứu và kế hoạch hành động nâng cấp chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Bến Tre, đồng thời tham chiếu các kết quả đánh giá mô hình thích ứng biến đổi khí hậu đã được triển khai trước đó.
(2) Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn chuyên sâu 15 lãnh đạo và chuyên viên của các sở, ngành có liên quan của tỉnh, 4 nhà khoa học tại Trường Đại học Cần Thơ và Trường Đại học Trà Vinh; tổ chức 9 cuộc thảo luận nhóm với lãnh đạo địa phương, và phòng Kinh tế – Hạ tầng và phòng Nông nghiệp; phỏng vấn trực tiếp 47 hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp thực hiện các mô hình công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn nhằm nhận diện các mô hình công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn đang tồn tại hoặc đã được chuyển giao cho doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nông dân. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiếp tục khảo sát thực địa đối với các chủ thể sản xuất để làm rõ quy trình vận hành, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường, mức độ thích ứng biến đổi khí hậu và khả năng nhân rộng. Các thông tin về huyện, thành phố và hệ thống quản lý địa phương trong nghiên cứu được ghi nhận theo đơn vị hành chính của tỉnh Bến Tre tại thời điểm khảo sát. Trong phần phân tích và thảo luận, địa bàn này được quy chiếu là Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long nhằm bảo đảm thống nhất với tên gọi đơn vị hành chính sau sắp xếp năm 2025.
(3) Nghiên cứu áp dụng bộ tiêu chí đánh giá gồm 5 nhóm với tổng trọng số 100 điểm: hiệu quả môi trường (20 điểm), hiệu quả xã hội (15 điểm), hiệu quả kinh tế (15 điểm), khả năng thích ứng biến đổi khí hậu (20 điểm) và khả năng nhân rộng (30 điểm). Mỗi nhóm tiêu chí được cụ thể hóa thành 5 tiêu chí thành phần. Những mô hình đạt trên 70 điểm được xem là có triển vọng nhân rộng. Bộ tiêu chí đánh giá được xây dựng trên cơ sở tham khảo Sổ tay hướng dẫn công cụ đánh giá mức độ thực hành kinh doanh bền vững của doanh nghiệp theo nguyên tắc kinh tế tuần hoàn1 và Sổ tay hướng dẫn công cụ đánh giá mức độ thực hành kinh doanh bền vững của doanh nghiệp theo khung đánh giá Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG) do Cục Phát triển doanh nghiệp thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) chủ trì xây dựng, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thông qua Dự án Tăng cường năng lực cạnh tranh khu vực tư nhân Việt Nam (IPSC)2. Trên cơ sở đó, thang điểm và trọng số của các tiêu chí được hiệu chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu thông qua phỏng vấn sâu chuyên gia và thảo luận nhóm với đại diện các sở, ngành liên quan, viện, trường, chính quyền địa phương và các tác nhân tham gia trong các mô hình công nghệ xanh và kinh tế tuần hoàn.
Trên cơ sở điểm số tổng hợp, các mô hình được xếp hạng theo thứ tự ưu tiên. Cách tiếp cận này cho phép kết hợp giữa bằng chứng thực tế tại hiện trường với một khung đánh giá có cấu trúc, nhờ đó vừa phản ánh được đặc thù của từng mô hình, vừa hỗ trợ việc lựa chọn chính sách theo mức độ ưu tiên.
Bảng 1. Khung tiêu chí đánh giá khả năng nhân rộng mô hình công nghệ xanh và kinh tế tuần hoàn
| Nhóm tiêu chí | Nội dung đánh giá trọng tâm | Trọng số (điểm) |
| Hiệu quả môi trường | Giảm chất thải ô nhiễm; tiết kiệm vật tư, nước, năng lượng; tận dụng phụ phẩm; bảo vệ hệ sinh thái; hấp thụ carbon. | 20 |
| Hiệu quả xã hội | Bảo vệ sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng; tạo việc làm; cải thiện chất lượng sống; nâng cao trình độ sản xuất. | 15 |
| Hiệu quả kinh tế | Tăng năng suất; giảm giá thành; nâng chất lượng sản phẩm; tăng giá trị gia tăng và thu nhập. | 15 |
| Khả năng thích ứng biến đổi khí hậu | Chống chịu xâm nhập mặn, hạn, thời tiết bất lợi, sâu bệnh hại và nước biển dâng. | 20 |
| Khả năng nhân rộng | Có chính sách hỗ trợ; khả năng tài chính; trình độ kỹ thuật; mức độ phù hợp công nghệ; triển vọng thị trường. | 30 |
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Bức tranh chung về các mô hình công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn trên địa bàn Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long
Kết quả rà soát cho thấy, các mô hình công nghệ xanh và kinh tế tuần hoàn trên địa bàn Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long phân bố khá đa dạng trong cả lĩnh vực nông nghiệp và ngoài nông nghiệp.
