Gender stereotypes in emotional intelligence: Evidence from Vietnam and implications for management and public policy
TS. Nguyễn Như Ngọc
Trường Đại học Văn Lang, TP. Hồ Chí Minh
Email: ngoc.nn@vlu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Học thuyết về vai trò xã hội cũng như hầu hết các minh chứng thực nghiệm chỉ ra giới tính nữ có thể tốt hơn nam trong trí tuệ cảm xúc, tuy nhiên, định kiến về việc nữ thường xuyên bị cảm tính hơn nam lại tồn tại khá phổ biến. Nghiên cứu thực hiện ba khảo sát độc lập, với số mẫu lần lượt là 1.921 sinh viên, 167 sinh viên khác và 318 nhân viên các công ty; sử dụng hai thang đo lường trí tuệ cảm xúc khác nhau là bài kiểm tra (test) năng lực và thang đo tường thuật; và phân tích T-tests để phát hiện sự chênh lệch giữa nam và nữ về trí tuệ cảm xúc hay không. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, không đủ bằng chứng cho thấy nam và nữ có sự khác biệt trong trí tuệ cảm xúc tổng, nhưng nam tốt hơn nữ ở khả năng quản trị cảm xúc trong cả ba mẫu nghiên cứu. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý cho chính sách về quản trị cảm xúc.
Từ khóa: Trí tuệ cảm xúc; quản trị cảm xúc; quản trị chính sách; khác biệt giới; định kiến giới.
Abstract: Social role theory and most empirical evidence suggest that women may outperform men in emotional intelligence; however, the stereotype that women tend to be more emotionally driven than men remains widespread. The study conducted three independent surveys, with samples of 1,921 students, another 167 students, and 318 employees from various companies, respectively; employed two different measures of emotional intelligence, namely an ability-based test and a self-report scale; and used T-tests to determine whether there were differences in emotional intelligence between men and women. The findings indicate that there is insufficient evidence of a difference between men and women in overall emotional intelligence, but that men outperform women in emotion management ability across all three samples. Based on these findings, the article proposes policy implications for emotion management.
Keywords: Emotional intelligence; emotion management; policy management; gender differences; gender stereotypes.
1. Đặt vấn đề
Trí tuệ cảm xúc thường được định nghĩa là khả năng nhận biết, hiểu, sử dụng, và quản trị cảm xúc của chính mình cũng như người khác và dùng những thông tin đó để ra quyết định (Côté, 2014; Mayer & Salovey, 1999). Trí tuệ cảm xúc ảnh hưởng tới rất nhiều khía cạnh của công việc cũng như cuộc sống, ví dụ cải thiện kết quả học tập của sinh viên, nâng cao thái độ làm việc, hiệu quả công việc, sức khỏe tinh thần, thúc đẩy giải quyết xung đột và giảm stress trong công việc. Mặc dù vậy, rất ít nghiên cứu khám phá sự khác nhau giữa hai giới trong năng lực trí tuệ cảm xúc. Bằng chứng chỉ ra giới tính nữ thể hiện tốt hơn ở khả năng hiểu cảm xúc và đồng cảm cũng như trí tuệ cảm xúc được đo bằng bài kiểm tra dạng tính cách (Shahzad & Bagum, 2012; Papoutsi et al., 2022). Nghiên cứu 1.426 sinh viên ở Mỹ và nghiên cứu ở Tây Ban Nha với 12.198 cá nhân; giới tính nữ đều cho điểm cao hơn nam. Ngược lại, một vài nghiên cứu cho ra kết quả, nam thể hiện tốt hơn nữ (Shahzad & Bagum, 2012).
Chính sự không nhất quán này, bài viết thực hiện nghiên cứu với số mẫu lớn, trên các mẫu khác nhau, với hai bài kiểm tra trí tuệ cảm xúc khác nhau và sử dụng hai cách đo lường khác nhau: thang đo của Mayer, Salovey, and Caruso (MSCEIT) (Mayer et al., 2002) và thang đo của Wong and Law EI scale (WLEIS) (Wong & Law, 2017). Ngoài ra, nghiên cứu được thực hiện trên ba mẫu khác nhau với 1.942 sinh viên từ 11 trường đại học tại Việt Nam, 167 sinh viên khác tại Hà Nội và 318 nhân viên công ty. Việc đa dạng mẫu nghiên cứu và thang đo lường này kỳ vọng sẽ giúp bài viết đạt kết quả đáng tin cậy, từ đó đóng góp vào tri thức về trí tuệ cảm xúc cũng như hỗ trợ các quyết định liên quan tới khả năng trí tuệ cảm xúc.
