Enhancing the role of the press in shaping and disseminating national soft power
ThS. Đoàn Kim Huy
Trường Đại học Phương Đông
Email: huy.dk@phuongdong.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Ngày nay, khi cạnh tranh sức mạnh giữa các quốc gia ngày có xu hướng chuyển sang cạnh tranh về hình ảnh, giá trị, niềm tin và khả năng lan tỏa ảnh hưởng, sức mạnh mềm trở thành một nguồn lực chiến lược. Đối với Việt Nam, các giá trị văn hóa, lịch sử, con người, thành tựu đổi mới, ổn định chính trị, đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển là những nguồn lực quan trọng để kiến tạo sức mạnh mềm quốc gia. Tuy nhiên, các nguồn lực đó chỉ có thể trở thành sức hấp dẫn và ảnh hưởng xã hội khi được nhận diện, diễn giải, truyền thông và lan tỏa một cách hiệu quả. Trong tiến trình này, báo chí giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là kênh thông tin chính thống, thiết chế định hướng nhận thức, công cụ truyền thông đối ngoại và phương tiện để xây dựng niềm tin xã hội. Bài viết tập trung làm rõ vai trò của báo chí trong việc kiến tạo, lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia; đánh giá thực tiễn truyền thông lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia của hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam hiện đại, nhân văn, giàu bản sắc và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế thông qua vai trò của báo chí.
Từ khóa: Sức mạnh mềm; báo chí cách mạng; vị thế quốc gia; nguồn lực mềm; truyền thông đối ngoại.
Abstract: Today, as power competition among nations increasingly tends to shift toward competition over image, values, trust, and the ability to exert influence, soft power has become a strategic resource. For Vietnam, cultural, historical, and human values, the achievements of Đổi mới, political stability, and an independent foreign policy oriented toward peace, cooperation, and development constitute important resources for shaping national soft power. However, these resources can only be transformed into attractiveness and social influence when they are effectively identified, interpreted, communicated, and disseminated. In this process, the press plays a particularly important role as an official information channel, an institution for shaping public awareness, an instrument of external communication, and a means of building social trust. This article focuses on clarifying the role of the press in shaping and disseminating national soft power, while assessing current practices in communicating and promoting national soft power by Vietnam’s revolutionary press system. On that basis, it proposes several solutions to help promote the image of Vietnam as a modern, humane, culturally distinctive, and responsible member of the international community through the role of the press.
Keywords: Soft power; revolutionary press; national standing; soft-power resources; external communication.
1. Sức mạnh mềm quốc gia và vai trò của báo chí trong việc kiến tạo và lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia
1.1. Sức mạnh mềm quốc gia
“Sức mạnh mềm” là khái niệm thuộc lĩnh vực quan hệ quốc tế hiện đại, được Giáo sư Joseph S. Nye (Trường Quản lý nhà nước John F. Kennedy, thuộc Đại học Harvard – Mỹ), đưa ra vào những năm 90 của thế kỷ XX. Theo Joseph S. Nye, “sức mạnh mềm” của một quốc gia là khả năng tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút để các nước khác “tự nguyện” thay đổi hành vi, chính sách phù hợp với điều mà mình muốn, thay vì cưỡng bức thông qua sức mạnh kinh tế và quân sự (Nguyễn Hoa, 2020). Nếu “sức mạnh cứng” tác động bằng mệnh lệnh, áp lực hoặc trao đổi lợi ích trực tiếp, thì sức mạnh mềm vận hành thông qua sự hấp dẫn của văn hóa, giá trị chính trị, chính sách đối ngoại, uy tín quốc gia và năng lực tạo lập niềm tin. Điểm cốt lõi của “sức mạnh mềm” không nằm ở việc một quốc gia tự khẳng định mình có giá trị, mà ở chỗ các giá trị đó được các chủ thể khác tiếp nhận, thừa nhận và xem như có sức hấp dẫn. Vì vậy, xét về bản chất, sức mạnh mềm là năng lực chuyển hóa nguồn lực tinh thần, văn hóa, chính trị và phát triển thành ảnh hưởng xã hội một cách tự nguyện và bền vững.
Từ cách tiếp cận theo quan điểm này, có thể hiểu sức mạnh mềm quốc gia là khả năng của một quốc gia trong việc tạo dựng sức hấp dẫn, thiện cảm, niềm tin và sự công nhận đối với công chúng trong nước, cộng đồng quốc tế, nhà đầu tư, du khách, học giả, truyền thông quốc tế và các đối tác phát triển… Sức mạnh mềm không tách rời sức mạnh tổng hợp của quốc gia, mà là một bộ phận đặc biệt của sức mạnh tổng hợp ấy, bởi nó làm cho quyền lực quốc gia được tiếp nhận bằng sự tin tưởng và tự nguyện hơn là bằng sự áp đặt.
Khi đề cập đến “sức mạnh mềm” quốc gia, cũng cần phân biệt với “nguồn lực mềm” của quốc gia. Nguồn lực mềm là những giá trị, tiềm năng, tài sản văn hóa, chính trị, xã hội và sự phát triển mà một quốc gia đang có. Trong khi đó, sức mạnh mềm là kết quả của quá trình chuyển hóa những nguồn lực đó thành sức hấp dẫn, niềm tin và ảnh hưởng thực tế trong nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng. Một di sản văn hóa, một thành tựu phát triển, một chính sách đối ngoại đúng đắn hay một hình ảnh đẹp về con người Việt Nam không tự động trở thành sức mạnh mềm nếu không được nhận diện, diễn giải, truyền thông và lan tỏa hiệu quả. Chính vì vậy, trong kỷ nguyên truyền thông số hiện nay, sức mạnh mềm không chỉ phụ thuộc vào việc quốc gia có những giá trị gì, mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc quốc gia đó kể câu chuyện của mình như thế nào, bằng ngôn ngữ nào, trên nền tảng nào và hướng tới nhóm công chúng nào.
Năm 2026, Việt Nam được đánh giá xếp hạng thứ 52/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, thứ 9 ở châu Á về chỉ số Sức mạnh mềm toàn cầu (Brand Finance, 2026). Chỉ số này được xây dựng dựa trên khảo sát nhận thức quốc tế và đánh giá sức mạnh mềm qua các tiêu chí như: ảnh hưởng, danh tiếng, văn hóa, quan hệ quốc tế, kinh doanh, giáo dục, truyền thông và tương lai bền vững.
