Phụ nữ ứng cử và trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: so sánh hai nhiệm kỳ 2021 – 2026 và 2026 – 2031

Women candidates and elected deputies of provincial people’s councils: a comparative analysis of the 2021-2026 and 2026-2031 terms

TS. Trần Thị Thanh Loan
Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: thanhloanxhh@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan dân cử là chỉ báo quan trọng phản ánh mức độ thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Bài viết phân tích sự thay đổi về số lượng và tỷ lệ phụ nữ ứng cử, trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giữa hai nhiệm kỳ 2021 2026 và 2026-2031. Phương pháp nghiên cứu là thống kê mô tả kết hợp phân tích tương quan hai biến, dựa trên dữ liệu danh sách ứng cử và trúng cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031. Kết quả cho thấy, có sự chuyển biến tích cực về số lượng và chất lượng phụ nữ ứng cử, trúng cử; khoảng cách giữa các địa phương được thu hẹp, song khác biệt giới vẫn tồn tại. Phân tích góp phần bổ sung tư liệu thực nghiệm cho nghiên cứu về đại diện chính trị của phụ nữ tại Việt Nam trong bối cảnh cải cách hành chính.

Từ khóa: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; giới; ứng cử; trúng cử; phụ nữ.

Abstract: Women’s participation in elected bodies constitutes a key indicator of the extent to which gender equality is realized in the political sphere. This article examines changes in the number and proportion of female candidates and elected female deputies to the provincial People’s Councils between the 2021-2026 and 2026–2031 terms. The research employs descriptive statistics combined with bivariate correlation analysis, drawing on official lists of candidates and elected members of the provincial People’s Councils for both terms. Findings reveal positive shifts in both the quantity and quality of female candidacies and electoral success, together with a narrowing of inter-provincial disparities; nevertheless, gender gaps persist. The analysis contributes empirical evidence to the study of women’s political representation in Vietnam amid ongoing administrative reform.

Keywords: Provincial People’s Council; gender; candidacy; election; women.

1. Đặt vấn đề

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh gồm các đại biểu HĐND do cử tri bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. HĐND cấp tỉnh có vai trò quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương; chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Đại biểu HĐND cấp tỉnh có nhiệm vụ phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cử tri (Quốc hội, 2025).

Luật pháp quốc tế và Hiến pháp Việt Nam đều khẳng định quyền tham chính là một trong những quyền cơ bản của phụ nữ. Trong đó, tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị là nhân tố quan trọng giúp nâng tầm vị thế của phụ nữ trong xã hội nói chung; đồng thời, là tiền đề để giảm thiểu, chấm dứt các hình thức phân biệt đối với nữ giới và thực thi các quyền con người khác (Cục Thống kê & UN Women, 2025). Từ năm 1982, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước CEDAW và cam kết thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới của Liên Hợp quốc, đặc biệt là mục tiêu phát triển bền vững (SDG 5) về sự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào các vị trí ra quyết định. Bên cạnh đó, nhằm tạo hành lang pháp lý để tăng cường vai trò của phụ nữ trong chính trị, Việt Nam đã xây dựng hệ thống chính sách, như: Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025)… đã đưa ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, yêu cầu bảo đảm ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử là phụ nữ và đặt ra chỉ tiêu tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt từ 30% trở lên.