2. Cơ sở lý thuyết
Nhìn chung, có ba loại định nghĩa chủ yếu về trí tuệ cảm xúc: coi trí tuệ cảm xúc như một loại năng lực, một loại tính cách, và mô hình hỗn hợp cả hai loại này (Côté, 2014). Các học giả tiêu biểu của việc coi trí tuệ cảm xúc như một loại năng lực và phát triển thang đo lường gồm có Mayer & Salovey (1999) và Wong & Law (2002). Petrides and Furnham (2003) coi trí tuệ cảm xúc như một tính cách tổng hợp của sự nhận thức cảm xúc và sự tự tin. Mô hình kết hợp về trí tuệ cảm xúc được phát triển bởi Bar-On (1997), bao gồm nhiều khái niệm khác nhau, như: sự nhận thức về cảm xúc, quản trị các mối quan hệ, sự cảm thông, kỹ năng giải quyết vấn đề, lạc quan và quản trị áp lực, Trong các định nghĩa trên, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, trí tuệ cảm xúc là loại năng lực đáp ứng yêu cầu về khái niệm nhất, không bị trùng lặp với nhiều khái niệm đã có trước đó, nên cũng trở thành mô hình được sử dụng nhiều và đáng tin cậy khi nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc (Côté, 2014). Chính vì vậy, bài viết sử dụng trí tuệ cảm xúc với định nghĩa như một loại năng lực, đi kèm hai thang đo lường tương ứng là MSCEIT và WLEIS.
Sự khác biệt giữa nam và nữ trong trí tuệ cảm xúc được giải thích bởi học thuyết vai trò xã hội – social role theory (Hyde, 2014). Theo đó, bởi sự khác biệt về thể lực, nam giới thường được kỳ vọng ra ngoài làm việc, còn nữ giới nhận các trách nhiệm chăm sóc con cái ở nhà. Chính những loại hình công việc này đòi hỏi nữ giới phát triển các kỹ năng về hiểu và nhận biết cảm xúc nhiều hơn nam giới (Papoutsi et al., 2022). Hơn nữa, khi nhìn lại lịch sử phát triển cảm xúc trong thời niên thiếu, sự khác biệt trong trí tuệ cảm xúc có thể được tạo bởi cách thức hai giới được nuôi dạy và kết nối với xã hội (Papoutsi et al., 2022; Sanchez-Nunez et al., 2008). Bài viết nghiên cứu cho thấy, cha mẹ có xu hướng sử dụng ngôn ngữ cảm xúc khi đọc truyện cho bé gái hơn là bé trai. Họ cũng có xu hướng nói về cảm xúc với các bé gái hơn bé trai (Sanchez-Nunez et al., 2008). Kết quả là, giới tính nữ phát triển khả năng đọc, hiểu cảm xúc và diễn đạt cảm xúc tốt hơn nam. Nguyên nhân là vì các bạn nam thường được giáo dục cần phải mạnh mẽ và tránh thể hiện cảm xúc một cách trực diện (Sanchez-Nunez et al., 2008). Có thể thấy, lý thuyết xã hội và các minh chứng đều ám chỉ giới tính nữ tốt hơn nam trong vấn đề trí tuệ cảm xúc. Tuy nhiên, cần chú ý rằng hầu hết các minh chứng đều sử dụng trí tuệ cảm xúc như một loại tính cách, chứ không phải năng lực. Do đó, có thể những định kiến giới về việc nam tốt hơn nữ trong trí tuệ cảm xúc được xét theo khía cạnh khả năng và quản trị cảm xúc.