1.2. Vai trò của báo chí trong việc kiến tạo và lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia
Xét ở góc độ lý luận, báo chí không chỉ đơn thuần là phương tiện truyền tải thông tin, mà còn là một thiết chế xã hội có khả năng định hướng nhận thức, tạo lập niềm tin và kết nối các giá trị quốc gia với đời sống xã hội. Với tư cách là thiết chế thông tin chính thống, báo chí có nhiệm vụ truyền tải thông tin, sự kiện, định hướng nhận thức xã hội, giải thích chính sách, phản ánh đời sống, phát hiện nhân tố tích cực, đấu tranh với biểu hiện tiêu cực và tạo lập diễn đàn đối thoại cho công chúng. Báo chí vì vậy không chỉ “phản ánh” sức mạnh mềm đã có, mà còn tham gia “kiến tạo” sức mạnh mềm thông qua vai trò là cầu nối giữa nguồn lực mềm của quốc gia với nhận thức của công chúng, giữa chính sách của Nhà nước với sự đồng thuận xã hội, giữa hình ảnh quốc gia trong nước với hình ảnh của quốc gia trong mắt bạn bè quốc tế.
Vai trò kiến tạo sức mạnh mềm của báo chí trước hết thể hiện ở việc báo chí vừa phản ánh hình ảnh quốc gia, vừa đồng thời góp phần kiến tạo nên cách xã hội và thế giới nhìn nhận về quốc gia đó. Trên thực tế, công chúng thường nhìn nhận về hình ảnh quốc gia chủ yếu qua những câu chuyện, hình ảnh, biểu tượng và thông điệp do báo chí, truyền thông truyền tải. Chẳng hạn, khi báo chí phản ánh thành tựu đổi mới, giá trị văn hóa, hình ảnh con người Việt Nam, môi trường đầu tư, du lịch, giáo dục, đối ngoại, khoa học – công nghệ và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam, báo chí đồng thời tham gia xác lập cách công chúng hiểu về Việt Nam. Nếu cách định hướng thông tin sâu sắc, khách quan, giàu dữ liệu và có sức thuyết phục, báo chí sẽ góp phần hình thành hình ảnh một Việt Nam ổn định, đổi mới, nhân văn, giàu bản sắc, năng động và có trách nhiệm. Ngược lại, nếu chỉ dừng ở thông tin một chiều, nặng tính mô tả, thiếu chiều sâu phân tích, thiếu tính đối thoại và thiếu ngôn ngữ phù hợp với công chúng mục tiêu, thì nguồn lực mềm dù phong phú đến mấy cũng khó chuyển hóa thành ảnh hưởng xã hội thực chất.
Báo chí còn có vai trò đặc biệt trong việc kể câu chuyện quốc gia. Sức mạnh mềm không chỉ được tạo ra bằng việc cung cấp thông tin đúng mà còn bằng khả năng chuyển hóa thông tin đúng thành câu chuyện có ý nghĩa, có cảm xúc và có khả năng lan tỏa. Một câu chuyện quốc gia có sức thuyết phục phải kết nối được quá khứ với hiện tại, truyền thống với hiện đại, bản sắc dân tộc với giá trị phổ quát của nhân loại. Báo chí có ưu thế trong việc chuyển hóa các giá trị văn hóa, lịch sử, con người và thành tựu đổi mới thành những câu chuyện cụ thể, có nhân vật, có bối cảnh, có dữ liệu và có thông điệp. Thông qua các bài viết chính luận, phóng sự, phim tài liệu, longform, podcast, video ngắn, đồ họa dữ liệu và sản phẩm báo chí đa phương tiện, báo chí có thể làm cho hình ảnh quốc gia trở nên gần gũi, sinh động và có sức thuyết phục hơn so với những thông điệp tuyên truyền khô cứng và đơn điệu.
Bên cạnh việc phục vụ công chúng trong nước, báo chí còn là công cụ quan trọng của truyền thông đối ngoại và ngoại giao công chúng. Trong bối cảnh hình ảnh quốc gia được tạo dựng không chỉ qua kênh ngoại giao nhà nước, mà còn qua báo chí, mạng xã hội, nền tảng số, sản phẩm văn hóa, du lịch, giáo dục và tương tác của người dân, báo chí đối ngoại và báo chí đa ngôn ngữ giữ vai trò trực tiếp đưa thông tin chính thống của quốc gia ra thế giới. Báo chí không chỉ đưa tin về đối ngoại, mà còn tham gia vào quá trình ngoại giao công chúng bằng việc tạo dựng thiện cảm, gia tăng hiểu biết, mở rộng đối thoại và củng cố niềm tin của thế giới đối với mỗi quốc gia. Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quyết định 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ) cũng đặt ra yêu cầu xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia và thông điệp thống nhất, hiện đại, chuyên nghiệp, linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn, từng địa bàn và từng nhóm công chúng mục tiêu.
Ngoài ra, báo chí còn góp phần bảo vệ chủ quyền thông tin, phản bác thông tin sai lệch, xuyên tạc, bóp méo hình ảnh đất nước, qua đó bảo vệ nền tảng tư tưởng, uy tín quốc gia và niềm tin xã hội. Đây là nhiệm vụ ngày càng quan trọng bởi sức mạnh mềm không chỉ bị suy giảm khi quốc gia thiếu sức hấp dẫn, mà còn bị tổn hại khi hình ảnh quốc gia bị xuyên tạc, khi niềm tin xã hội bị bào mòn hoặc khi công chúng bị chi phối bởi thông tin giả và các chiến dịch thao túng nhận thức. UNESCO (2026) cũng đã nhấn mạnh, khi báo chí bị biến thành công cụ lan truyền thông tin sai lệch, niềm tin công chúng suy giảm và ranh giới giữa thông tin đáng tin cậy với thông tin giả mạo bị xóa nhòa. Vì vậy, báo chí chuyên nghiệp, có đạo đức và có năng lực kiểm chứng là một thành tố thiết yếu của hệ sinh thái thông tin lành mạnh.
