Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng hiện nay

The Party’s independent and self-reliant foreign policy orientation in the current struggle to safeguard its ideological foundation

TS. Nguyễn Thị Phúc
Trường Đại học Lao động – Xã hội
Email: phucnt@ulsa.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết tập trung nhận diện các luận điệu xuyên tạc về đối ngoại với nền tảng tư tưởng; phân tích vai trò của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời đánh giá thực trạng vận dụng trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ gắn với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp.

Từ khóa: Đối ngoại độc lập, tự chủ; nền tảng tư tưởng; hội nhập quốc tế; Việt Nam.

Abstract: In the context of increasingly profound globalization and international integration, the independent and self-reliant foreign policy orientation of the Communist Party of Vietnam plays a particularly important role in safeguarding national interests and protecting the Party’s ideological foundation. This article focuses on identifying distorted narratives concerning foreign affairs and the Party’s ideological foundation; analyzing the role of the Party’s independent and self-reliant foreign policy orientation in the struggle to safeguard its ideological foundation; and assessing the current state of its implementation. On that basis, the article proposes several solutions to enhance the effectiveness of implementing the independent and self-reliant foreign policy orientation in conjunction with the task of safeguarding the Party’s ideological foundation amid a complex and volatile international context.

Keywords: Independent and self-reliant foreign policy; ideological foundation; international integration; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo, các yếu tố, như toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia. Đối với Việt Nam, quá trình mở cửa và hội nhập không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội mà còn đặt ra nhiều thách thức đối với việc giữ vững độc lập, chủ quyền và ổn định chính trị. Đặc biệt, trên lĩnh vực tư tưởng, “Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục thực hiện nhiều thủ đoạn, âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.80). Vì vậy, yêu cầu bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp thiết, gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Một trong những nhân tố có ý nghĩa chiến lược trong thực hiện nhiệm vụ này chính là đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không chỉ là cơ sở định hướng cho hoạt động đối ngoại mà còn góp phần tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi, củng cố niềm tin, nâng cao vị thế quốc gia, từ đó, hỗ trợ hiệu quả cho công cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn, bài viết tập trung nghiên cứu đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, góp phần làm rõ vai trò, thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trong thời gian tới.

2. Nhận diện các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch xem lĩnh vực đối ngoại là “mũi đột phá” để làm suy yếu niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Các luận điệu xuyên tạc hiện nay không chỉ dừng lại ở việc phê phán mà đã chuyển sang hình thức tinh vi, giả danh “phản biện chính sách” hay “tư vấn yêu nước”.

Thứ nhất, xuyên tạc chính sách “bốn không” và bản chất của độc lập, tự chủ.

Đây là trọng tâm công kích nhằm lái nước ta vào quỹ đạo của các liên minh quân sự hay khiến chúng ta mất phương hướng chiến lược. Các đối tượng này cho rằng, chính sách “bốn không” là tư duy lỗi thời, khiến Việt Nam trở nên đơn độc, không có đồng minh chiến lược để bảo vệ chủ quyền khi có biến cố. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm giữa “độc lập, tự chủ” với “biệt lập” nhằm kích động tâm lý hoang mang trong dư luận.  Vấn đề này được Đảng ta khẳng định rõ: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” (Bộ Quốc phòng, 2019, tr.25), không những thế, Việt Nam “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại…. là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.117). Đây là cam kết của Việt Nam đối với hòa bình thế giới, góp phần củng cố lòng tin chiến lược với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Với “trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam” (Nguyễn Phú Trọng, 12/2021), trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã góp phần củng cố vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phục vụ đắc lực, hiệu quả cho phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân, tăng cường sức mạnh dân tộc, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và đối tượng phản động đã xuyên tạc về trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” của Đảng và Nhà nước bằng những luận điệu sai trái, phủ nhận tính đúng đắn và thành tựu của đường lối đối ngoại. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm, gán ghép với các cách hiểu tiêu cực như “ba phải”, “đu dây”, “hai mặt”. Bằng thủ đoạn ngụy biện và quy chụp, các đối tượng này còn xuyên tạc rằng, Việt Nam theo đuổi chính sách đối ngoại đi ngược xu thế, đồng thời, lan truyền thông tin sai lệch thông qua các hình thức “bình luận”, “góc nhìn” nhằm gây nhiễu và định hướng dư luận.