3. Phương pháp nghiên cứu
Ba cuộc khảo sát độc lập được tiến hành để thu thập dữ liệu nghiên cứu. Trong cuộc khảo sát thứ 1, tác giả tiếp cận với nhiều diễn đàn của các trường đại học khác nhau để đăng thư ngỏ và đường link tới bảng khảo sát; đồng thời, tận dụng network để một số khoa trong các trường đại học hỗ trợ gửi bảng hỏi tới email của sinh viên. Trong mẫu khảo sát này, tác giả thu được 1.942 câu trả lời hợp lệ, từ 11 trường đại học ở Việt Nam. Có 2.010 bảng hỏi được trả về nhưng có 68 bảng hỏi không cung cấp giới tính, nên bị loại khỏi phân tích. Giới tính nữ chiếm 66.4% trong mẫu (1.289 sinh viên), độ tuổi trung bình là 20,32 tuổi. Các bạn sinh viên trong mẫu này sẽ trả lời bảng hỏi trí tuệ cảm xúc đo lường bởi WLEIS.
Khảo sát thứ 2 được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội, với 167 sinh viên và được trả lời bảng đo lường trí tuệ cảm xúc MSCEIT. Nữ giới chiếm 53,3% (89 sinh viên), độ tuổi trung bình là 20,52 tuổi. Tiếp cận bài kiểm tra MSCEIT cần nhiều nguồn lực về tài chính, với giá $6/ bảng nên chúng tôi tiếp cận bài kiểm tra này với mẫu khảo sát thứ 2 và thứ 3.
Tiếp theo là các học viên cao học – những người đang làm công việc toàn thời gian tại các công ty khác nhau ở Hà Nội, thông qua các lớp thạc sỹ tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Mẫu này bao gồm 318 nhân viên, tỷ lệ nữ giới là 50,6% (161 nhân viên), với độ tuổi trung bình là 29,44 tuổi.
Bài viết sử dụng hai thang đo lường trí tuệ cảm xúc như một loại năng lực thông dụng nhất trong tổng quan lý thuyết. Bảng hỏi WLEIS được sử dụng cho mẫu nghiên cứu 1, với 1.942 sinh viên. Thang đo này là thang đo tường thuật, ngắn gọn, dễ vận hành với số lượng lớn. Mẫu nghiên cứu số 2 và 3 dùng thang đo MSCEIT – được phát triển từ tổ chức MHS Inc. tại Hoa Kỳ. Kết quả trí tuệ cảm xúc sẽ được các chuyên gia tính toán, dựa trên câu trả lời của người tham gia, sau đó gửi lại kết quả thực cho nhà nghiên cứu. Bài kiểm tra này có độ tin cậy và chính xác được chứng minh qua nhiều quốc gia. Tác giả mặc định giới tính nữ = 0 và giới tính nam = 1 khi tính toán. Tác giả không tính sự “lựa chọn khác” về giới tính vào phân tích số liệu.
Thang đo lường WLEIS là thang đo tường thuật, việc tính toán độ tin cậy thông qua chỉ số Cronbach alpha (Cronbach alpha = 0.89), thiên kiến sự đa dạng một biến tổng được kiểm tra bằng Harman’s one-factor test và phân tích các nhân tố khám phá, trước khi phân tích dữ liệu chính thức. Về Harman’s one-factor test, tổng cộng 69.4% sự biến thiên được trích xuất với yếu tố 1 chỉ chiếm 18.16%. Điều này cho thấy thiên kiến sự đa dạng một biến tổng không tồn tại nghiêm trọng trong phân tích này. Kết quả của phân tích nhân tố khám phá được thể hiện trong Bảng 1. Sự khác biệt giữa hai giới trong trí tuệ cảm xúc được phân tích với SPSS.
