Promoting the People’s Right to supervise sate power in contemporary Vietnam
ThS. Đào Thị Hằng
Học viện Tài chính Phân hiệu Hưng Yên
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước là một trong những nội dung quan trọng của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Trong bối cảnh tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền giám sát của Nhân dân là yêu cầu quan trọng nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước. Thông qua hoạt động giám sát, quyền lực nhà nước được bảo đảm thực thi đúng Hiến pháp và pháp luật, góp phần phòng ngừa lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và quản trị quốc gia. Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Nhân dân đối với quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Quyền làm chủ của Nhân dân; giám sát quyền lực nhà nước; quyền lực nhà nước; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Abstract: Promoting the people’s right to exercise mastery in supervising state power is an important component of the process of building the Socialist Rule-of-Law State of Vietnam of the People, by the People and for the People. In the context of further building and improving the Socialist Rule-of-Law State, ensuring the people’s right to supervise state power is an essential requirement for controlling state power. Public supervision contributes to ensuring that state power is exercised in accordance with the Constitution and the law, preventing abuse of power, corruption and other negative practices, while enhancing the effectiveness and efficiency of state administration and national governance. Based on an analysis of theoretical issues and an assessment of the current situation, the article proposes several solutions to improve the effectiveness of the people’s supervision of state power in Vietnam today.
Keywords: People’s right to exercise mastery; supervision of state power; state power; Socialist Rule-of-Law State.
1. Đặt vấn đề
Trong lý luận về nhà nước và pháp luật, quyền lực nhà nước luôn mang tính hai mặt: một mặt là công cụ thiết yếu để tổ chức xã hội, duy trì trật tự và thúc đẩy phát triển; mặt khác, quyền lực nhà nước luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền, tha hóa nếu thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả. Trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp (1871), C. Mác chỉ ra rằng, bộ máy nhà nước có nguy cơ tách khỏi xã hội. Tư tưởng đó hàm chứa yêu cầu phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi vì lợi ích của Nhân dân1.
Kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu quyền lực đều là của dân”2. Tư tưởng đó khẳng định nguyên tắc mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân; Nhà nước là công cụ để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Vì vậy, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước không chỉ là yêu cầu khách quan của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích, vì lợi ích của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.
Trong quá trình đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán xác định phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân và kiểm soát quyền lực nhà nước là những yêu cầu có ý nghĩa chiến lược. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển tư duy về dân chủ khi bổ sung nội dung “dân giám sát, dân thụ hưởng” vào phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”3. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy của Đảng về phát huy dân chủ XHCN, khẳng định Nhân dân không chỉ tham gia vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách mà còn là chủ thể trực tiếp giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước và thụ hưởng thành quả phát triển.
Trong bối cảnh tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc kiểm soát quyền lực nhà nước đứng trước cả thời cơ và thách thức mới. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và phát huy vai trò giám sát của Nhân dân. Vì vậy, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước có ý nghĩa quan trọng, vừa là yêu cầu của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, vừa góp phần bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng Hiến pháp và pháp luật, tăng cường trách nhiệm giải trình, phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng và lạm quyền. Từ những vấn đề đặt ra, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Nhân dân đối với quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
2. Quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước
Những kết quả này thể hiện cả ở việc mở rộng các hình thức giám sát và từng bước hoàn thiện nhận thức, thể chế về vai trò của Nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Giám sát của Nhân dân ngày càng được khẳng định là một bộ phận quan trọng của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, với cơ sở pháp lý không ngừng được hoàn thiện và hiệu quả thực hiện ngày càng được nâng cao. Những nội dung này được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:
Một là, hệ thống pháp luật về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước ngày càng được hoàn thiện. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước.
Hiến pháp năm 2013 đã xác lập nền tảng hiến định cho việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…”4. Quy định này khẳng định Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và tạo cơ sở hiến định để thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Điều 6 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”5. Quy định này bảo đảm cơ sở hiến định để Nhân dân tham gia thực hiện và giám sát quyền lực nhà nước thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Đồng thời, Điều 28 cũng quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước”6. Đặc biệt, khoản 2 Điều 4 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”7. Các quy định này tạo nền tảng quan trọng để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới xác định: “Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân… quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của Nhân dân”8. Đây là định hướng quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 3 Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 quy định nguyên tắc “Bảo đảm quyền của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được biết, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở”9. Luật cũng quy định tương đối đầy đủ về nội dung, hình thức thực hiện dân chủ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và quyền tham gia giám sát của Nhân dân. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước từ cơ sở và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Hai là, hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội ngày càng được tăng cường, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả. Thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về giám sát, phản biện xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát hằng năm, tập trung vào những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân và những nội dung dễ phát sinh vi phạm trong quản lý nhà nước, như: quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư công, quản lý tài sản công, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cải cách hành chính và việc thực hiện đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
Thông qua các cuộc giám sát chuyên đề và hoạt động phản biện xã hội, một số hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện đã được phát hiện, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý hoặc sửa đổi, bổ sung để phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, chất lượng hoạt động phản biện xã hội từng bước được nâng lên thông qua việc huy động sự tham gia của các hội đồng tư vấn, chuyên gia, nhà khoa học và những người có kinh nghiệm thực tiễn. Đối với nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và các chương trình, dự án quan trọng, ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn cho quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách.