Tìm hiểu về vai trò của phụ nữ trong các cơ quan dân cử, các nghiên cứu cho thấy, sự tham gia của phụ nữ trong HĐND cấp tỉnh là thước đo quan trọng để đánh giá sự phát triển kinh tế – xã hội, mức độ công bằng và mức độ dân chủ của quốc gia (Nguyễn Thị Hà & Vũ Thị Hồng Hoa, 2017). Sự tham gia của phụ nữ trong HĐND mang lại những góc nhìn đa dạng, hướng đi mới cho lĩnh vực chính trị (Oxfam & Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2022); giúp chuyên môn hóa và nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, chất vấn và tiếp xúc cử tri và đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy các chính sách về an sinh xã hội, y tế, giáo dục, quyền phụ nữ và trẻ em (Nguyễn Minh Nhựt, 2023). Tính đến nhiệm kỳ – 2026, tỷ lệ nữ ứng cử viên đã đạt yêu cầu cơ cấu theo quy định, tỷ lệ nữ trúng cử đã tăng trưởng liên tục qua các thập kỷ. So với giai đoạn 1997 – 2021, tỷ lệ nữ trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 đã đạt mức cao (29%), tuy nhiên, kết quả này mới chỉ tiệm cận với các mục tiêu về bình đẳng giới quốc gia và vẫn còn thấp hơn đáng kể so với các mục tiêu đề ra (Vương Đình Huệ, 2021; Trần Thị Thanh Loan, 2023). Như khẳng định của Bộ Tài chính (2026) trong báo cáo kết quả lộ trình thực hiện mục tiêu đạt được bình đẳng giới, tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ đề ra năm 2025, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh không đạt được chỉ tiêu đề ra. Lý do là nhiệm kỳ 2021 – 2026, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND các cấp đều dưới 30%, vì vậy, chưa đạt theo lộ trình đề ra năm 2025 (Bộ Tài chính, 2026). Vẫn tồn tại khoảng cách giới về tỷ lệ trúng cử giữa phụ nữ và nam giới (Trần Thị Thanh Loan, 2023).

Cuộc bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2026 – 2031 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam thực hiện việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh giảm từ 63 tỉnh, thành phố xuống 34 tỉnh, thành phố. Sự thay đổi này dẫn đến thu hẹp số lượng vị trí lãnh đạo, tạo áp lực lớn và nguy cơ giảm tỷ lệ hiện diện của phụ nữ ở các vị trí lãnh đạo, quản lý (UNDP, 2025). Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu thực trạng phụ nữ ứng cử và trúng cử HĐND tỉnh qua hai nhiệm kỳ 2021 – 2026 và 2026 – 2031 có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá mức độ tham gia của phụ nữ trong bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh. Việc so sánh hai nhiệm kỳ sẽ làm rõ những tiến bộ về mặt tỷ lệ phụ nữ ứng cử và trúng cử trong nhiệm kỳ 2021 – 2026 có được duy trì và phát triển trong nhiệm kỳ 2026 – 2031 hay không, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện những cải cách hành chính sâu rộng.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Bài viết tìm hiểu thực trạng phụ nữ ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh ở hai nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031 qua các khía cạnh như: thực trạng nữ ứng cử, trúng cử HĐND cấp tỉnh; so sánh sự thay đổi giữa hai nhiệm kỳ.

Nhằm phác họa thực trạng phụ nữ ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh của nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031, bài viết tiến hành thu thập danh sách ứng cử viên tham gia ứng cử và danh sách ứng cử viên trúng cử HĐND cấp tỉnh của 63 tỉnh, thành phố (nhiệm kỳ 2021 – 2026) và 34 tỉnh, thành phố (nhiệm kỳ 2026 – 2031). Tổng số ứng cử viên tham gia ứng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 là 6.201 ứng cử viên (nam: 58,8%; nữ: 41,2%), nhiệm kỳ 2026 – 2031 là 4.219 ứng cử viên (nam: 56,0%; nữ: 44,0%). Thông tin về các ứng cử viên ở từng đơn vị bầu cử được phân tích bao gồm: giới tính, tuổi, dân tộc, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận, đảng viên/không đảng viên, trúng cử/không trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031. Dữ liệu của ứng cử viên được nhập bằng phần mềm epidata và xử lý số liệu bằng SPSS phiên bản 20.0. Các phép thống kê được sử dụng trong phân tích gồm: phân tích tần suất và tương quan hai biến.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Tình hình phụ nữ ứng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh

Cuộc bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 của 63 tỉnh, thành phố có 6.201 người ứng cử, trong đó 2.555 là nữ, chiếm 41,2% tổng số người ứng cử. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính, từ ngày 01/7/2025, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố. Vì vậy, nhiệm kỳ 2026 – 2031, tổng số người ứng cử của 34 tỉnh, thành phố là 4.219 người, trong đó có 1.850 nữ ứng cử, chiếm 43,8% (Bảng 1).