4. Kết quả và thảo luận
4.1. Kết quả nghiên cứu
Bảng 1 thể hiện kết quả của phân tích nhân tố khám phá cho thang đo lường WLEIS. Bốn thành tố của trí tuệ cảm xúc là khả năng đánh giá cảm xúc của bản thân; khả năng đánh giá cảm xúc của người khác; khả năng sử dụng cảm xúc và khả năng quản trị cảm xúc được trích xuất, với hệ số tải giao động từ 0.654 tới 0.871. Các câu hỏi đo lường đều hội tụ về các biến tổng ban đầu, cho thấy các biến có giá trị phân biệt đáng tin cậy.
| Bảng 1: Hệ số tải trong phân tích nhân tố khám phá cho thang đo lường WLEIS Ma trận xoay các nhân tố a | ||||
| Component | ||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | |
| Khả năng quản trị cảm xúc 3 | .871 | |||
| Khả năng quản trị cảm xúc 1 | .836 | |||
| Khả năng quản trị cảm xúc 4 | .819 | |||
| Khả năng quản trị cảm xúc 2 | .731 | |||
| Khả năng đánh giá cảm xúc của người khác 2 | .849 | |||
| Khả năng đánh giá cảm xúc của người khác 3 | .813 | |||
| Khả năng đánh giá cảm xúc của người khác 4 | .812 | |||
| Khả năng đánh giá cảm xúc của người khác 1 | .762 | |||
| Khả năng sử dụng cảm xúc 3 | .824 | |||
| Khả năng sử dụng cảm xúc 4 | .809 | |||
| Khả năng sử dụng cảm xúc 1 | .746 | |||
| Khả năng sử dụng cảm xúc 2 | .711 | |||
| Khả năng đánh giá cảm xúc của bản thân 2 | .796 | |||
| Khả năng đánh giá cảm xúc của bản thân 1 | .771 | |||
| Khả năng đánh giá cảm xúc của bản thân 3 | .720 | |||
| Khả năng đánh giá cảm xúc của bản thân 4 | .654 | |||
| Phương pháp trích: Phân tích thành phần chính; Phương pháp xoay: Varimax có chuẩn hóa Kaiser. a. Quá trình xoay đã hội tụ trong 5 lần lặp. | ||||
Sự khác biệt về trí tuệ cảm xúc giữa hai giới tính khá là nhất quán ở cả ba mẫu nghiên cứu. Ở cả 3 mẫu nghiên cứu, nam thể hiện tốt hơn nữ ở khía cạnh quản trị cảm xúc. Với bài kiểm tra trí tuệ cảm xúc tự đánh giá, từ kết quả nghiên cứu cho thấy, không tìm thấy minh chứng cho sự khác biệt khác. Trong hai mẫu sử dụng MSCEIT, trong khi nam giới đạt điểm cao hơn nữ giới trong mẫu sinh viên ở hầu hết các khía cạnh ngoại trừ khả năng nhận thức cảm xúc thì trong mẫu nhân viên, họ chỉ nhỉnh hơn nữ giới ở khả năng nhận thức cảm xúc và khả năng quản trị cảm xúc. Bảng 2, Bảng 3 và Bảng 4 trình bày chi tiết hơn các kết quả nghiên cứu.
| Bảng 2: Sự khác biệt giữa nam và nữ sinh viên đại học trong trí tuệ cảm xúc được đo lường bởi thang đo tường thuật WLEIS, kiểm tra bằng Independent Samples T-Test | ||||||||||||||||||
| Bài kiểm tra Levene cho sự tương đồng của phương sai | Bài kiểm tra t-test về sự tương đồng của điểm trung bình | |||||||||||||||||
| F | Sig. | t | df | Sig. (2-tailed) | Sự khác biệt điểm trung bình | Sự khác biệt về sai số chuẩn | 95% khoảng tin cậy của sự khác biệt về điểm trung bình | |||||||||||
| Giới hạn dưới | Giới hạn trên | |||||||||||||||||
| Đánh giá cảm xúc của bản thân | 3.402 | .065 | .994 | 1940 | .320 | .039 | .039 | -.037 | .114 | |||||||||
| Đánh giá cảm xúc của người khác | .119 | .730 | -.813 | 1940 | .416 | -.032 | .040 | -.108 | .044 | |||||||||
| Sử dụng cảm xúc | 8.862 | .003 | .902 | 1940 | .367 | .034 | .039 | -.040 | .109 | |||||||||
| Sử dụng cảm xúc (Welch’s t-test) | .887 | 1160 | .375 | .033 | .038 | -.041 | .108 | |||||||||||
| Quản trị cảm xúc | 3.251 | .072 | 3.025 | 1940 | .003 | .124 | .042 | .044 | .204 | |||||||||
| Trí tuệ cảm xúc tổng | 7.939 | .005 | 1.403 | 1940 | .161 | .041 | .030 | -.016 | .099 | |||||||||