Trong nông nghiệp, các mô hình tập trung vào ba hướng lớn: (1) Giảm đầu vào hóa học, thay bằng phân hữu cơ, vi sinh, quy trình canh tác hữu cơ hoặc VietGAP; (2) Ứng dụng công nghệ để kiểm soát nước tưới, nhiệt độ, dịch bệnh và môi trường sản xuất; và (3) Tận dụng phụ phẩm của cây trồng, vật nuôi và thủy sản để tạo ra đầu vào mới hoặc sản phẩm giá trị gia tăng.
Các mô hình tiêu biểu bao gồm trồng dừa hữu cơ; dừa hữu cơ kết hợp ca cao – ong – dê – du lịch sinh thái; rau hữu cơ, rau sạch VietGAP ứng dụng công nghệ cao; lúa – tôm hữu cơ; trồng hoa kiểng sử dụng hệ thống tưới tự động; nuôi tôm công nghệ cao; chăn nuôi heo sử dụng hệ thống làm mát kết hợp biogas và điện mặt trời; chăn nuôi gà thảo dược; nuôi trùn quế; ủ phân hữu cơ từ phân bò, dê theo kỹ thuật hệ thống thông khí (ASP – Aerated Static Pile); nuôi sâu canxi và nhiều mô hình liên kết tuần hoàn khác.
Ngoài nông nghiệp, các mô hình nổi bật gồm sản xuất đất sạch từ mụn dừa và phân trùn quế; sản xuất ống hút dừa từ phụ phẩm/phế phẩm của quá trình chế biến thạch dừa; chế biến thức ăn thảo dược cho gà và sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng từ tơ xơ dừa. Điểm chung của các mô hình này là tận dụng tốt nguồn nguyên liệu bản địa, đặc biệt từ ngành dừa và chăn nuôi, tạo ra vòng tuần hoàn vật chất tương đối rõ.
Về hiệu quả, các mô hình được ghi nhận đã tạo ra những lợi ích đồng thời trên nhiều phương diện. Lợi ích kinh tế thể hiện ở việc tăng thu nhập, giảm chi phí, mở rộng sản phẩm và tăng giá bán. Lợi ích xã hội thể hiện ở việc tạo việc làm, nâng cao kỹ năng sản xuất và cung cấp sản phẩm an toàn hơn cho người tiêu dùng. Lợi ích môi trường được phản ánh qua việc giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tái sử dụng phụ phẩm, giảm chất thải và tăng khả năng sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, mức độ hoàn thiện của từng mô hình không giống nhau; nhiều mô hình vẫn gặp rào cản về vốn đầu tư, kỹ thuật, hạ tầng và đầu ra thị trường.

3.2. Xếp hạng và lựa chọn ưu tiên các mô hình trong lĩnh vực nông nghiệp
Kết quả chấm điểm cho thấy 13 mô hình nông nghiệp được xếp hạng đều đạt từ 70 điểm trở lên, tức là đều có tiềm năng nhân rộng. Tuy nhiên, mức độ ưu tiên giữa các mô hình có sự khác biệt đáng kể, phản ánh khác nhau về hiệu quả tổng hợp và mức độ sẵn sàng triển khai trên diện rộng. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất 5 mô hình trong lĩnh vực nông nghiệp được ưu tiên nhân rộng như sau:
Mô hình đứng đầulà trồng dừa hữu cơ kết hợp trồng cỏ, nuôi dê, trồng ca cao, nuôi ong và du lịch sinh thái với 89 điểm. Đây là mô hình nổi bật nhờ tích hợp đa dạng nguồn thu trong cùng một không gian sản xuất, giảm phụ thuộc vào một sản phẩm đơn lẻ và tận dụng tương đối tốt mối liên kết tuần hoàn giữa dừa, cỏ, dê, ong và dịch vụ du lịch. Mô hình này không chỉ tăng hiệu quả kinh tế mà còn nâng cao khả năng chống chịu trước biến động khí hậu và thị trường.