Xem xét theo giới cho thấy, có sự khác biệt giới về tỷ lệ ứng cử HĐND cấp tỉnh ở cả hai nhiệm kỳ. Tỷ lệ ứng cử viên nam vẫn chiếm phần lớn trong tổng số ứng cử viên. Cụ thể, tỷ lệ nam ứng cử viên đều cao hơn lần lượt từ 12,4% (nhiệm kỳ 2026 – 2031: 56,2% so với 43,8%) đến 17,6% (nhiệm kỳ 2021 – 2026: 58,8% so với 41,2%). Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cơ cấu giới tính của người ứng cử có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng nữ. Cụ thể nếu ở nhiệm kỳ 2021 – 2026, nữ ứng cử viên chiếm 41,2% trong tổng số người ứng cử thì đến nhiệm kỳ 2026 – 2031, tỷ lệ này tăng lên 43,8%, tương ứng tăng 2,6% điểm phần trăm (Bảng 1). Kết quả cho thấy, có sự thay đổi về cơ cấu theo giới trong danh sách những người ứng cử HĐND tỉnh giữa hai nhiệm kỳ.

Bảng 1. Quy mô và cơ cấu người ứng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh theo giới tính, nhiệm kỳ 2021 – 2026 và 2026 – 2031

Ứng cử viênNhiệm kỳ 2021 – 2026Nhiệm kỳ 2026 – 2031
Số lượngTỉ lệ %Số lượngTỉ lệ %
Nữ2.55541,21.85043,8
Nam3.64658,82.36956,2
Tổng6.2011004.219100
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Bên cạnh đó, với tỷ lệ nữ ứng viên ở cả hai nhiệm kỳ đều đạt trên 40% tổng số người ứng cử trong danh sách chính thức, điều này cho thấy, tỷ lệ nữ ứng cử HĐND cấp tỉnh ở cả hai nhiệm kỳ đều bảo đảm đạt tỷ lệ ít nhất 35% trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh đã được đặt ra trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2025; Nghị quyết số 1187/NQ-UBTVQH14 ngày 11/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 và Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Về chất lượng nguồn lực của các nữ ứng cử viên nhiệm kỳ 2026 – 2031 có sự khác biệt đáng kể so với nguồn lực của các nữ ứng cử viên nhiệm kỳ 2021 – 2026. Cụ thể, về cơ cấu theo độ tuổi cho thấy, số lượng nữ ứng cử viên ở độ tuổi dưới 40 tuổi đã giảm so với tỷ lệ này ở nhóm các nữ ứng cử viên ở nhiệm kỳ 2021 – 2026 (42,5% so với 49,1%); tỷ lệ nữ ứng cử viên ở độ tuổi trên 50 tuổi của nhiệm kỳ 2026 – 2031 tăng hơn 2 lần so với nhiệm kỳ 2021 – 2026. Điểm đáng chú ý là tỷ lệ nữ có học hàm/học vị từ thạc sĩ trở lên đã tăng 9,7 điểm phần trăm (Biểu 1).

Biểu 1. Đặc trưng cá nhân của các ứng cử viên chia theo nhiệm kỳ (%)

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Tìm hiểu các chỉ số về tỷ lệ nữ ứng cử HĐND cấp tỉnh ở các địa phương qua hai nhiệm kỳ 2021 – 2026 và 2026 – 2031 cho thấy, vẫn có sự chênh lệch về tỷ lệ nữ ứng cử giữa các tỉnh.