Thứ hai, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền làm vũ khí gây sức ép.

Các thế lực thù địch đã lợi dụng những vụ khủng bố để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc và tôn giáo. Chúng thu thập, sử dụng các nguồn thông tin không chính thống, phiến diện từ những đối tượng chống đối trong và ngoài nước để xây dựng các báo cáo thiếu khách quan, thậm chí sai lệch, qua đó đưa ra những nhận định xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Một số tổ chức quốc tế cũng đưa ra các đánh giá tiêu cực, như trong Báo cáo Nhân quyền toàn cầu năm 2023 của Human Rights Watch, trong đó cho rằng, Việt Nam hạn chế nhiều quyền dân sự và chính trị (Human Rights Watch, 2023). 

Bên cạnh đó, các đối tượng này còn lợi dụng những vụ án hình sự thu hút sự quan tâm của dư luận để xuyên tạc quá trình điều tra, xét xử cho rằng, các cơ quan chức năng thiếu công bằng, vi phạm quyền con người. Đồng thời, chúng kêu gọi các quốc gia và tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép đối với Việt Nam nhằm phục vụ mục đích chống phá và làm suy giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ ba, phủ nhận thành quả đối ngoại và rêu rao luận điệu chệch hướng”.

Luận điệu này đánh trực diện vào niềm tin của đảng viên và Nhân dân đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Khi Việt Nam đạt được những thành tựu đối ngoại quan trọng (như làm Chủ tịch ASEAN, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc), chúng phủ nhận bằng cách cho rằng đó chỉ là “sự may mắn” hoặc “dàn xếp chính trị” chứ không phải do đường lối đúng đắn của Đảng. Chúng lập luận rằng, việc Việt Nam mở rộng quan hệ với các nước tư bản chủ nghĩa, tham gia các định chế tài chính quốc tế là minh chứng cho việc “bỏ rơi lý tưởng Mác – Lênin”, là bước đi tất yếu dẫn đến “chuyển hóa” sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hoàn toàn. Từ đó, chúng muốn tạo ra nhận thức sai lầm rằng: Muốn phát triển và hội nhập thì phải từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là thủ đoạn cực kỳ nguy hiểm nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ từ cấp độ nhận thức về đường lối.

Các luận điệu trên không tồn tại biệt lập mà đan xen, hỗ trợ nhau nhằm tạo ra một “gọng kìm” tư tưởng: vừa gây sức ép từ bên ngoài (thông qua nhân quyền, đối ngoại đa phương), vừa gây rạn nứt từ bên trong (thông qua việc nghi ngờ tính đúng đắn của đường lối độc lập, tự chủ). Việc nhận diện rõ các thủ đoạn này là tiền đề khách quan để xây dựng các đối sách đấu tranh hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.

3. Vai trò của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Một là, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập quốc tế. Độc lập, tự chủ giúp Việt Nam chủ động lựa chọn mô hình và phương thức phát triển phù hợp, hạn chế nguy cơ lệ thuộc, “hòa tan” về tư tưởng; qua đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, nâng cao hiệu quả đấu tranh tư tưởng trên mặt trận đối ngoại. Thông qua các kênh ngoại giao song phương, đa phương và các diễn đàn quốc tế, Việt Nam chủ động cung cấp thông tin, đối thoại, phản bác những quan điểm sai trái, góp phần thúc đẩy nhận thức khách quan về Việt Nam.

Ba là, củng cố vị thế và uy tín quốc tế, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng. Việc chủ động, tích cực tham gia các cơ chế quốc tế, thực hiện trách nhiệm quốc tế và tôn trọng luật pháp quốc tế góp phần nâng cao mức độ tin cậy đối với Việt Nam, qua đó hạn chế tác động của các luận điệu xuyên tạc.