Nhóm ưu tiên tiếp theo gồm mô hình chăn nuôi bò, dê kết hợp ủ phân hữu cơ theo kỹ thuật ASP và mô hình rau sạch VietGAP ứng dụng công nghệ cao, cùng đạt 86 điểm. Mô hình ASP cho thấy, lợi thế rõ về tận dụng chất thải chăn nuôi, giảm ô nhiễm, vốn đầu tư không quá lớn và nhu cầu thị trường đối với phân hữu cơ có xu hướng gia tăng. Trong khi đó, mô hình rau sạch ứng dụng công nghệ cao có ưu thế về kiểm soát điều kiện sản xuất, truy xuất nguồn gốc, chất lượng sản phẩm và khả năng thích ứng với thời tiết bất lợi, dù còn phụ thuộc khá nhiều vào vốn đầu tư ban đầu.
Nhóm cuối cùng gồm dừa hữu cơ chuyên canh (85 điểm), nuôi bò và trùn quế (83 điểm), lúa hữu cơ kết hợp nuôi tôm (80 điểm), rau hữu cơ (79 điểm), hoa kiểng sử dụng tưới tự động (72 điểm), bưởi da xanh VietGAP (70 điểm) cùng một số mô hình khác như heo sử dụng hệ thống làm mát kết hợp biogas và điện mặt trời, gà thảo dược, nuôi tôm công nghệ cao và nuôi sâu canxi. Có thể thấy, những mô hình được chấm điểm cao thường là mô hình đồng thời đạt ba điều kiện: hiệu quả môi trường rõ, nguồn lực địa phương sẵn có và có thị trường tương đối ổn định. Trong nhóm này, hai mô hình nên được ưu tiên nhân rộng là trồng dừa hữu cơ chuyên canh; nuôi bò và trùn quế. Điểm đáng chú ý là một số mô hình dù cho hiệu quả kinh tế tốt nhưng điểm nhân rộng chưa cao, nguyên nhân chủ yếu do yêu cầu vốn lớn, trình độ kỹ thuật cao hoặc hạ tầng phụ trợ chưa đáp ứng. Điều này cho thấy quá trình lựa chọn mô hình không thể chỉ nhìn vào lợi nhuận ngắn hạn, mà cần đặt trong tương quan với năng lực tiếp nhận của hộ sản xuất và điều kiện thể chế tại địa phương.

3.3. Xếp hạng các mô hình ngoài nông nghiệp và ý nghĩa đối với chuyển đổi xanh địa phương
Trong nhóm ngoài nông nghiệp, mô hình sản xuất tơ xơ dừa đạt điểm cao nhất với 89 điểm, tiếp đến là sản xuất đất sạch (84 điểm), sản xuất ống hút dừa (81 điểm) và chế biến thức ăn thảo dược cho gà (79 điểm). Đây là nhóm mô hình có ý nghĩa đặc biệt đối với chiến lược gia tăng giá trị từ ngành dừa và từ các dòng phụ phẩm nông nghiệp của tỉnh.
Mô hình tơ xơ dừa nổi lên nhờ khả năng sử dụng gần như toàn bộ nguyên liệu đầu vào, tạo ra nhiều sản phẩm xuất khẩu như băng dừa, lưới xơ dừa và chậu xơ dừa. Không chỉ mang lại giá trị gia tăng đáng kể, mô hình này còn góp phần duy trì diện tích dừa nguyên liệu, hạn chế chất thải và tạo việc làm cho lao động nông thôn. Mô hình đất sạch và ống hút dừa cũng thể hiện rõ cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn: phụ phẩm từ chăn nuôi, mụn dừa hoặc phế phẩm thạch dừa được chuyển hóa thành sản phẩm mới có thị trường.
Xét từ góc độ phát triển địa phương, nhóm mô hình ngoài nông nghiệp này có hai ý nghĩa nổi bật: giúp kéo dài chuỗi giá trị nông sản chủ lực, biến lợi thế nguyên liệu thành lợi thế sản phẩm chế biến; đồng thời, thúc đẩy sự chuyển dịch từ tư duy sản xuất nguyên liệu sang tư duy kinh tế nông nghiệp và công nghiệp nông thôn xanh. Đây là một hướng đi đặc biệt phù hợp với Bến Tre, nơi có quy mô nguyên liệu dừa lớn và nhu cầu ngày càng cao đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường.