2. Thực tiễn truyền thông lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia của hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam
2.1. Những kết quả tích cực
Những năm qua, hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc truyền thông lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia. Vai trò này không chỉ thể hiện ở việc cung cấp thông tin chính thống mà còn ở khả năng định hướng nhận thức xã hội, lan tỏa giá trị văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, đổi mới phương thức truyền thông và bảo vệ chủ quyền thông tin quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ trên không gian truyền thông toàn cầu. Từ thực tiễn hoạt động của báo chí cách mạng Việt Nam có thể khái quát một số kết quả tích cực cơ bản sau:
Một là, báo chí đã góp phần tuyên truyền, định hướng nhận thức xã hội, củng cố đồng thuận và niềm tin vào đường lối phát triển đất nước. Với tư cách là dòng thông tin chính thống, chủ đạo trong đời sống xã hội, báo chí cách mạng Việt Nam luôn giữ vai trò quan trọng trong việc truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với Nhân dân (Báo Chính phủ, 2025). Thông qua các tuyến tin, bài, chuyên đề, diễn đàn, tọa đàm, phỏng vấn chuyên sâu và các sản phẩm báo chí đa phương tiện, báo chí đã góp phần giải thích những vấn đề lớn của đất nước như: công cuộc “sắp xếp lại giang sơn”, đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển văn hóa, cải cách hành chính, hội nhập quốc tế, bảo vệ chủ quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045… Đặc biệt, báo chí không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt thông tin chính sách, mà còn làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, ý nghĩa và tác động của chính sách đối với đời sống xã hội. Nhờ đó, báo chí góp phần hình thành nhận thức thống nhất, củng cố niềm tin chính trị và tạo sự đồng thuận xã hội. Đây là nền tảng tinh thần đặc biệt quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia.
Hai là, báo chí đã tích cực lan tỏa giá trị văn hóa, lịch sử, di sản và hình ảnh con người Việt Nam như lõi giá trị của sức mạnh mềm quốc gia. Trong cấu trúc sức mạnh mềm của Việt Nam, văn hóa, lịch sử, di sản và con người là những nguồn lực có chiều sâu, có khả năng tạo ra sức hấp dẫn bền vững. Báo chí đã góp phần quan trọng trong việc truyền thông về truyền thống yêu nước, lịch sử dựng nước và giữ nước, bản sắc văn hóa dân tộc, di sản vật thể và phi vật thể, lễ hội, ẩm thực, tiếng Việt, gia đình, làng nghề, các nhân vật truyền cảm hứng, gương người tốt việc tốt, tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng… Điều đáng ghi nhận là nhiều cơ quan báo chí đã từng bước tái diễn giải văn hóa Việt Nam trong ngôn ngữ đương đại, thông qua các hình thức đa dạng, như: phóng sự chuyên sâu, longform, video ngắn, podcast, ảnh báo chí, đồ họa dữ liệu và sản phẩm truyền thông trên nền tảng số. Nhờ đó, các giá trị truyền thống không bị đóng khung trong ký ức lịch sử, mà được làm mới, trở nên gần gũi hơn với giới trẻ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Việt Nam hiện có hơn 40.000 di tích, khoảng gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, trong đó có 34 di sản được UNESCO ghi danh (Hoàng Đạo Cương, 2024). Đây là nguồn chất liệu đặc biệt phong phú để báo chí chuyển hóa thành các câu chuyện quốc gia có sức hấp dẫn, góp phần nâng cao nhận diện văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Ba là, báo chí đã tham gia tích cực vào truyền thông đối ngoại, quảng bá hình ảnh quốc gia và ngoại giao công chúng. Các cơ quan báo chí chủ lực như: Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Chính phủ,… cùng với hệ thống báo chí địa phương đã góp phần giới thiệu một đất nước Việt Nam ổn định về chính trị, năng động về kinh tế, giàu bản sắc văn hóa, thân thiện, an toàn, có khát vọng đổi mới sáng tạo và là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Hoạt động báo chí đối ngoại không chỉ có ý nghĩa quảng bá, mà còn góp phần gia tăng hiểu biết, thiện cảm và niềm tin của công chúng quốc tế đối với Việt Nam. Đặc biệt, việc ra đời và phát triển các nền tảng truyền thông quảng bá hình ảnh quốc gia (như website tích hợp đa ngôn ngữ Vietnam.vn) cũng đã cho thấy xu hướng chuyển từ truyền thông đối ngoại phân tán sang tổ chức thông tin có tính tích hợp, đa ngôn ngữ, đa nền tảng và hướng tới công chúng toàn cầu. Đặc biệt, ngày 27/01/2026, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định yêu cầu xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia và thông điệp thống nhất, hướng tới lan tỏa hình ảnh Việt Nam ổn định, năng động, giàu bản sắc, đổi mới sáng tạo, là điểm đến an toàn, thân thiện và là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Bốn là, báo chí đã từng bước chuyển đổi số, đổi mới phương thức sản xuất, phân phối và tương tác với công chúng, qua đó mở rộng khả năng lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia. Sự phát triển của báo chí số, tòa soạn hội tụ, báo chí dữ liệu, longform, mega story, video ngắn, podcast, infographic, sản phẩm đa phương tiện và các kênh phân phối trên mạng xã hội đã tạo điều kiện để báo chí tiếp cận công chúng nhanh hơn, rộng hơn và phù hợp hơn với thói quen tiếp nhận thông tin mới. Chuyển đổi số báo chí không chỉ là đổi mới công nghệ làm báo, mà còn là chuyển đổi tư duy truyền thông: từ cung cấp thông tin một chiều sang tương tác với công chúng; từ phản ánh sự kiện rời rạc sang phân tích chính sách, kể chuyện dữ liệu và tạo trải nghiệm truyền thông có chiều sâu. Điều này đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo sức mạnh mềm, bởi hình ảnh quốc gia muốn lan tỏa hiệu quả phải hiện diện trên các nền tảng nơi công chúng đang tiếp nhận thông tin, nhất là công chúng trẻ, công chúng quốc tế và cộng đồng số xuyên biên giới. Kết quả đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí năm 2025 do Cục Báo chí, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố cho thấy, có 33 đơn vị đạt mức xuất sắc, 57 đơn vị đạt mức tốt, 31 đơn vị đạt mức khá, 09 đơn vị trung bình (Cục Báo chí, 2025). Kết quả này phản ánh nỗ lực chuyển đổi số đáng ghi nhận của nhiều cơ quan báo chí, đồng thời cho thấy, chuyển đổi số đang trở thành điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực lan tỏa thông tin chính thống và sức mạnh mềm quốc gia.