| Trí tuệ cảm xúc tổng (Welch’s t-test) | 1.385 | 1132 | .166 | .040 | .031 | -.015 | .098 | |||||||||||
| N = 1942, Nữ = 1289, Nam = 653 | ||||||||||||||||||
| Theo kết quả tính toán của tác giả, 2026 Bảng 3: Sự khác biệt giữa nam và nữ sinh viên đại học trong trí tuệ cảm xúc được đo lường bởi thang đo năng lực MSCEIT, kiểm tra bằng Independent Samples T-Test | ||||||||||||||||||
| Bài kiểm tra Levene cho sự tương đồng của phương sai | Bài kiểm tra t-test về sự tương đồng của điểm trung bình | |||||||||||||||||
| F | Sig. | t | df | Sig. (2-tailed) | Sự khác biệt điểm trung bình | Sự khác biệt về sai số chuẩn | 95% khoảng tin cậy của sự khác biệt về điểm trung bình | |||||||||||
| Giới hạn dưới | Giới hạn trên | |||||||||||||||||
| Nhận thức về cảm xúc | 1.522 | .219 | -.502 | 166 | .616 | -1.159 | 2.309 | -5.719 | 3.400 | |||||||||
| Sử dụng cảm xúc | 2.797 | .096 | 3.831 | 165 | .000 | 12.275 | 3.204 | 5.947 | 18.601 | |||||||||
| Hiểu cảm xúc | .009 | .923 | 2.098 | 166 | .037 | 5.455 | 2.601 | .320 | 10.589 | |||||||||
| Quản trị cảm xúc | 8.719 | .004 | 4.307 | 166 | .000 | 10.022 | 2.327 | 5.428 | 14.615 | |||||||||
| Quản trị cảm xúc (Welch’s t-test) | 4.242 | 138 | .000 | 10.022 | 2.362 | 5.351 | 14.692 | |||||||||||
| Trí tuệ cảm xúc tổng | 3.194 | .076 | 2.498 | 165 | .013 | 7.145 | 2.861 | 1.496 | 12.794 | |||||||||
| N = 167, Nữ = 89, Nam = 78 | ||||||||||||||||||
| Bảng 4: Sự khác biệt giữa nam và nữ nhân viên công ty trong trí tuệ cảm xúc được đo lường bởi thang đo năng lực MSCEIT, kiểm tra bằng Independent Samples T-Test | ||||||||||
| Bài kiểm tra Levene cho sự tương đồng của phương sai | Bài kiểm tra t-test về sự tương đồng của điểm trung bình | |||||||||
| F | Sig. | t | df | Sig. (2-tailed) | Sự khác biệt điểm trung bình | Sự khác biệt về sai số chuẩn | 95% khoảng tin cậy của sự khác biệt về điểm trung bình | |||
| Giới hạn dưới | Giới hạn trên | |||||||||
| Nhận thức về cảm xúc | 4.102 | .044 | 2.022 | 316 | .044 | 3.837 | 1.898 | .103 | 7.572 | |
| Nhận thức về cảm xúc (Welch’s t-test) | 2.022 | 310 | .044 | 3.837 | 1.898 | .103 | 7.572 | |||
| Sử dụng cảm xúc | 1.912 | .168 | 1.044 | 316 | .297 | 1.860 | 1.782 | -1.646 | 5.367 | |
| Hiểu cảm xúc | .292 | .589 | 1.071 | 316 | .285 | 1.260 | 1.176 | -1.054 | 3.574 | |
| Quản trị cảm xúc | 1.678 | .196 | 4.147 | 316 | .000 | 4.957 | 1.195 | 2.605 | 7.310 | |
| Trí tuệ cảm xúc tổng | .268 | .605 | 1.432 | 316 | .153 | 2.008 | 1.402 | -.751 | 4.767 | |
| N = 318, Nữ = 161, Nam = 157 | ||||||||||
Ở Bảng 2: Sự khác biệt giữa nam và nữ sinh viên đại học trong trí tuệ cảm xúc được đo lường bởi thang đo tường thuật WLEIS, đã chỉ ra sự khác biệt giữa nam và nữ sinh viên đại học trong trí tuệ cảm xúc được đo lường bởi thang đo tường thuật WLEIS. Theo đó, bài kiểm tra Levene về độ tương đồng của phương sai cho thấy 3 biến đều thỏa mãn không có sự khác biệt lớn giữa hai mẫu nam và nữ (với tất cả sig của giá trị F đều > 0.05), ngoại trừ biến sử dụng cảm xúc (với sig = 0.003) và biến trí tuệ cảm xúc tổng (sig = 0.005). Do đó, tác giả kiểm tra sự khác biệt giữa hai mẫu nam, nữ cho hai biến số này bằng bài kiểm tra Welch’s t – test. Bảng kết quả so sánh chỉ số T với điểm khác biệt trung bình cho thấy, chỉ có sự khác biệt giữa nam và nữ ở khả năng Quản trị cảm xúc, với sự khác biệt là 0.124 và chỉ số p = 0.003. Điều này có nghĩa là nam sinh viên tốt hơn nữ sinh viên ở khả năng quản trị cảm xúc.