3.4. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình nhân rộng
Mặc dù kết quả đánh giá cho thấy, nhiều mô hình đã vượt ngưỡng đề xuất nhân rộng, quá trình mở rộng trên thực tế vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản có tính cấu trúc. Trước hết, là rào cản về vốn đầu tư và chi phí chuyển đổi. Nhiều mô hình như rau sạch VietGAP ứng dụng công nghệ cao, nuôi tôm công nghệ cao hay chăn nuôi ứng dụng hệ thống điều khiển môi trường đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu lớn, trong khi khả năng tiếp cận tín dụng và năng lực tích lũy của phần lớn hộ sản xuất còn hạn chế. Nhận định này phù hợp với phân tích của FAO (2023)3, theo đó nông hộ nhỏ thường gặp đồng thời các trở ngại về thiếu vốn, khó tiếp cận tín dụng, chuỗi cung ứng yếu và thiếu thông tin về hiệu quả tài chính của công nghệ mới. Bên cạnh đó, rào cản về kỹ thuật và năng lực quản trị vẫn là một vấn đề nổi bật. Một số mô hình chỉ phát huy hiệu quả khi người sản xuất có khả năng tuân thủ quy trình, ghi chép nhật ký, kiểm soát đầu vào, xử lý dịch bệnh và kết nối thị trường; trong khi đó, các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cho thấy, tri thức của nông hộ, mức độ tiếp cận hệ thống khuyến nông – chuyên gia, cũng như cơ hội tham gia đào tạo và tín dụng có ảnh hưởng rõ đến quyết định áp dụng các thực hành nông nghiệp bền vững và nông nghiệp thông minh.
Ngoài ra, hạn chế về tổ chức sản xuất, hạ tầng và liên kết chuỗi cũng làm suy giảm khả năng nhân rộng. Trong nhiều trường hợp, hỗ trợ từ hợp tác xã, doanh nghiệp đầu tàu và chính quyền địa phương là điều kiện trung gian quan trọng để chuyển ý định áp dụng công nghệ thành hành vi thực tế; nếu thiếu những hỗ trợ này, mô hình khó vượt ra khỏi quy mô thử nghiệm. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyen et al. (2024)4, trong đó hiệu quả của hợp tác xã và sự hỗ trợ từ doanh nghiệp dẫn dắt có tác động tích cực đến mức độ chấp nhận công nghệ sản xuất sạch hơn trong nông nghiệp tại Việt Nam. Cuối cùng, vấn đề thị trường vẫn là điểm nghẽn đáng lưu ý. Khi sản phẩm xanh, tuần hoàn chưa có đầu ra ổn định, tín hiệu giá chưa đủ mạnh và mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi còn lỏng lẻo, động lực đầu tư của hộ sản xuất sẽ suy giảm đáng kể; đây cũng là nhận định phù hợp với FAO (2023)5 khi cơ quan này nhấn mạnh vai trò cản trở của các ràng buộc thị trường và chuỗi cung ứng đối với quyết định áp dụng công nghệ của nông hộ nhỏ. Nhìn rộng hơn, những rào cản quan sát được tại Bến Tre cũng phản ánh một thách thức mang tính hệ thống của nông nghiệp tuần hoàn ở Việt Nam, bao gồm hạn chế về nhận thức, quy mô sản xuất nhỏ, thiếu thị trường cho sản phẩm tuần hoàn và mức độ hoàn thiện chưa cao của khung chính sách hỗ trợ.
4. Hàm ý chính sách
Từ kết quả phân tích, để nhân rộng các mô hình công nghệ xanh và kinh tế tuần hoàn trên địa bàn Bến Tre trong không gian phát triển mới của tỉnh Vĩnh Long, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp, đặc biệt là những chính sách nhằm khắc phục các rào cản về vốn, kỹ thuật, hạ tầng, liên kết chuỗi và thị trường.
Thứ nhất, cần ưu tiên chính sách theo hướng phân tầng mô hình. Đối với nhóm mô hình đã chứng minh được hiệu quả và có mức độ sẵn sàng cao như dừa hữu cơ, mô hình ASP, nuôi trùn quế, đất sạch, tơ xơ dừa, cần chuyển từ hỗ trợ thí điểm sang hỗ trợ mở rộng quy mô và kết nối thị trường. Đối với nhóm mô hình có hiệu quả tốt nhưng yêu cầu vốn và kỹ thuật cao như rau sạch công nghệ cao, nuôi tôm công nghệ cao, cần có cơ chế tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ban đầu và đào tạo quản trị sản xuất.
Thứ hai, tăng cường liên kết dọc trong chuỗi giá trị. Việc gắn nông hộ với hợp tác xã, doanh nghiệp thu mua, cơ sở chế biến, đơn vị chứng nhận và hệ thống phân phối sẽ giúp ổn định đầu ra, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và giảm chi phí giao dịch. Đây là điều kiện đặc biệt quan trọng đối với các mô hình hữu cơ, VietGAP và các sản phẩm tuần hoàn có giá trị gia tăng.