Cùng với quá trình chuyển đổi số ở cấp độ tổ chức, chất lượng sản phẩm báo chí cũng có bước đổi mới đáng kể. Nhiều tác phẩm báo chí hiện nay đã chú trọng hơn tới dữ liệu, chiều sâu phân tích, tính nhân văn và khả năng kể chuyện bằng công nghệ. Tại Giải Báo chí Quốc gia lần thứ XX – năm 2025, Hội đồng chung khảo ghi nhận sự xuất hiện của nhiều tác phẩm đa phương tiện sử dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, báo chí dữ liệu và báo chí giải pháp. Nhiều tác phẩm được đầu tư quy mô lớn, có cách thể hiện hiện đại, phản ánh nỗ lực của báo chí Việt Nam trong tiếp cận dòng chảy công nghệ toàn cầu. Đây là tín hiệu tích cực minh chứng cho việc báo chí Việt Nam đang từng bước chuyển từ mô hình truyền thông truyền thống sang mô hình truyền thông hiện đại, có khả năng tạo ra sản phẩm hấp dẫn, giàu hàm lượng thông tin và phù hợp hơn với yêu cầu lan tỏa hình ảnh quốc gia trong kỷ nguyên số (Toàn Thắng, 2026).
Năm là, báo chí đã góp phần tích cực đấu tranh phản bác thông tin sai lệch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ quyền thông tin và uy tín quốc gia. Thực tiễn cho thấy, báo chí chính thống đã giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm chứng thông tin, giải thích những vấn đề phức tạp, cung cấp thông tin đối trọng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời định hướng dư luận trước các vấn đề nhạy cảm, mới phát sinh. Đây là phương diện có ý nghĩa đặc biệt đối với sức mạnh mềm, bởi một quốc gia chỉ có thể tạo dựng sức hấp dẫn và uy tín khi không gian thông tin về quốc gia đó được bảo vệ bằng sự thật, trách nhiệm và chuẩn mực nghề nghiệp. Chỉ tính riêng quý I/2026, với sự phối hợp của các cơ quan chức năng, các nền tảng mạng xã hội đã chặn gỡ hàng nghìn nội dung thông tin xấu độc; trong đó Facebook chặn gỡ 1.568 nội dung, YouTube gỡ 459 nội dung, TikTok chặn gỡ 565 nội dung và Threads chặn gỡ 7 bài viết (Diệp Anh, 2026). Số liệu này cho thấy, môi trường thông tin số đang đặt ra nhiều thách thức, đồng thời khẳng định vai trò không thể thay thế của báo chí chính thống trong bảo vệ niềm tin xã hội, chủ quyền thông tin và uy tín quốc gia.
2.2. Một số hạn chế
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thực tiễn phát huy vai trò của hệ thống báo chí Việt Nam trong việc lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Những hạn chế này không phủ nhận vai trò quan trọng của báo chí trong đời sống chính trị – xã hội nhưng phản ánh quá trình chuyển hóa nguồn lực mềm của đất nước thành sức hấp dẫn, niềm tin và ảnh hưởng quốc gia vẫn chưa thật sự tương xứng với tiềm năng văn hóa, lịch sử, con người, thành tựu phát triển và vị thế quốc tế của Việt Nam, cụ thể:
Thứ nhất, tư duy truyền thông sức mạnh mềm quốc gia còn chưa thật sự thống nhất, thiếu một “câu chuyện quốc gia” có tính chiến lược, dài hạn và nhất quán. Thời gian qua, nhiều cơ quan báo chí đã tích cực quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa, thành tựu đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, cách triển khai trong không ít trường hợp vẫn còn phân tán theo sự kiện, theo chiến dịch, theo ngành, địa phương hoặc theo từng thời điểm cụ thể. Điều này làm cho các chất liệu truyền thông về Việt Nam dù phong phú nhưng chưa được tổ chức thành một hệ thống thông điệp thống nhất, có khả năng nhận diện cao và lặp lại sáng tạo trên nhiều nền tảng. Trong khi đó, sức mạnh mềm ngoài đòi hỏi báo chí đưa tin về thành tựu, sự kiện, di sản hoặc hình ảnh đẹp, còn yêu cầu khả năng kết nối các chất liệu đó thành câu chuyện quốc gia có chiều sâu, có bản sắc, có tính thuyết phục và phù hợp với từng nhóm công chúng. Hạn chế trên dẫn đến hệ quả là cùng một nguồn lực mềm nhưng chưa tạo được hiệu ứng cộng hưởng đủ mạnh. Chẳng hạn, văn hóa, du lịch, ẩm thực, di sản, đổi mới sáng tạo, chính sách đối ngoại hòa bình, môi trường đầu tư và hình ảnh con người Việt Nam đều là những chất liệu quan trọng để xây dựng sức mạnh mềm nhưng đôi khi mỗi lĩnh vực lại đang truyền thông theo một cách riêng, thiếu liên kết với thông điệp quốc gia chung, dẫn đến hình ảnh Việt Nam trong nhận thức công chúng quốc tế dễ bị phân mảnh. Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là Việt Nam có nhiều giá trị để giới thiệu mà cần phải biết lựa chọn và truyền tải các giá trị đó một cách nhất quán, hấp dẫn để tạo dấu ấn lâu dài. Đây là điểm nghẽn cần được nhận diện rõ để báo chí chuyển từ cách truyền thông theo sự kiện sang truyền thông theo chiến lược, từ đưa tin rời rạc sang kiến tạo câu chuyện quốc gia.