Kết quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đã góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức; đồng thời, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước thông qua các hình thức giám sát phù hợp với quy định của pháp luật.
Ba là, cơ chế giám sát trực tiếp ở cơ sở tiếp tục được củng cố và phát huy hiệu quả. Kiểm soát quyền lực nhà nước chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn với sự tham gia trực tiếp của Nhân dân, đặc biệt ở cấp cơ sở – nơi các quyết định quản lý nhà nước tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm10. Quan điểm này là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát của Nhân dân đối với việc thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở.
Thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng tiếp tục được kiện toàn, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Thông qua các thiết chế này, Nhân dân trực tiếp tham gia giám sát việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, đầu tư xây dựng các công trình dân sinh, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và hoạt động của chính quyền cơ sở. Qua hoạt động giám sát, một số hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, quản lý và sử dụng nguồn lực công đã được phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của chính quyền cơ sở và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước.
Bốn là, chuyển đổi số tạo điều kiện mở rộng các hình thức giám sát của Nhân dân, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Việc triển khai chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số và chính quyền số đã thúc đẩy các cơ quan nhà nước tăng cường công khai, minh bạch thông tin trên cổng thông tin điện tử và cổng dịch vụ công trực tuyến. Các thông tin về thủ tục hành chính, quy trình giải quyết hồ sơ, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ngân sách và nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác từng bước được công khai trên môi trường số thông qua Cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước, Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính các cấp. Qua đó, người dân có điều kiện thuận lợi hơn trong tiếp cận thông tin, thực hiện quyền giám sát và phản ánh, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, việc triển khai các mô hình đô thị thông minh và trung tâm điều hành thông minh (IOC) tại nhiều địa phương đã hình thành phương thức tương tác mới giữa chính quyền và người dân. Theo đó, thông qua các ứng dụng số, người dân có thể phản ánh các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính, những bất cập trong quản lý đất đai, trật tự xây dựng, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông và các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. Việc tiếp nhận, xử lý và công khai kết quả giải quyết các phản ánh trên môi trường số không chỉ nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước mà còn góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch và hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước vẫn còn bộc lộ một số bất cập, làm giảm hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước, vì vậy, cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện.
Thứ nhất, cơ chế theo dõi và thực hiện các kiến nghị sau giám sát còn cần tiếp tục hoàn thiện. Trong nhiều trường hợp, kết quả giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các kiến nghị của công dân chủ yếu mang tính đề xuất, trong khi cơ chế theo dõi, đôn đốc và đánh giá việc tiếp thu, giải quyết các kiến nghị ở một số nơi chưa thật sự chặt chẽ. Việc giải trình, phản hồi và xử lý các nội dung được kiến nghị có lúc, có nơi còn chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả phát huy vai trò giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước.
Thứ hai, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của Nhân dân ở một số lĩnh vực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của hoạt động giám sát. Mặc dù Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 đã quy định trách nhiệm công khai thông tin của cơ quan nhà nước, song việc tổ chức thực hiện ở một số cơ quan, địa phương chưa bảo đảm tính đầy đủ, kịp thời và đồng bộ. Một số thông tin liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đầu tư công, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ ở một số nơi còn chậm được công khai hoặc công khai chưa đầy đủ theo quy định, làm giảm hiệu quả tiếp cận thông tin và thực hiện quyền giám sát của Nhân dân.
Thứ ba, điều kiện bảo đảm cho hoạt động của các thiết chế giám sát của Nhân dân ở cơ sở cần tiếp tục được hoàn thiện. Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đã phát huy vai trò quan trọng trong thực hiện quyền giám sát ở cơ sở. Tuy nhiên, tại một số địa phương, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị và công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho thành viên các thiết chế này còn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Điều này ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giám sát, nhất là đối với những lĩnh vực, dự án có yêu cầu chuyên môn, kỹ thuật cao.
Thứ tư, nhận thức và năng lực tham gia giám sát của một bộ phận người dân cần tiếp tục được nâng cao. Mặc dù quyền làm chủ của Nhân dân ngày càng được bảo đảm bằng pháp luật, song ở một số nơi, việc nhận thức về quyền, trách nhiệm và phương thức tham gia giám sát quyền lực nhà nước còn chưa đồng đều. Khả năng tiếp cận thông tin, tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị và khai thác các nền tảng số phục vụ giám sát của một bộ phận người dân còn hạn chế. Bên cạnh đó, tâm lý e ngại, chưa chủ động tham gia ở một số trường hợp cũng ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Nhân dân.
3. Một số giải pháp phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Một là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm giải trình và cơ chế thực hiện các kiến nghị sau giám sát.
Cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, giám sát, phản biện xã hội và trách nhiệm giải trình, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, cần quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền, trình tự, thời hạn tiếp nhận, xử lý và phản hồi đối với các kiến nghị, phản ánh và kết quả giám sát của Nhân dân. Đối với những nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết, cơ quan, tổ chức và người đứng đầu có trách nhiệm giải trình, công khai kết quả xử lý theo quy định của pháp luật; đồng thời, tăng cường đối thoại với Nhân dân nhằm kịp thời tháo gỡ những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc và đánh giá việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát, gắn trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tiếp thu, giải quyết và phản hồi các kiến nghị của Nhân dân. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm giải trình; đưa kết quả thực hiện các kiến nghị sau giám sát vào nội dung đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Qua đó, nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ, góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số, tạo điều kiện thuận lợi để Nhân dân thực hiện quyền giám sát quyền lực nhà nước thông qua phát triển dữ liệu mở và các nền tảng số.
Tiếp tục triển khai đồng bộ chính phủ số và chính quyền số gắn với hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch thông tin, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo quy định của pháp luật. Trong đó, ưu tiên công khai, số hóa các thông tin về thủ tục hành chính, ngân sách nhà nước, đầu tư công, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân trên các nền tảng số, bảo đảm thông tin đầy đủ, kịp thời, dễ tiếp cận và thuận lợi trong khai thác, sử dụng.
Hoàn thiện các nền tảng số phục vụ tiếp nhận, xử lý, theo dõi và phản hồi kiến nghị, phản ánh của người dân; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và tích hợp các chức năng giám sát trên các nền tảng số hiện có, như: VNeID, Cổng Dịch vụ công quốc gia và các ứng dụng công dân số của địa phương. Đồng thời, tăng cường ứng dụng các công nghệ số trong quản lý, theo dõi quá trình xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân; bảo đảm công khai tiến độ, kết quả giải quyết theo quy định, qua đó, nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước.
Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy tốt hơn vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; đồng thời, đổi mới nội dung, phương thức thực hiện giám sát, phản biện xã hội theo hướng thiết thực, khoa học và hiệu quả. Hoạt động giám sát, cần tập trung vào những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và những lĩnh vực có nguy cơ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, qua đó góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước.
Tiếp tục chú trọng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng và nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác giám sát; phát huy vai trò của các hội đồng tư vấn, chuyên gia, nhà khoa học, luật gia và những người có kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình phản biện. Việc huy động và phát huy trí tuệ của đội ngũ chuyên gia sẽ góp phần nâng cao chất lượng các kiến nghị giám sát, tăng cường cơ sở khoa học và thực tiễn cho hoạt động phản biện xã hội, qua đó, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước.
Bốn là, nâng cao nhận thức pháp luật và kỹ năng thực hiện quyền giám sát của Nhân dân.
Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về dân chủ ở cơ sở, quyền tiếp cận thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và các quy định về giám sát, phản biện xã hội nhằm nâng cao nhận thức của người dân về quyền và trách nhiệm trong tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước. Đồng thời, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền thông qua các phương tiện truyền thông, nền tảng số và các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội để người dân dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện quyền giám sát theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, cần tăng cường bồi dưỡng kỹ năng tiếp cận, khai thác thông tin, sử dụng các nền tảng số, kỹ năng tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị và giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. Đồng thời, thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về bảo vệ người tố cáo, người phản ánh, kiến nghị nhằm tạo môi trường an toàn, khuyến khích người dân tham gia giám sát, phát hiện và phản ánh các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực. Cùng với đó, các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức cần tiếp tục đổi mới tác phong, lề lối làm việc theo hướng chuyên nghiệp, đề cao trách nhiệm giải trình và tinh thần phục vụ Nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.
4. Kết luận
Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước là một trong những yêu cầu quan trọng của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trong những năm qua, cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới hoạt động của các thiết chế giám sát, nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, quyền giám sát của Nhân dân từng bước được bảo đảm và phát huy, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Việc bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước cần gắn với hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế giám sát, đẩy mạnh chuyển đổi số. Đồng thời, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước và tạo điều kiện để Nhân dân thực hiện đầy đủ quyền giám sát theo quy định của pháp luật. Qua đó, góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại.
Chú thích:
1. C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập (1995). Tập 17. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 327 – 336.
2. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 434.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 27.
4, 5, 6. Quốc hội (2013). Điều 2, 6, 28 Hiến pháp năm 2013.
7. Quốc hội (2013). Khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013.
8. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
9. Quốc hội (2013). Khoản 1 Điều 3 Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
10. Nguyễn Phú Trọng (2023). Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 39.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
6. Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong phản biện, giám sát chính sách. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/09/22/phat-huy-quyen-lam-chu-cua-nhan-dan-trong-phan-bien-giam-sat-chinh-sach/
7. Vai trò của Nhân dân trong giám sát quyền lực nhà nước hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/07/04/vai-tro-cua-nhan-dan-trong-giam-sat-quyen-luc-nha-nuoc-hien-nay/