Bảng 2. Tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở các địa phương qua hai nhiệm kỳ 2021 – 2026 và 2026 – 2031 (%)

Chỉ tiêuNhiệm kỳ 2021 – 2026Nhiệm kỳ 2026 – 2031
Trung bình41,243,8
Giá trị nhỏ nhất32,135,2
Giá trị lớn nhất55,954,1
Khoảng biến thiên23,818,8
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Tuy nhiên, sự phân hóa về tỷ lệ ứng cử giữa hai nhiệm kỳ đã được thu hẹp. Cụ thể, ở nhiệm kỳ 2021 – 2026, có chênh lệch khá lớn về tỷ lệ nữ ứng cử giữa các tỉnh, thành phố với khoảng biến thiên về tỷ lệ nữ ứng cử là 23,8% (55,9% so với 32,1%). Điểm đáng chú ý là vẫn có những tỉnh, thành phố tỷ lệ nữ ứng cử chưa đạt theo tiêu chuẩn đặt ra (ít nhất 35%). Tuy nhiên cũng có tỉnh, thành phố, tỷ lệ ứng cử đạt hơn 50%. Xem xét ở nhiệm kỳ 2026 – 2031, sự chênh lệch về tỷ lệ ứng cử viên giữa các tỉnh đã được thu hẹp đáng kể từ 23,8% xuống 18,8% (giảm 5%); 100% các tỉnh đều có tỷ lệ nữ ứng cử đạt chỉ tiêu đề ra (Bảng 2). Những thành quả này cho thấy, sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị.

3.2. Kết quả phụ nữ trúng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh

Kết quả nghiên cứu cho thấy, vẫn còn tồn tại khoảng cách khá lớn về tỷ lệ trúng cử giữa nam ứng cử viên và nữ ứng cử viên. Cụ thể, trong khoảng 10 người trúng cử thì có khoảng 7 đại biểu là nam giới và khoảng 3 đại biểu là nữ giới. Tuy nhiên, dữ liệu cũng cho thấy, có sự chuyển biến tích cực về tỷ lệ nữ trúng cử HĐND cấp tỉnh giữa hai nhiệm kỳ. Nếu như ở nhiệm kỳ 2021 – 2026, tỷ lệ nữ trúng cử đạt khoảng 29% thì đến nhiệm kỳ 2026 – 2031, tỷ lệ nữ trúng cử đã đạt khoảng 30% (Bảng 3). Mặc dù kết quả tỷ lệ nữ trúng cử ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 chưa đạt được chỉ tiêu đặt ra. Nhưng với việc tăng 0,8, tỷ lệ nữ trúng cử HĐND cho thấy, đây là một bước tiến nhỏ nhưng vô cùng có ý nghĩa, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc đại diện của phụ nữ trong chính trị. Đó chính là bằng chứng thể hiện sự bứt phá về tỷ lệ nữ trúng cử HĐND cấp tỉnh của nhiệm kỳ 2026 – 2031 và đạt chỉ tiêu đặt ra trong Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 phấn đấu đạt tỷ lệ nữ trúng cử khoảng 30% tổng số đại biểu HĐND cấp tỉnh.

Bảng 3. Quy mô và cơ cấu người trúng cử đại biểu HĐND cấp tỉnh theo giới tính, nhiệm kỳ 2021-2026 và 2026-2031

Ứng cử viênNhiệm kỳ 2021 – 2026Nhiệm kỳ 2026 – 2031
Số lượngT lệ %Số lượngT lệ %
Nữ1.10029,677530,4
Nam2.62070,41.77769,6
Tổng3.7201002.552100
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031.

Tìm hiểu nguồn lực của các nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh ở hai nhiệm kỳ qua các biến số mang đặc trưng nhân khẩu xã hội cho thấy, có sự chuyển biến tích cực về chất lượng học thuật và nền tảng tư tưởng chính trị của các nữ đại biểu. Cụ thể, so với nhiệm kỳ 2021 –  2026, tỷ lệ nữ đại biểu có học hàm/học vị từ thạc sĩ trở lên ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã tăng 17,7% (56,8% so với 74,5%). Tỷ lệ nữ đại biểu có trình độ lý luận chính trị cao cấp và tương đương ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 cao hơn khoảng 7 điểm phần trăm so với tỷ lệ này ở nhiệm kỳ 2021 – 2026. Sự chênh lệch về tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh giữa hai nhiệm kỳ khoảng 1% (Biểu 2).