Thứ hai, chất lượng nội dung truyền thông về sức mạnh mềm có lúc, có nơi còn nặng tính mô tả, tuyên truyền, thiếu chiều sâu phân tích, thiếu dữ liệu, nhân vật và khả năng đối thoại với công chúng mục tiêu. Trong thực tế, một số sản phẩm báo chí về văn hóa, du lịch, thành tựu phát triển, đối ngoại hoặc chính sách công vẫn thiên về giới thiệu, phản ánh sự kiện, tường thuật hoạt động, nhấn mạnh thành tích mà chưa chú trọng đúng mức tới việc giải thích bối cảnh, phân tích giá trị, làm rõ tác động và kết nối với mối quan tâm của công chúng. Cách tiếp cận này có thể đáp ứng yêu cầu thông tin cơ bản, nhưng chưa đủ để tạo sức hấp dẫn mềm, bởi công chúng hiện nay, nhất là công chúng trẻ và công chúng quốc tế, không chỉ muốn biết “Việt Nam có gì”, mà còn muốn hiểu “vì sao Việt Nam đáng chú ý”, “giá trị Việt Nam có ý nghĩa gì” và “Việt Nam có thể đóng góp gì cho thế giới”. Đối với truyền thông về sức mạnh mềm, đây là khoảng cách đáng lưu ý, bởi sức hấp dẫn quốc gia không thể được tạo ra bằng lối diễn đạt khô cứng, thiếu cảm xúc, thiếu trải nghiệm và thiếu ngôn ngữ phù hợp với người tiếp nhận. Nếu không khắc phục hạn chế này, báo chí khó phát huy đầy đủ vai trò là thiết chế chuyển hóa nguồn lực mềm thành niềm tin, thiện cảm và sự thừa nhận của xã hội.
Thứ ba, năng lực truyền thông đối ngoại, báo chí đa ngôn ngữ và tiếp cận công chúng quốc tế còn chưa tương xứng với tiềm năng sức mạnh mềm của Việt Nam. Trong những năm gần đây, báo chí đối ngoại của Việt Nam đã có bước phát triển, nhất là thông qua các cơ quan báo chí chủ lực, các kênh đa ngôn ngữ và các nền tảng quảng bá hình ảnh quốc gia. Tuy nhiên, xét trên yêu cầu cạnh tranh ảnh hưởng trong môi trường truyền thông toàn cầu, năng lực truyền thông đối ngoại vẫn còn những hạn chế về ngôn ngữ, cách viết và thiết kế nội dung theo từng từng nền tảng, từng nhóm đối tượng mục tiêu. Hay nói cách khác, một số nội dung về Việt Nam vẫn có xu hướng “nói điều ta muốn nói” nhiều hơn là “nói điều công chúng mục tiêu muốn nghe và cần hiểu”. Do đó, khả năng tạo thiện cảm, thay đổi nhận thức và thúc đẩy hành động cụ thể như: du lịch, đầu tư, hợp tác giáo dục, giao lưu văn hóa chưa thật sự rõ nét. Trên thực tế, cần phải nhìn nhận rõ việc dịch tin tiếng Việt sang tiếng nước ngoài chưa phải là truyền thông đối ngoại hiệu quả. Bởi công chúng quốc tế thường tiếp nhận thông tin bằng hệ quy chiếu riêng, quan tâm tới những vấn đề cụ thể như môi trường đầu tư, trải nghiệm du lịch, chất lượng sống, giáo dục, đổi mới sáng tạo, trách nhiệm quốc tế, văn hóa bản địa và độ tin cậy của nguồn tin. Do đó, báo chí và truyền thông đối ngoại cần biết viết lại câu chuyện Việt Nam bằng logic, ngôn ngữ và mối quan tâm của công chúng quốc tế, thay vì chỉ đơn thuần chuyển ngữ các thông tin vốn được viết cho công chúng trong nước.
Thứ tư, chuyển đổi số báo chí còn chưa đồng đều, năng lực công nghệ, dữ liệu, phân phối nội dung và tương tác công chúng giữa các cơ quan báo chí còn có sự chênh lệch. Một bộ phận cơ quan báo chí hiện vẫn còn gặp khó khăn về hạ tầng công nghệ, nhân lực số, quản trị dữ liệu độc giả, bảo vệ bản quyền, phát triển mô hình kinh tế báo chí số và khả năng phân phối nội dung trên các nền tảng xuyên biên giới. Kết quả đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí năm 2025 do Cục Báo chí, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố cho thấy, bên cạnh các đơn vị đạt mức xuất sắc, tốt, vẫn còn 09 đơn vị ở mức trung bình và 47 đơn vị ở mức yếu (Cục Báo chí, 2025). Trong khi, bức tranh tiêu thụ tin tức toàn cầu hiện đang thay đổi rất mạnh dưới tác động của các nền tảng số, video, người sáng tạo nội dung và AI. Công chúng không chỉ tiếp nhận tin tức qua báo in, phát thanh, truyền hình hoặc báo điện tử truyền thống mà còn qua mạng xã hội, video ngắn, podcast, nền tảng tìm kiếm, ứng dụng di động và các công cụ AI (Jim Egan & cộng sự, 2026). Trong bối cảnh đó, nếu báo chí chính thống không đủ năng lực công nghệ, dữ liệu và phân phối nội dung, thông tin chính thống về Việt Nam rất dễ bị lấn át bởi các nguồn tin phi chính thống, nội dung “giật gân” hoặc thông tin thiếu sự kiểm chứng.
Thứ năm, cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu dùng chung và đo lường hiệu quả truyền thông về sức mạnh mềm qua báo chí còn chưa rõ ràng, chưa tạo được hệ sinh thái truyền thông đồng bộ và tổng lực. Sức mạnh mềm là kết quả tổng hợp của nhiều lĩnh vực và nhiều chủ thể, bao gồm: báo chí, ngoại giao, văn hóa, du lịch, giáo dục, khoa học – công nghệ, doanh nghiệp, địa phương, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các chủ thể xã hội khác. Tuy nhiên, trong thực tiễn, hoạt động truyền thông nhiều khi vẫn được triển khai theo ngành, lĩnh vực, địa phương hoặc các chiến dịch riêng lẻ. Cơ chế chia sẻ dữ liệu, kho tư liệu hình ảnh quốc gia, bộ thông điệp, bộ nhận diện, danh mục nhân vật, câu chuyện tiêu biểu, dữ liệu công chúng mục tiêu và lịch truyền thông phối hợp giữa báo chí với các ngành liên quan vẫn chưa thật sự hoàn thiện. Điều này làm giảm khả năng tạo hiệu ứng cộng hưởng, trong khi truyền thông sức mạnh mềm đòi hỏi tính thống nhất về thông điệp, tính linh hoạt về cách thể hiện và tính liên tục về thời gian.