Thứ ba, hoàn thiện hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu gắn với phát triển chuỗi giá trị,nhất là hệ thống đê bao, cấp nước ngọt, ao lắng, giao thông nông thôn, điện phục vụ nuôi trồng và hạ tầng tưới tiết kiệm. Nếu không xử lý đồng thời các điểm nghẽn về hạ tầng, tín dụng, kỹ thuật và thị trường, nhiều mô hình xanh và tuần hoàn sẽ khó vượt qua quy mô trình diễn để trở thành lựa chọn sản xuất phổ biến ở cấp hộ và hợp tác xã.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và đào tạo theo nhu cầu từng nhóm đối tượng. Nội dung đào tạo không chỉ là kỹ thuật sản xuất mà còn phải bao gồm quản trị chi phí, ghi chép nhật ký, kỹ năng thị trường, xây dựng phương án sản xuất – kinh doanh, tiếp cận tín dụng và khai thác thương mại điện tử.
Thứ năm, chú trọng hơn đến nghiên cứu – phát triển và xúc tiến thị trường cho các sản phẩm xanh, tuần hoàn. Những mô hình như ống hút dừa, thức ăn thảo dược cho gà, sản phẩm giá trị gia tăng từ tơ xơ dừa hay du lịch sinh thái dưới tán dừa sẽ khó phát triển bền vững nếu thiếu chiến lược truyền thông, chuẩn hóa chất lượng, đăng ký sở hữu trí tuệ và mở rộng kênh tiêu thụ.
5. Kết luận
Nghiên cứu khu vực Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long cho thấy, hệ sinh thái mô hình công nghệ xanh và kinh tế tuần hoàn tương đối đa dạng, gắn trực tiếp với các chuỗi giá trị nông nghiệp chủ lực và lợi thế tài nguyên bản địa. Điểm quan trọng rút ra là các mô hình có triển vọng nhất không nhất thiết là mô hình hiện đại nhất về công nghệ mà là mô hình tạo ra hiệu quả tổng hợp giữa kinh tế, xã hội, môi trường, thích ứng khí hậu và tính khả thi trong nhân rộng. Do đó, định hướng chính sách trong giai đoạn tới cần đặt Bến Tre trong không gian phát triển chung của tỉnh Vĩnh Long mới, chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, lấy các mô hình ưu tiên làm hạt nhân, đồng thời xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ gồm tín dụng, hạ tầng, chuyển giao kỹ thuật, liên kết chuỗi và xúc tiến thị trường, từ đó góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, đồng thời, tạo nền tảng cho tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng bền vững, thích ứng khí hậu và gia tăng giá trị tại chỗ cho tỉnh.
Chú thích:
1. Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và USAID (2023). Sổ tay hướng dẫn công cụ đánh giá mức độ thực hành kinh doanh bền vững của doanh nghiệp theo nguyên tắc kinh tế tuần hoàn.
2. Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và USAID (2023). Sổ tay hướng dẫn công cụ đánh giá mức độ thực hành kinh doanh bền vững của doanh nghiệp theo khung đánh giá Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG).
3, 5. FAO. (2023). What factors shape small-scale farmers’ and firms’ adoption of new technologies?. https://www.fao.org/investment-centre/latest/news/detail/what-factors-shape-small-scale-farmers–and-firms–adoption-of-new-technologies/en.
4. Nguyen, L. L. H., Halibas, A., & Nguyen, T. Q. (2024). Cooperative performance and lead firm support in cleaner production adoption: SEM-fsQCA analysis of precision agriculture acceptance in Vietnam. Journal of Cleaner Production, 475, 143724. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2024.143724.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Quản lý Dự án Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu tại Bến Tre (2024). Báo cáo rà soát, đánh giá mô hình công nghệ xanh, kinh tế tuần hoàn tại tỉnh Bến Tre.
2. Hang, H. T. T., Sinh, L. X., Phuong, T. T., Nui, N. H., & Son, C. T. (2026). Developing circular agriculture for climate change adaptation in Vietnam: Current status and challenges. Asian Journal of Agriculture and Rural Development, 16(1), 61-75. DOI: 10.55493/5005.v16i1.5855.
3. Nguyen, N.-T.-K., Nguyen, T.-T., Nguyen, A.-T., Nguyen, T.-T., Lai, M. H., & Pham, A. T. (2024). Adoption of sustainable farming practices in Vietnam: A discourse of the determining factors. Heliyon, 10(11), e31792. DOI: https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2024.e31792.
4. Tran, D. T., Duong, M. T. D., & Hoang, H. G. (2025). Perception and factors affecting farmers’ adoption of smart agriculture in Vietnam: Implications for extension strategies. World Development Perspectives, 38, 100691. DOI: https://doi.org/10.1016/j.wdp.2025.100691.