Tương tự, tại Bảng 3: Sự khác biệt giữa nam và nữ sinh viên đại học trong trí tuệ cảm xúc được đo lường bởi thang đo năng lực MSCEIT cũng chỉ ra sự khác biệt giữa sinh viên nam và nữ nhưng trí tuệ cảm xúc lúc này được đo lường bằng thang đo năng lực MSCEIT. Khi kiểm tra mức độ tương đồng phương sai của hai mẫu nhỏ, chỉ có biến Quản trị cảm xúc vi phạm giả định về mức độ tương đồng của phương sai giữa hai mẫu so sánh, với F = 8.719 và sig = 0.004. Do đó, biến quản trị cảm xúc này sẽ được thực hiện thêm bài kiểm tra Welch’s T – test. Khi so sánh giữa nam và nữ, được đo lường bằng bài kiểm tra MSCEIT này, nam thể hiện tốt hơn nữ ở mọi khả năng (sử dụng cảm xúc, hiểu cảm xúc, quản trị cảm xúc, và trí tuệ cảm xúc tổng), ngoại trừ biến nhận thức về cảm xúc. Với p = 0.616 (>0.05), không có bằng chứng cho thấy sinh viên nam tốt hơn sinh viên nữ ở khả năng nhận thức về cảm xúc, khi được đo lường bằng bài kiểm tra năng lực khách quan, trong mẫu nghiên cứu này.
Ở Bảng 4: Sự khác biệt giữa nam và nữ nhân viên công ty trong trí tuệ cảm xúc được đo lường bởi thang đo năng lực MSCEIT, khi so sánh nam và nữ nhân viên công ty, biến nhận thức về cảm xúc không có sự tương đồng về phương sai, nên Welch’s t-test được thực hiện thêm với biến số này. Kết quả chỉ ra rằng, nam nhân viên công ty thể hiện tốt hơn nữ ở hai khía cạnh Quản trị cảm xúc và nhận thức về cảm xúc (với p values < 0.05). Bảng so sánh này được thực hiện với nhân viên các công ty và trí tuệ cảm xúc được đo lường bằng bài kiểm tra năng lực MSCEIT.
4.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, giới tính nam thể hiện tốt hơn ở khả năng quản trị cảm xúc ở cả ba mẫu nghiên cứu. Kết quả này ngược lại với nhiều kết quả trong các nghiên cứu trước đó. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là những bài nghiên cứu trước đó báo cáo sự vượt trội của nữ giới thì đều dùng các công cụ đo lường trí tuệ cảm xúc như một tính cách hoặc mô hình tổng hợp (Papoutsi et al., 2022). Bài viết đã sử dụng công cụ đo lường trí tuệ cảm xúc như một loại năng lực – ít bị trùng lặp với các khái niệm khác. Khi sử dụng công cụ đo lường MSCEIT, nam thể hiện tốt hơn nữ ở khả năng quản trị cảm xúc, và sự khác biệt thu hẹp lại khi họ trưởng thành với sự chênh lệch là 10.02 điểm khi còn là sinh viên, giảm xuống 4.96 điểm trong mẫu nhân viên. Đây có thể là dấu hiệu rằng khả năng trí tuệ cảm xúc có thể thay đổi theo độ tuổi và cải thiện khi được đào tạo và trải nghiệm (Mattingly & Kraiger, 2019).