Bên cạnh đó, việc đo lường hiệu quả truyền thông sức mạnh mềm qua báo chí còn là khâu yếu. Hiệu quả hoạt động báo chí lâu nay thường được đánh giá qua số lượng tin, bài, lượt xem, lượt chia sẻ, mức độ hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền hoặc giải thưởng báo chí. Các chỉ số này là cần thiết nhưng chưa đủ để đánh giá tác động của báo chí đối với sức mạnh mềm quốc gia. Truyền thông sức mạnh mềm cần được đo lường sâu hơn qua: mức độ tiếp cận công chúng mục tiêu, sắc thái cảm xúc, mức độ nhận diện thông điệp, sự thay đổi nhận thức, niềm tin, thiện cảm và tác động gián tiếp tới du lịch, đầu tư, hợp tác giáo dục, giao lưu văn hóa hoặc uy tín quốc tế. Nếu thiếu hệ thống đo lường cần và đủ, hoạt động báo chí dễ dừng lại ở trạng thái “làm nhiều” thay vì “làm đúng, làm trúng” và tạo ảnh hưởng thực chất.
3. Một số giải pháp
Trước bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt, ở trong nước, yêu cầu phát huy sức mạnh mềm cũng đang được đặt ra cấp thiết khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, gắn với khát vọng vươn mình của dân tộc và thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Để đạt các mục tiêu đó đòi hỏi phải phát huy đồng bộ sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó sức mạnh mềm cần được coi là điều kiện quan trọng để nâng cao vị thế, củng cố niềm tin, mở rộng hợp tác quốc tế và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển. Trước bối cảnh đó, báo chí giữ vị trí đặc biệt trong việc kiến tạo và lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia, bởi đây là kênh thông tin chính thống, có khả năng diễn giải giá trị Việt Nam, định hướng nhận thức xã hội và kết nối công chúng trong nước với công chúng quốc tế. Để báo chí phát huy tốt các vai trò này, cần nghiên cứu triển khai toàn diện, đồng bộ và thực chất các giải pháp sau, cụ thể:
Một là, xây dựng chiến lược truyền thông tổng lực với “câu chuyện quốc gia” thống nhất về sức mạnh mềm Việt Nam. Hạn chế lớn hiện nay là truyền thông về sức mạnh mềm còn phân tán, dễ bị sự kiện hóa, thiếu một khung thông điệp dài hạn có khả năng định vị Việt Nam trong nhận thức công chúng trong nước và quốc tế. Vì vậy, cần nghiên cứu xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia về sức mạnh mềm, trong đó xác định rõ Việt Nam muốn được nhận diện như thế nào, bằng những giá trị cốt lõi nào và hướng tới những nhóm công chúng nào. Chiến lược truyền thông này cần làm nổi bật định vị hình ảnh một Việt Nam hòa bình, ổn định, năng động, sáng tạo, có trách nhiệm, đáng tin cậy, giàu bản sắc văn hóa và hội nhập sâu rộng, được cộng đồng quốc tế nhận diện tích cực, rõ nét, nhất quán và thiện cảm. Đây không phải là khẩu hiệu tuyên truyền, mà phải được cụ thể hóa thành hệ thống thông điệp, biểu tượng, nhân vật, dữ liệu, câu chuyện và sản phẩm báo chí có khả năng lặp lại sáng tạo trên nhiều nền tảng.
Để thực hiện hiệu quả giải pháp này, cần có sự phối hợp giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan báo chí chủ lực, địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia, văn nghệ sĩ, trí thức và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài… Trên cơ sở Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (ban hành theo Quyết định số 173/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), cần xây dựng bộ thông điệp truyền thông sức mạnh mềm quốc gia dùng chung thống nhất, nhưng đủ linh hoạt để từng cơ quan báo chí, từng địa phương và từng lĩnh vực sáng tạo cách thể hiện phù hợp. Khi có một “câu chuyện quốc gia” thống nhất, báo chí sẽ tránh được tình trạng truyền thông rời rạc, đồng thời tạo hiệu ứng cộng hưởng trong quảng bá hình ảnh Việt Nam.
Hai là, đổi mới nội dung thông tin truyền thông trên báo chí theo hướng kể chuyện quốc gia dựa trên sự thật, dữ liệu, nhân vật và các giá trị phổ quát. Trong truyền thông sức mạnh mềm, thông tin đúng là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Báo chí cần chuyển từ cách viết nặng về giới thiệu thành tựu, phản ánh hoạt động, tường thuật sự kiện sang cách kể những câu chuyện phát triển có chiều sâu, có bối cảnh, có nhân vật, có dữ liệu kiểm chứng, có cảm xúc và có thông điệp giá trị. Một di sản văn hóa, một chính sách đối ngoại, một thành tựu chuyển đổi số, một mô hình phát triển xanh, một câu chuyện khởi nghiệp hay một tấm gương người Việt Nam thành công chỉ có thể trở thành sức mạnh mềm khi được báo chí diễn giải theo cách làm cho công chúng thấy được ý nghĩa xã hội, giá trị nhân văn và khả năng đóng góp của Việt Nam vào những vấn đề chung.
Theo đó, các cơ quan báo chí cần ưu tiên phát triển những tuyến bài, chuyên đề và sản phẩm báo chí có khả năng trả lời những câu hỏi sâu hơn: vì sao Việt Nam đáng chú ý; giá trị Việt Nam có ý nghĩa gì; Việt Nam đang đóng góp gì cho hòa bình, phát triển, văn hóa, du lịch, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hợp tác quốc tế. Các hình thức thể hiện cần đa dạng hơn, bao gồm: longform, mega story, phim tài liệu ngắn, podcast, video ngắn, infographic, báo chí dữ liệu, phóng sự ảnh, báo chí giải pháp và chuyên đề đa phương tiện. Nội dung thông tin trên báo chí về sức mạnh mềm cần kết hợp giữa tính chính xác của thông tin, tính thuyết phục của dữ liệu, sức hấp dẫn của nhân vật và chiều sâu của giá trị. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã khẳng định quan điểm coi văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng của dân tộc, góp phần gia tăng sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Vì vậy, báo chí cần làm cho nguồn lực văn hóa đó được nhận diện bằng những sản phẩm truyền thông hiện đại, gần gũi, có sức lan tỏa một cách hấp dẫn và thuyết phục.