Bốn là, kết hợp đối ngoại với bảo vệ an ninh tư tưởng. Đối ngoại văn hóa, đối ngoại nhân dân và thông tin đối ngoại góp phần lan tỏa hình ảnh, giá trị và thành tựu của Việt Nam, củng cố niềm tin xã hội và nâng cao khả năng nhận diện, phòng ngừa thông tin sai lệch.

Năm là, góp phần phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, lợi ích quốc gia – dân tộc và định hướng chính trị giúp chủ động nhận diện, kiểm soát những tác động tiêu cực từ bên ngoài, góp phần giữ vững bản lĩnh chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên.

4. Thực trạng vận dụng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng

Việc triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ thời gian qua đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại và tạo cơ sở thực tiễn đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Kết quả này thể hiện rõ qua việc vận dụng linh hoạt nguyên tắc độc lập, tự chủ trước những biến động địa chính trị.

Thứ nhất, khẳng định bản sắc Ngoại giao cây tre” trước các biến động địa chính trị.

Trước những xung đột và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc làm cơ sở, đồng thời tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trong xung đột Nga – Ukraine, Việt Nam nhất quán kêu gọi các bên kiềm chế, không làm gia tăng căng thẳng, giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình, thúc đẩy đối thoại và đàm phán. Tại Đại hội đồng Liên Hợp quốc, ngày 01/03/2022, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh: “Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác” (Nghĩa Nhân, 02/3/2022). Lập trường này thể hiện cách tiếp cận khách quan, cân bằng, không đứng về bên nào trong các xung đột quốc tế. Việt Nam luôn nhấn mạnh nguyên tắc “Vì lợi ích quốc gia – dân tộc, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.85). Đây là cơ sở để Việt Nam xử lý hài hòa quan hệ với các đối tác, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt.

Tình hình xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông thời gian gần đây, tiếp tục diễn biến phức tạp, với các cuộc tấn công trả đũa giữa nhiều bên liên quan, làm gia tăng nguy cơ bất ổn khu vực và tác động sâu rộng đến hòa bình, an ninh toàn cầu. Mỗi khi xung đột xảy ra, dư luận trong nước và quốc tế đều đặc biệt quan tâm theo dõi. Lợi dụng tình hình đó, các đối tượng chống phá thường xuyên lan truyền những thông tin chưa được kiểm chứng, thậm chí bịa đặt, cắt ghép từ các nguồn bên ngoài, kèm theo các bình luận mang tính suy diễn và quy chụp. Thông qua đó, chúng cố tình định hướng dư luận theo hướng cho rằng Việt Nam “im lặng”, “thiếu trách nhiệm” hoặc “không dám thể hiện chính kiến” trước các vấn đề quốc tế, nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường của Đảng và Nhà nước.

Một trong những thủ đoạn phổ biến của các thế lực thù địch là bóp méo chính sách đối ngoại “đa phương hóa, đa dạng hóa” của Việt Nam. Đồng thời, chúng lợi dụng hình ảnh chiến tranh, thương vong và những tổn thất của người dân để gieo rắc tâm lý bi quan, hoài nghi đối với chế độ. Bên cạnh đó, các đối tượng này còn đưa ra những so sánh phiến diện, xuyên tạc rằng nếu Việt Nam không thay đổi thể chế chính trị thì có thể rơi vào tình trạng xung đột như một số quốc gia ở Trung Đông.

Tại họp báo ngày 28/02/2026, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Việt Nam quan ngại sâu sắc về tình hình xung đột leo thang phức tạp tại khu vực Trung Đông, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và an toàn của người dân, hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Việt Nam kêu gọi các bên liên quan kiềm chế tối đa, chấm dứt ngay các hành động leo thang căng thẳng, bảo vệ dân thường và các cơ sở hạ tầng thiết yếu, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, Hiến chương và các nghị quyết liên quan của Liên Hợp quốc, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các đàm phán hòa bình vì an ninh, an toàn, hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới” (BNG, 28/02/2026).