Bên cạnh đó, kết quả Biểu 2 cũng cho thấy, sự dịch chuyển về cơ cấu độ tuổi của nữ đại biểu. Nếu như tỷ lệ nữ đại biểu ở độ tuổi 40 – 50 tuổi vẫn giữ ổn định và chiếm tỷ trọng lớn ở cả hai nhiệm kỳ (trên 60%), thì tỷ lệ nữ đại biểu ở độ tuổi dưới 40 tuổi ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã có sự sụt giảm so với tỉ lệ này ở nhiệm kỳ 2021 – 2026 (giảm khoảng 13%). Trong khi đó, tỷ lệ nữ đại biểu ở độ tuổi trên 50 tuổi trở lên của nhiệm kỳ 2026 – 2031, tăng hơn 15 điểm phần trăm so với nhiệm kỳ 2021 – 2026 (25,8% so với 10,5%) (Biểu 2).

Xem xét sự thay đổi về tỷ lệ nữ trúng cử ở các tỉnh, thành phố giữa hai nhiệm kỳ cho thấy, có sự chênh lệch về tỷ lệ nữ trúng cử giữa các tỉnh, thành phố, vẫn còn tồn tại tỉnh, thành phố có tỷ lệ nữ trúng cử ở mức dưới 15%. Tuy nhiên khoảng cách tỷ lệ nữ trúng cử giữa các địa phương ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã được thu hẹp đáng kể so với nhiệm kỳ 2021 – 2026. Cụ thể, khoảng cách giữa tỉnh có tỷ lệ nữ trúng cử cao nhất và thấp nhất ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 giảm 4,3 điểm phần trăm so với khoảng cách này ở nhiệm kỳ 2021 – 2026 (31,4% so với 35,7%).

Biểu 2. Đặc trưng cá nhân của nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh chia theo nhiệm kỳ (%)

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031.

3.3. So sánh t lệ nữ ứng cử và trúng cử giữa hai nhiệm kỳ

Tìm hiểu khoảng cách chênh lệch giữa tỷ lệ nữ ứng cử và tỷ lệ nữ trúng cử ở hai nhiệm kỳ cho thấy, ở nhiệm kỳ 2021 – 2026, tỷ lệ nữ ứng cử là 41,2%, tỷ lệ nữ trúng cử 29,0%, khoảng cách chênh lệch giữa tỷ lệ nữ ứng cử và tỷ lệ nữ trúng cử là 12,2 điểm phần trăm. Trong khi đó, ở nhiệm kỳ 2026 – 2031, tỷ lệ nữ ứng cử là 43,8%, tỷ lệ nữ trúng cử là 30,4%, khoảng cách chênh lệch giữa tỷ lệ nữ ứng cử và tỷ lệ nữ trúng cử là 13,4 phần trăm. So sánh tỷ lệ nữ ứng cử và tỷ lệ nữ trúng cử giữa hai nhiệm kỳ cho thấy, so với nhiệm kỳ 2021 – 2026, tỷ lệ nữ ứng cử ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 tăng 2,6 điểm phần trăm, và tỷ lệ nữ trúng cử tăng 1,4 điểm phần trăm. Khoảng cách chênh lệch giữa tỉ lệ nữ ứng cử và tỷ lệ nữ trúng cử tăng 1,2 điểm phần trăm (từ 12,2% lên 13,4%) (Biểu 3).

Biểu 3. Tỷ lệ nữ ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh ở hai nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031 (%)

Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031.