Ba là, chuyên nghiệp hóa báo chí đối ngoại, báo chí đa ngữ và tập trung truyền thông theo nhóm công chúng mục tiêu. Như đã phân tích ở thực trạng, truyền thông đối ngoại hiệu quả không nên chỉ là dịch tin tiếng Việt sang tiếng nước ngoài, mà phải viết lại câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ, logic, mối quan tâm và hệ quy chiếu của công chúng quốc tế. Đối tượng tiếp nhận thông tin về Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: nhà đầu tư, du khách, học giả, truyền thông quốc tế, tổ chức quốc tế, giới trẻ toàn cầu, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,… Mỗi nhóm công chúng có nhu cầu thông tin, thói quen tiếp cận truyền thông và tiêu chí đánh giá khác nhau. Vì vậy, báo chí đối ngoại cần chuyển từ mô hình cung cấp thông tin chung sang mô hình truyền thông phân tầng, phân nhóm và cá nhân hóa cho phù hợp.
Để thực hiện hiệu quả giải pháp này, cần phát triển đội ngũ phóng viên, biên tập viên và chuyên gia truyền thông đối ngoại có năng lực ngoại ngữ, nhạy bén với tình hình quốc tế, am hiểu các nền văn hóa khác nhau, có kỹ năng truyền thông bài bản, biết phân tích dữ liệu và có khả năng sản xuất nội dung trên nhiều nền tảng như: báo chí, truyền hình, mạng xã hội… Các cơ quan báo chí chủ lực về đối ngoại cần xây dựng các nhóm nội dung chuyên biệt theo khu vực và theo nhóm công chúng. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác với các hãng thông tấn, báo chí quốc tế, chuyên gia nước ngoài, kiều bào và những người có ảnh hưởng tích cực đối với hình ảnh Việt Nam. Nền tảng Vietnam.vn và các kênh báo chí đối ngoại cần được phát triển thành hệ sinh thái dữ liệu, nội dung và hình ảnh chính thống về Việt Nam, phục vụ không chỉ tuyên truyền đối ngoại mà cả du lịch, đầu tư, giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân. Qua đó, sẽ giúp hình ảnh Việt Nam được truyền thông đúng ngữ cảnh, đúng đối tượng và có khả năng thuyết phục cao hơn.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số báo chí gắn với nâng cao năng lực công nghệ của các cơ quan báo chí. Trong bối cảnh công chúng tiếp nhận thông tin ngày càng nhiều qua các nền tảng số, mạng xã hội, video ngắn, công cụ tìm kiếm, ứng dụng di động và các hệ sinh thái nội dung cá nhân hóa, chuyển đổi số là điều kiện sống còn để báo chí giữ vai trò chủ đạo trong lan tỏa thông tin chính thống và sức mạnh mềm quốc gia. Chuyển đổi số báo chí không nên hiểu giản đơn giản là đầu tư mua sắm công nghệ hoặc đưa nội dung báo in lên môi trường mạng, mà phải là quá trình đổi mới toàn diện tư duy làm báo, mô hình tòa soạn, quy trình sản xuất, phương thức quảng bá nội dung, năng lực nhân sự làm báo, quản trị dữ liệu và đo lường hiệu quả truyền thông.
Chiến lược Chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 06/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ) đã xác định mục tiêu “Xây dựng các cơ quan báo chí theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; làm tốt sứ mệnh thông tin tuyên truyền phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự nghiệp đổi mới của đất nước; đảm bảo vai trò dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội, giữ vững chủ quyền thông tin trên không gian mạng; đổi mới hiệu quả trải nghiệm của độc giả…”. Đây là cơ sở quan trọng để báo chí Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh thông tin trong kỷ nguyên số. Vì vậy, các cơ quan báo chí cần chủ động xây dựng tòa soạn hội tụ, phát triển hệ thống quản trị dữ liệu độc giả, ứng dụng AI có trách nhiệm trong hỗ trợ sản xuất, biên tập, dịch thuật, kiểm chứng, gợi ý và phân phối nội dung. Đồng thời, phát triển báo chí dữ liệu, báo chí đa phương tiện, báo chí di động và sản phẩm tối ưu cho từng nền tảng. Bên cạnh đó, cần chú trọng tối ưu hóa nội dung cho công cụ tìm kiếm, mạng xã hội, podcast, video ngắn và các kênh truyền thông mới. Trong quá trình chuyển đổi số, báo chí cũng phải coi trọng chuẩn mực nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội, bảo đảm năng lực kiểm chứng thông tin và tuân thủ quy định về bảo vệ bản quyền nội dung số.
Năm là, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, dữ liệu dùng chung và hệ thống đo lường hiệu quả truyền thông về sức mạnh mềm qua báo chí. Sức mạnh mềm là kết quả tổng hợp của nhiều lĩnh vực và nhiều chủ thể. Báo chí không thể phát huy đầy đủ vai trò nếu thiếu cơ chế phối hợp với ngoại giao, văn hóa, du lịch, giáo dục, khoa học – công nghệ, doanh nghiệp, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, nghệ sĩ, chuyên gia, người có ảnh hưởng và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Vì vậy, cần xây dựng kho dữ liệu truyền thông quốc gia phục vụ sức mạnh mềm, bao gồm: hình ảnh, video, dữ liệu, bản đồ di sản, dữ liệu du lịch, dữ liệu đầu tư, dữ liệu văn hóa, nhân vật, câu chuyện tiêu biểu, thông điệp, bộ nhận diện hình ảnh quốc gia và các nội dung đa ngôn ngữ có thể sử dụng chung. Kho dữ liệu này cần được quản trị bởi cơ quan đầu mối phù hợp, có cơ chế cập nhật thường xuyên, bảo đảm tính chính xác, bản quyền, khả năng truy cập và sử dụng thuận lợi cho các cơ quan báo chí. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp định kỳ giữa các cơ quan quản lý báo chí, ngoại giao, văn hóa, du lịch, các địa phương và cơ quan báo chí chủ lực để xây dựng kế hoạch truyền thông về sức mạnh mềm theo năm, theo sự kiện trọng điểm và theo từng thị trường mục tiêu.
Cùng với đó, cần xây dựng bộ chỉ số đo lường hiệu quả truyền thông báo chí trong việc lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia. Việc đánh giá không nên chỉ dừng ở số lượng tin bài, lượt xem, lượt chia sẻ hoặc mức độ hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền, mà cần đo lường sâu hơn mức độ tiếp cận công chúng mục tiêu, sắc thái cảm xúc, mức độ nhận diện thông điệp, tần suất trích dẫn của truyền thông quốc tế, sự thay đổi nhận thức, niềm tin, thiện cảm và tác động gián tiếp tới du lịch, đầu tư, hợp tác giáo dục, giao lưu văn hóa. Đây cũng là điều kiện để hoạt động truyền thông sức mạnh mềm trở nên chuyên nghiệp, thể hiện được trách nhiệm giải trình và có khả năng điều chỉnh kịp thời theo phản hồi của công chúng.