Trong hai mẫu nghiên cứu là sinh viên, kết quả nghiên cứu khác nhau ở một số khía cạnh của trí tuệ cảm xúc. Bài khảo sát trí tuệ cảm xúc dạng tường thuật ở mẫu 1 và bài kiểm tra trí tuệ cảm xúc khách quan ở mẫu 2 cho thấy, trong mẫu 1, nam quản trị cảm xúc tốt hơn nhưng ở điểm trí tuệ cảm xúc tổng và ba khía cạnh khác của trí tuệ cảm xúc, nam và nữ không có sự khác biệt. Ngược lại, trong mẫu nghiên cứu 2, nam làm tốt hơn nữ ở hầu hết các hạng mục, bao gồm sử dụng, quản trị cảm xúc, hiểu cảm xúc và trí tuệ cảm xúc tổng. Như vậy, việc sử dụng bài kiểm tra khác nhau sẽ dẫn đến kết quả khác nhau. Trong mẫu nghiên cứu 1 (vì là câu hỏi tường thuật), có thể thiên kiến về các đặc điểm được xã hội đánh giá cao đã xảy ra khiến cả hai giới tính đều tự đánh giá năng lực trí tuệ cảm xúc của mình cao, dẫn tới không có sự khác biệt trong trí tuệ cảm xúc tổng ở cả hai giới. Đáng chú ý là kết quả nghiên cứu tương đồng với kết quả nghiên cứu của Kong (2017) trên mẫu sinh viên Trung Quốc, nhưng lại trái ngược với kết quả trên mẫu của Cabello et al. (2016) với sinh viên Tây Ban Nha. Điều này phù hợp với Wong và Law (2002) cho rằng, bài kiểm tra năng lực trí tuệ cảm xúc cũng sẽ phản ánh một phần tác động của văn hóa đất nước khi Việt Nam và Trung Quốc có sự gần gũi về mặt văn hóa.
Như vậy, ba mẫu nghiên cứu cho ra các kết quả không nhất quán về sự khác biệt giữa nam và nữ ở trí tuệ cảm xúc tổng và ba khía cạnh: hiểu cảm xúc, nhận biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc. Tuy nhiên, ba mẫu nghiên cứu với hai bài kiểm tra khác nhau cho ra kết quả nhất quán rằng giới tính nam tốt hơn giới tính nữ ở khả năng quản trị cảm xúc.
5. Hàm ý cho quản trị và chính sách
Định kiến về giới trong lĩnh vực trí tuệ cảm xúc vẫn tồn tại trong khi kết quả nghiên cứu không nhất quán. Bài viết cung cấp minh chứng thực nghiệm rằng, giới tính nam có thể tốt hơn nữ ở quản trị cảm xúc nhưng không có bằng chứng, cho thấy hai giới khác biệt về trí tuệ cảm xúc nói chung và các khía cạnh khác của trí tuệ cảm xúc. Từ nghiên cứu cho thấy, trí tuệ cảm xúc ngày càng trở nên quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống, vì vậy, đào tạo, huấn luyện về trí tuệ cảm xúc có thể là một giải pháp tốt trong bối cảnh trường học lẫn doanh nghiệp (Mattingly & Kraiger, 2019).
Tuy nhiên, nam và nữ có thể được đào tạo chuyên sâu các khía cạnh cụ thể khác nhau, ví dụ nam nên tập trung vào việc nâng cao cảm nhận và hiểu về cảm xúc, còn nữ giới nên được nâng cao khả năng quản trị cảm xúc. Ngoài ra, việc kiểm tra trí tuệ cảm xúc trong tuyển dụng cũng khá cần thiết, đặc biệt với những công việc đòi hỏi trí tuệ cảm xúc cao. Các công ty nên lựa chọn các cách đo lường trí tuệ cảm xúc phù hợp, bởi cách đo lường có thể dẫn tới các kết quả khác nhau.