4. Kết luận

Trên cơ sở dữ liệu về phụ nữ ứng cử và trúng cử HĐND cấp tỉnh của hai nhiệm kỳ 2021 – 2026 và nhiệm kỳ 2026 – 2031, vận dụng cách phân tích tần suất và tương quan hai biến, kết quả nghiên cứu cho thấy:

Một là, có sự khác biệt giới về tỷ lệ ứng cử và trúng cử, tỷ lệ nam ứng cử và trúng cử vẫn chiếm phần lớn trong tổng số người ứng cử, trúng cử ở cả hai nhiệm kỳ. Cứ khoảng 10 người trúng cử thì có khoảng 7 người là nam giới, khoảng 3 người là phụ nữ.

Hai là, tỷ lệ phụ nữ ứng cử và trúng cử HĐND có sự thay đổi đáng kể giữa hai nhiệm kỳ. Tỷ lệ nữ ứng của và tỷ lệ nữ trúng cử tỷ lệ thuận với thời gian. Điều này có nghĩa là, tỷ lệ nữ ứng cử và tỷ lệ nữ trúng cử ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã tăng đáng kể so với tỷ lệ này ở nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Ba là, chất lượng phụ nữ tham gia ứng cử và trúng cử ngày càng tăng. Cụ thể, so với nhiệm kỳ 2021 – 2026, tỷ lệ nữ ứng cử và trúng cử có kinh nghiệm và có trình độ chuyên môn từ thạc sĩ và có nền tảng tư tưởng chính trị đã tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy, tỷ lệ nữ ứng cử và tỷ lệ nữ trúng cử không chỉ tăng về số lượng mà còn có sự thay đổi cả về “chất”.

Bốn là, sự chênh lệch về tỷ lệ nữ ứng cử và tỷ lệ nữ trúng cử giữa các tỉnh, thành phố đã được thu hẹp giữa hai nhiệm kỳ.

Như vậy, so với nhiệm kỳ 2021 – 2026, phụ nữ ứng cử và trúng cử ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã có sự thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Mặc dù tỷ lệ nữ trúng cử tăng liên tục qua các nhiệm kỳ nhưng đến nhiệm kỳ 2026 – 2031 là lần đầu tiên tỷ lệ nữ trúng cử đã tiệm cận với chỉ tiêu đặt ra. Đồng thời, sự gia tăng tỷ lệ nữ ứng cử lên 43,8% và tỷ lệ nữ trúng cử đạt 30,4% cho thấy, đây là một trong những cách thức hữu hiệu nhằm thúc đẩy tỷ lệ nữ trúng cử và là cơ sở để đạt được mục tiêu về tăng tỷ lệ nữ trúng cử HĐND cấp tỉnh cho các nhiệm kỳ tiếp theo.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Bộ Tài chính (2026). Báo cáo số 5104/BTC-KTN ngày 23/4/2026 về việc đánh giá giữa kỳ kết quả thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.
Chính phủ (2021). Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 về việc ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030.
Cục Thống kê & UN Women (2025). Thông tin thống kê giới năm 2024
Nguyễn Minh Nhựt (2023). Vai trò của nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học chính trị, số 3, tr. 52 – 59.
Nguyễn Thị Hà & Vũ Thị Hồng Hoa (2017). Nâng cao tỉ lệ nữ trong các cơ quan dân cử. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 172, tr. 15 – 20.
Oxfam & Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2022). Báo cáo đánh giá, hoàn thiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam.
Quốc hội (2015, 2025). Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2010). Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 841/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 về việc ban hành lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững Việt Nam đến năm 2030.
Trần Thị Thanh Loan (2023). Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ vào Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026. Tạp chí Quản lý nhà nước (https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/10/31/nhan-to-anh-huong-den-su-tham-gia-cua-phu-nu-vao-hoi-dong-nhan-dan-cap-tinh-nhiem-ky-2021-2026/).
UNDP (2025). Tóm tắt nghiên cứu chính sách: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và bộ máy chính quyền.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2021). Nghị quyết số 1187/NQ-UBTVQH14 ngày 11/01/2021 về việc hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 về việc hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Vương Đình Huệ (2021). Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026: Kết quả và những vấn đề đặt ra nhằm tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 17, tr. 3 – 11.