4. Kết luận
Ngày nay, sức mạnh mềm đang ngày càng trở thành nguồn lực chiến lược trong bối cảnh các quốc gia không chỉ cạnh tranh bằng kinh tế, công nghệ, quốc phòng, mà còn trên phương diện hình ảnh, giá trị, bản sắc, niềm tin và khả năng tạo ảnh hưởng. Đối với Việt Nam, các nguồn lực mềm như: văn hóa, lịch sử, con người, thành tựu đổi mới, ổn định chính trị, đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và trách nhiệm quốc tế chỉ có thể phát huy đầy đủ giá trị khi được định vị, diễn giải, truyền thông và lan tỏa một cách hiệu quả. Trong quá trình đó, báo chí giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ phản ánh sức mạnh mềm đã có mà còn tham gia kiến tạo, lan tỏa và bảo vệ sức mạnh mềm quốc gia thông qua định hướng nhận thức, kể câu chuyện quốc gia, truyền thông đối ngoại, chuyển đổi số và bảo vệ chủ quyền thông tin. Đó cũng là lý do cần nghiên cứu chủ đề này một cách hệ thống, toàn diện để góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của báo chí trong quản trị hình ảnh quốc gia, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm tiếp tục phát huy vai trò của báo chí trong việc kiến tạo và lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia nhằm nâng cao vị thế, uy tín và sức hấp dẫn của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (23/01/2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-xiv/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang2.html
2. Báo Chính phủ (21/6/2025). Tổng thuật: Kỷ niệm trọng thể 100 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/truc-tiep-le-ky-niem-trong-the-100-nam-ngay-bao-chi-cach-mang-viet-nam-102250621084319019.htm
3. Brand Finance (27/01/2026). Vietnam sustains global Soft Power ranking as Influence grows. https://brandfinance.com/press-releases/brand-finance-global-soft-power-index-2026-vietnam-sustains-ranking-as-influence-grows
4. Cục Báo chí, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (18/12/2025). Công bố kết quả đánh giá mức độ trưởng thành Chuyển đổi số báo chí năm 2025. https://bvhttdl.gov.vn/cong-bo-ket-qua-danh-gia-muc-do-truong-thanh-chuyen-doi-so-bao-chi-nam-2025-20251218214107087.htm
5. Diệp Anh. (15/04/2026). Chặn gỡ hàng nghìn thông tin xấu độc trên các nền tảng mạng xã hội. https://baochinhphu.vn/chan-go-hang-nghin-thong-tin-xau-doc-tren-cac-nen-tang-mang-xa-hoi-102260415181643604.htm
6. Đặng Đình Quý (05/01/2024). “Sức mạnh mềm” trong quan hệ quốc tế và sức mạnh mềm của Việt Nam trong giai đoạn mới. Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/suc-manh-mem-trong-quan-he-quoc-te-va-suc-manh-mem-cua-viet-nam-trong-giai-doan-moi-p28246.html.
7. Hà Ánh Bình, Nguyễn Quý Thanh, Lữ Thị Mai Oanh (01/7/2025). Vai trò của báo chí trong đấu tranh chống tin giả, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/01/vai-tro-cua-bao-chi-trong-dau-tranh-chong-tin-gia-gop-phan-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-tren-mang-xa-hoi/
8. Hoàng Đạo Cương (26/12/2024). Dấu ấn Di sản văn hóa năm 2024, nhiệm vụ, giải pháp năm 2025. https://bvhttdl.gov.vn/dau-an-di-san-van-hoa-nam-2024-nhiem-vu-giai-phap-nam-2025-20241226140127504.htm
9. Nguyễn Hoa (09/01/2020). Sức mạnh mềm trong một thế giới đang thay đổi. Tạp chí Cộng sản, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/chi-tiet-tim-kiem/-/2018/815776/suc-manh-mem-trong-mot-the-gioi-%C4%91ang-thay-%C4%91oi.aspx.
10. Melissen. (18/5/2026). The New Public Diplomacy: Soft Power in International Relations. Palgrave Macmillan, 2005. https://link.springer.com/book/10.1057/9780230554931.
11. Jim Egan, Craig T. Robertson, Amy Ross Arguedas, Nic Newman, Rasmus Kleis Nielsen, Mitali Mukherjee, and Richard Fletcher (2026). Digital News Report 2026. Reuters Institute for the Study of Journalism, University of Oxford, 2026, https://reutersinstitute.politics.ox.ac.uk/sites/default/files/2026-06/DNR%202026%20FINAL_2.pdf
12. Lý Thị Hải Yến (20/7/2025). Phát huy vai trò của truyền thông đối ngoại trong kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Tạp chí Cộng sản. https://tapchicongsan.org.vn/en_US/web/guest/tin-dung-chinh-sach-vi-nguoi-ngheo/-/2018/1109402/view_content
13. Quốc hội (2025). Luật Báo chí năm 2025.
14. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 348/QĐ-TTg ngày 06/4/2023 phê duyệt Chiến lược Chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
15. Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
16. Toàn Thắng (01/6/2026). Nhiều tác phẩm thể hiện rõ tinh thần đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số mạnh mẽ tại Giải Báo chí Quốc gia. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/nhieu-tac-pham-the-hien-ro-tinh-than-doi-moi-sang-tao-chuyen-doi-so-manh-me-tai-giai-bao-chi-quoc-gia-102260601104249691.htm
17. UNESCO (18/5/2026). Báo chí, tin giả và tin xuyên tạc. Sổ tay Giáo dục và Đào tạo Báo chí, 2019. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000367566
18. Vũ Thái Dũng (27/5/2022). “Sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam – Nguồn lực nội sinh trong phát triển đất nước. Tạp chí Cộng sản. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoi-thao-quang-ninh/-/2018/826752/%E2%80%9Csuc-manh-mem%E2%80%9D-cua-van-hoa-viet-nam–%C2%A0nguon-luc-noi-sinh%C2%A0trong-phat-trien-dat-nuoc.aspx