Bất kỳ sự phân biệt hay thiên kiến nào về giới liên quan tới trí tuệ cảm xúc trong tuyển dụng và thăng tiến nên thận trọng, vì không có sự đồng thuận giữa các nhà khoa học về việc nam hay nữ tốt hơn về trí tuệ cảm xúc nói chung. Tuy vậy, việc nam quản trị cảm xúc tốt hơn nữ lại đồng nhất ở cả ba mẫu nghiên cứu cũng như hai thang đo trí tuệ cảm xúc khác nhau cho thấy đây là một kết quả khá đáng tin cậy.
Cuối cùng, có thể xem xét việc đào tạo trí tuệ cảm xúc trở thành mục tiêu chiến lược trong các cơ sở giáo dục và doanh nghiệp. Số liệu từ Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, 2025) cho thấy, hiện nay có khoảng 20 triệu nhân sự làm việc trong các ngành dịch vụ và ngành này chiếm gần 50% động lực cho sự phát triển kinh tế . Tuy nhiên, mức độ chuyên môn cũng như khả năng chịu áp lực của họ còn hạn chế so với các nước phát triển. Nâng cao năng lực trí tuệ cảm xúc của nguồn nhân lực, đặc biệt trong ngành dịch vụ sẽ góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của cả ngành cũng như góp phần thúc đẩy kinh tế nhờ có sự luân chuyển nguồn lao động chất lượng cao trong các doanh nghiệp.
Tài liệu tham khảo:
Bar-On, R. (1997). Bar-On emotional quotient inventory. Multi Health Systems.
Cabello, R., Sorrel, M. A., Fernández-Pinto, I., Extremera, N., & Fernández-Berrocal, P. (2016). Age and gender differences in ability emotional intelligence in adults: A cross-sectional study. Developmental Psychology, 52(9), 1486- 1492.
Côté, S. (2014). Emotional intelligence in organizations. Annual Review of Organizational Psychology and Organizational Behavior, 1(1), 459-488.
Hyde, J. S. (2014). Gender similarities and differences. Annual Review of Psychology, 65, 373-398.
Kong, F. (2017). The validity of the Wong and Law Emotional Intelligence Scale in a Chinese sample: Tests of measurement invariance and latent mean differences across gender and age. Personality and Individual Differences, 116, 29-31.
Mattingly, V., & Kraiger, K. (2019). Can emotional intelligence be trained? A meta-analytical investigation. Human Resource Management Review, 29(2), 140-155.
Mayer, J.D., Salovey, P., & Caruso, D (2002). Mayer-Salovey-Caruso Emotional Intelligence Test (MSCEIT) Item Booklet. Toronto, Ontario: Multi-Health Systems.
Mayer, J.D.; Salovey, P. (1999). What is emotional intelligence? In Emotional Development and Emotional Intelligence: Educational Implications; Salovey, P., Sluyter, D.J., Eds.; Basic Books: New York, NY, USA, 1997; pp. 3–31.
Papoutsi, C., Chaidi, I., Drigas, A., Skianis, C., & Karagiannidis, C. (2022). Emotional Intelligence & ICTs for Women and Equality. Technium Soc. Sci. J., 27, 253.
Petrides, K. V., & Furnham, A. (2003). Trait emotional intelligence: Behavioural validation in two studies of emotion recognition and reactivity to mood induction. European journal of personality, 17(1), 39-57.
Sanchez-Nunez, M., Fernández-Berrocal, P., Montañés, J., & Latorre, J. M. (2008). Does emotional intelligence depend on gender? The socialization of emotional competencies in men and women and its implications. Electronic Journal of Research in Educational Psychology, 16 (6), 455-474.
Shahzad, S., & Bagum, N. (2012). Gender differences in trait emotional intelligence: A comparative study. Business Review, 7(2), 106-112.
Wong, C. S., & Law, K. S. (2017). The effects of leader and follower emotional intelligence on performance and attitude: An exploratory study. In Leadership Perspectives (pp. 97-128). Routledge.
* Bài viết được tài trợ bởi Trường Đại học Văn Lang với mã số đề tài VLU-2503-DT-KQT-GV-0069.