Những nội dung trên đã làm nổi bật bản sắc “ngoại giao cây tre” – mềm dẻo nhưng kiên định, linh hoạt nhưng nhất quán – trong việc vận dụng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam trước các biến động địa chính trị phức tạp. Việc Việt Nam kiên trì lập trường không “chọn bên”, đề cao đối thoại, hòa bình và tuân thủ luật pháp quốc tế không chỉ thể hiện bản lĩnh và trách nhiệm của một quốc gia mà còn là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn, nhất quán của đường lối đối ngoại. Trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, những lập trường này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi trực tiếp bác bỏ các luận điệu xuyên tạc cho rằng, Việt Nam “lệ thuộc”, “thiếu lập trường” hay “chọn phe”. Thực tiễn triển khai đối ngoại đã khẳng định Việt Nam luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, đồng thời, giữ vững định hướng chính trị và nguyên tắc độc lập, tự chủ. Qua đó, không chỉ củng cố niềm tin của Nhân dân mà còn nâng cao uy tín, vị thế quốc tế, tạo nền tảng vững chắc cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thứ hai, chủ động đấu tranh bảo vệ chủ quyền tư tưởng trên các diễn đàn đa phương.

Một trong những nội dung trọng tâm mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để công kích Việt Nam là vấn đề dân chủ, nhân quyền và tôn giáo. Trên các diễn đàn như Liên Hợp quốc, Việt Nam không né tránh mà lựa chọn cách tiếp cận chủ động: tham gia đối thoại, cung cấp thông tin minh bạch, phản bác các báo cáo thiếu khách quan, đồng thời khẳng định thành tựu thực tiễn trong bảo đảm quyền con người. Thông qua đó, Việt Nam từng bước làm rõ bản chất ưu việt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, gắn quyền con người với điều kiện lịch sử – văn hóa và trình độ phát triển của đất nước.

Minh chứng tiêu biểu cho hiệu quả của đường lối này là việc Việt Nam được Đại hội đồng Liên Hợp quốc bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 – 2025. Tại cuộc bỏ phiếu ngày 11/10/2022 ở New York (Hoa Kỳ), Việt Nam nhận được 145/189 phiếu, đạt gần 80%, thuộc nhóm ứng viên có số phiếu cao nhất. Kết quả này diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh giữa các ứng viên diễn ra gay gắt. Với thông điệp “Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và Hợp tác. Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”, Việt Nam với cương vị là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc sẽ đóng góp trực tiếp vào công tác bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong nhiệm kỳ 3 năm tới. Thông qua đối thoại và hợp tác, Việt Nam sẽ thúc đẩy các ưu tiên đã được xác định khi tham gia Hội đồng Nhân quyền, nhất là bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương và bảo đảm quyền con người trong ứng phó các vấn đề toàn cầu (Thanh Tâm, 11/10/2022). Đây không chỉ là sự kiện đối ngoại quan trọng mà còn là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Ngoài ra, kết quả trúng cử cũng cho thấy, cộng đồng quốc tế đánh giá cao sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam trong các cơ chế nhân quyền toàn cầu, đồng thời, tin tưởng vào vai trò đóng góp của Việt Nam trong việc thúc đẩy đối thoại, hợp tác và tôn trọng luật pháp quốc tế trong lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, Việt Nam còn duy trì và thúc đẩy các cơ chế đối thoại nhân quyền song phương với nhiều đối tác lớn như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU). Thông qua các kênh này, Việt Nam không chỉ giải thích rõ hơn về chính sách, pháp luật của mình mà còn trực tiếp phản bác những thông tin sai lệch, góp phần tạo sự hiểu biết khách quan và cân bằng hơn từ phía đối tác. Đây chính là hình thức “đấu tranh mềm” nhưng hiệu quả trong bảo vệ chủ quyền tư tưởng trong điều kiện hội nhập.

Như vậy, thực tiễn cho thấy, việc chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các diễn đàn đa phương không chỉ giúp Việt Nam nâng cao vị thế quốc tế mà còn là công cụ quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường quốc tế. Điều này cũng phù hợp với định hướng được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: “Đẩy mạnh, nâng cao tầm đối ngoại đa phương, đề cao, bảo vệ và phát huy vai trò của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc; vai trò thành viên chủ động, tích cực, quan trọng và có trách nhiệm tại các cơ chế đa phương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.120).

Thứ ba, phát huy thành tựu kinh tế đối ngoại trong bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Thành tựu kinh tế đối ngoại là cơ sở thực tiễn khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ. Việt Nam vừa chủ động hội nhập sâu rộng, mở rộng quan hệ với các trung tâm kinh tế, chính trị lớn, vừa giữ vững độc lập, chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 40 năm đổi mới, đất nước từ chỗ bị bao vây, cô lập, Việt Nam hiện nay đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước, quan hệ đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với 37 nước, gồm 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an – Liên Hợp quốc, toàn bộ các nước G7 và 17/20 nước thuộc nhóm G20. Từ chỗ chỉ có quan hệ ngoại thương khiêm tốn, đến nay, Việt Nam đã nằm trong nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới (Hoài Nam & Việt Đức, 23/4/2025). 

Việc đồng thời thiết lập và duy trì quan hệ ở mức cao nhất với cả 5 cường quốc – vốn có sự khác biệt sâu sắc về thể chế chính trị và lợi ích chiến lược cho thấy, bản lĩnh đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam. Thành tựu này góp phần củng cố môi trường quốc tế thuận lợi, nâng cao vị thế quốc gia và tạo điều kiện để phát triển kinh tế – xã hội. Quan trọng hơn, thực tiễn này là minh chứng sinh động bác bỏ các quan điểm sai trái cho rằng “hội nhập là từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa” hay “hội nhập là lệ thuộc vào các nước tư bản”. Ngược lại, Việt Nam đã chứng minh rằng hoàn toàn có thể vừa mở rộng hợp tác với các cường quốc hàng đầu thế giới, vừa giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa.

Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, trong đó khẳng định hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đồng bộ, toàn diện, sâu rộng và hiệu quả nhằm phát huy tiềm năng, thế và lực mới của đất nước, tạo động lực quan trọng để phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa; bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc là trên hết và trước hết, đồng thời tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế” hay “Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, liên minh của bên này chống bên kia; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, giữ vững thế chủ động, linh hoạt về sách lược và trong xử lý các vấn đề nảy sinh” (Nghị quyết số 59-NQ/TW). Chính sự kết hợp hài hòa giữa “hội nhập sâu rộng” và “giữ vững bản lĩnh chính trị” đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam không chỉ phát triển kinh tế mà còn củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Thứ tư, chủ động ngăn chặn thông tin xuyên tạc trên không gian mạng.

Sự phát triển của không gian mạng tạo điều kiện cho các thông tin xuyên tạc, sai lệch và nội dung chống phá được phát tán xuyên biên giới. Trước thực tế đó, Việt Nam tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý thông tin số, phối hợp với các nền tảng xuyên biên giới, như: Facebook, YouTube và TikTok để phát hiện, ngăn chặn và gỡ bỏ nội dung vi phạm pháp luật. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong quý I/2026, về xử lý thông tin xấu độc, Facebook đã chặn gỡ 1.568 nội dung, trong đó khóa 38 trang (tỷ lệ 96%); YouTube đã gỡ 459 nội dung, trong đó có 20 kênh vi phạm (tỷ lệ 92%); TikTok đã chặn, gỡ bỏ 565 nội dung, trong đó có 346 tài khoản, 10 audio (đăng tải 84.194 video) (tỷ lệ 97%); Thread đã chặn gỡ 7 bài viết (Diệp Anh, 15/4/2026). Không chỉ dừng lại ở việc xử lý kỹ thuật, Việt Nam còn chủ động tham gia các diễn đàn quốc tế về an ninh mạng, thúc đẩy xây dựng các chuẩn mực ứng xử có trách nhiệm trên không gian số. Qua đó, vừa tranh thủ được sự hợp tác của các đối tác quốc tế, vừa nâng cao năng lực tự bảo vệ trước các nguy cơ về “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa.

Những kết quả này cho thấy, Việt Nam không bị động trước các luồng thông tin độc hại mà đã chủ động xây dựng “lá chắn mềm” trên không gian mạng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện hội nhập quốc tế. Đây cũng là minh chứng sinh động cho hiệu quả của việc kết hợp giữa sức mạnh nội lực với hợp tác quốc tế trong quản lý và bảo vệ chủ quyền không gian mạng.

5. Một số giải pháp

Một là, nâng cao năng lực vận dụng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trong xử lý các vấn đề quốc tế.

Độc lập, tự chủ phải được thể hiện không chỉ ở quan điểm mà còn ở năng lực phân tích, lựa chọn và thực thi chính sách. Trong xử lý các vấn đề quốc tế, cần xác định rõ lợi ích quốc gia – dân tộc và các nguyên tắc cơ bản làm cơ sở; đồng thời linh hoạt về phương thức, thời điểm và mức độ phản ứng trước từng tình huống. Chủ thể thực hiện là các cơ quan tham mưu đối ngoại của Đảng, Nhà nước, lực lượng làm công tác tư tưởng, thông tin đối ngoại và đội ngũ cán bộ trực tiếp hoạt động trên các diễn đàn quốc tế. Yêu cầu đặt ra là xây dựng cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và thống nhất thông điệp, tránh bị động trước các vấn đề nhạy cảm. Qua đó, bản sắc “Ngoại giao cây tre” được cụ thể hóa thành năng lực ứng xử đối ngoại có nguyên tắc, linh hoạt và hiệu quả, góp phần bác bỏ các luận điệu cho rằng Việt Nam thiếu lập trường hoặc lệ thuộc vào nước lớn.

Hai là, chủ động cung cấp thông tin và đấu tranh trên không gian mạng, các diễn đàn đa phương.

Thực tiễn cho thấy, thông tin sai lệch về Việt Nam thường được phát tán nhanh trên không gian mạng và gắn với các vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và chủ quyền. Do đó, cần chuyển từ phương thức chủ yếu phản ứng sang chủ động cung cấp thông tin, định hướng dư luận và tạo lập nguồn thông tin có độ tin cậy cao. Bộ Ngoại giao, các cơ quan thông tin đối ngoại, cơ quan báo chí, cơ quan quản lý không gian mạng và các cơ quan nghiên cứu cần xây dựng cơ chế phối hợp theo dõi, phát hiện sớm và xử lý các vấn đề có nguy cơ phát sinh thông tin xuyên tạc. Đồng thời, tăng cường đội ngũ chuyên gia pháp lý, truyền thông quốc tế, ngoại giao số và ngoại ngữ; đầu tư hạ tầng dữ liệu, công nghệ phân tích thông tin và các nền tảng truyền thông đối ngoại. Trọng tâm không chỉ là phản bác thông tin sai lệch mà còn cung cấp bằng chứng, dữ liệu và lập luận có sức thuyết phục, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ hình ảnh và lợi ích quốc gia.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các chủ thể đối ngoại.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng trong lĩnh vực đối ngoại không thể chỉ là nhiệm vụ của cơ quan chuyên trách mà cần có sự tham gia đồng bộ của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, thông tin đối ngoại, cơ quan nghiên cứu và đội ngũ trí thức. Cần xác định rõ chức năng, trách nhiệm của từng chủ thể, đồng thời, thiết lập cơ chế phối hợp thống nhất về thông tin, nghiên cứu và xử lý các vấn đề phát sinh. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên lý luận chính trị và người Việt Nam ở nước ngoài trong nghiên cứu, giải thích và truyền tải quan điểm, chính sách của Việt Nam bằng ngôn ngữ khoa học, phù hợp với từng nhóm đối tượng quốc tế. Nguồn lực thực hiện bao gồm đội ngũ nhân lực chất lượng cao, kinh phí nghiên cứu, dữ liệu chuyên ngành và mạng lưới hợp tác quốc tế. Đây là điều kiện để chuyển từ truyền thông một chiều sang đối thoại, thuyết phục và tạo dựng đồng thuận.

Bốn là, nâng cao năng lực nghiên cứu và dự báo chiến lược.

Các biến động địa chính trị, cạnh tranh giữa các nước lớn và những vấn đề an ninh phi truyền thống có thể nhanh chóng chuyển hóa thành các vấn đề tư tưởng, thông tin và dư luận. Vì vậy, cần tăng cường nghiên cứu liên ngành giữa quan hệ quốc tế, lịch sử Đảng, chính trị học, truyền thông, luật pháp quốc tế và an ninh mạng; xây dựng hệ thống theo dõi, phân tích và cảnh báo sớm các vấn đề có khả năng bị lợi dụng để xuyên tạc Việt Nam. Các cơ quan nghiên cứu chiến lược và cơ quan tham mưu chính sách cần thường xuyên cung cấp các kịch bản, phương án ứng phó và khuyến nghị chính sách cho lãnh đạo. Nguồn lực quan trọng là đội ngũ chuyên gia có năng lực phân tích dữ liệu, ngoại ngữ, công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn. Nâng cao năng lực dự báo sẽ giúp chuyển từ xử lý bị động sang phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Năm, gắn bảo vệ nền tảng tư tưởng với củng cố thực lực quốc gia.

Hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ phụ thuộc vào khả năng phản bác các quan điểm sai trái mà trước hết được củng cố bằng những thành tựu thực tiễn của đất nước. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy thành tựu kinh tế đối ngoại, nâng cao vị thế quốc tế, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân, đồng thời nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại. Các cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan truyền thông cần chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về những kết quả phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện chính sách đối ngoại. Đồng thời, tăng cường giáo dục năng lực nhận diện thông tin sai lệch, kỹ năng sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Thực lực quốc gia, niềm tin xã hội và uy tín quốc tế được củng cố sẽ tạo nền tảng bền vững để hạn chế tác động của các luận điệu xuyên tạc.

6. Kết luận

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam không chỉ là định hướng chiến lược nhằm phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, mà còn là một nội hàm quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Thực tiễn cho thấy, khi giữ vững quyền tự quyết trong quan hệ quốc tế, Việt Nam không những bảo vệ được lợi ích quốc gia – dân tộc mà còn khẳng định tính đúng đắn, khoa học và bền vững của con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống và chiến tranh thông tin ngày càng gia tăng, việc tiếp tục kiên định đường lối này, đồng thời không ngừng đổi mới phương thức triển khai, sẽ là yếu tố then chốt giúp Việt Nam củng cố “sức đề kháng” về tư tưởng, nâng cao vị thế quốc tế và giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Qua đó, góp phần khẳng định sức sống bền bỉ của hệ tư tưởng mà Đảng và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn trong suốt tiến trình lịch sử.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
BNG. (28/02/2026). Việt Nam quan ngại sâu sắc về xung đột leo thang phức tạp tại Trung Đông. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/viet-nam-quan-ngai-sau-sac-ve-xung-dot-leo-thang-phuc-tap-tai-trung-dong-102260228212150417.htm
Bộ Quốc phòng (2019). Quốc phòng Việt Nam 2019. Nxb Chính trị quốc gia, tr. 25.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 80, 85, 117, 120.
Hoài Nam & Việt Đức (23/4/2025). Chủ tịch nước: Vai trò kiến tạo hòa bình của ngoại giao Việt Nam được thể hiện xuyên suốt. Vietnamplus. https://www.vietnamplus.vn/chu-tich-nuoc-vai-tro-kien-tao-hoa-binh-cua-ngoai-giao-viet-nam-duoc-the-hien-xuyen-suot-post1034491.vnp
Human Rights Watch (2023). World Report 2023: Vietnam. https://www.hrw.org/world-report/2023/country-chapters/vietnam
Nghĩa Nhân (02/3/2022). Toàn văn quan điểm của Việt Nam về Ukraine tại Liên Hợp quốc. Báo Pháp luật. https://plo.vn/toan-van-quan-diem-cua-viet-nam-ve-ukraine-tai-lien-hop-quoc-post669948.html
Nguyễn Phú Trọng (12/2021). Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc. Tạp chí Cộng sản, số 980, tr. 18.
Thanh Tâm (11/10/2022). Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền LHQ. VNExpress. https://vnexpress.net/viet-nam-trung-cu-hoi-dong-nhan-quyen-lhq-4522227.html