Solutions to accelerate digital government development in Lam Dong Province
ThS. Vương Đình Thái
NCS Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Sau khi hợp nhất và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Lâm Đồng đứng trước yêu cầu tổ chức lại phương thức quản trị trên không gian hành chính rộng, bảo đảm hoạt động thông suốt từ cấp tỉnh đến cấp xã. Bài viết phân tích thực trạng xây dựng chính quyền số trên các phương diện hạ tầng, nền tảng, dữ liệu, điều hành số, dịch vụ công trực tuyến, an toàn thông tin và nhân lực số. Kết quả cho thấy, tỉnh đã hình thành nhiều nền tảng quan trọng nhưng vẫn còn điểm nghẽn về liên thông dữ liệu, nguồn lực đầu tư, kỹ năng số và chất lượng vận hành. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm phát triển chính quyền số thực chất, an toàn và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Từ khóa: Chính quyền số; chuyển đổi số; dữ liệu số; dịch vụ công trực tuyến; tỉnh Lâm Đồng.
Abstract: Following the provincial merger and the adoption of the two-tier local government model, Lam Dong Province faces the need to modernise its governance approach across an extensive administrative territory while ensuring seamless operations between the provincial and commune levels. This article analyses the current state of digital government development in terms of digital infrastructure, digital platforms and data, digital governance and administration, online public services, digital human resources, and information security. The findings indicate that the province has established important foundations but continues to face several bottlenecks, including limited data interoperability, constrained investment resources, insufficient digital skills, and operational inefficiencies. Accordingly, the article proposes six groups of solutions to promote the substantive, secure, and citizen and business centred development of the province’s digital government.
Keywords: Digital government; digital transformation; digital data; online public services; Lam Dong Province.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số đang thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị trong khu vực công. Chính quyền số không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin, mà là tổ chức và vận hành hoạt động của chính quyền trên môi trường số, dựa trên dữ liệu, nền tảng số và công nghệ số để nâng cao hiệu quả điều hành, chất lượng dịch vụ và giá trị công.
Theo cách tiếp cận của OECD (2020)1, chính quyền số không chỉ là việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động hành chính mà còn là quá trình tổ chức lại phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, nền tảng số, thiết kế lấy người dùng làm trung tâm và khả năng cung cấp dịch vụ chủ động. Vì vậy, đánh giá chính quyền số cần xem xét đồng thời hạ tầng, dữ liệu, quy trình, năng lực tổ chức thực thi và giá trị thực tế tạo ra cho người dân, doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, yêu cầu phát triển chính phủ số, chính quyền số tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 và Luật Chuyển đổi số năm 2025 (có hiệu lực ngày 01/7/2026). Trọng tâm không chỉ là đầu tư hệ thống mà còn là chuẩn hóa dữ liệu, tái cấu trúc quy trình, tăng khả năng liên thông, bảo đảm an toàn thông tin và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Đối với tỉnh Lâm Đồng, từ ngày 01/7/2025, việc hợp nhất ba tỉnh và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo ra không gian quản lý rộng, đa dạng, với 124 xã, phường, đặc khu. Bài viết phân tích kết quả, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy chính quyền số vận hành thực chất, đồng bộ và phù hợp với bối cảnh mới.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả và so sánh; trong đó, số liệu chủ yếu được tổng hợp từ các báo cáo chính thức của tỉnh Lâm Đồng về cải cách hành chính, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, bài viết nhận diện các kết quả, điểm nghẽn và đề xuất giải pháp phù hợp với bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp sau hợp nhất.
2. Thực trạng xây dựng chính quyền số ở tỉnh Lâm Đồng
2.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, hoàn thiện hạ tầng số và nền tảng số phục vụ hoạt động của chính quyền.
Về hạ tầng viễn thông, đến tháng 5/2026, toàn tỉnh có 12.161 trạm thu phát sóng di động, trong đó có 1.205 trạm 5G và 555 trạm BTS kiên cố bảo đảm khả năng chống chịu thiên tai cấp độ 4. Tỉnh có hơn 4 triệu thuê bao di động, trong đó 3.566.266 thuê bao sử dụng điện thoại thông minh, đạt 87,7%. Mạng băng rộng di động phủ đến 100% dân số thuộc các xã, phường, đặc khu; tỷ lệ phủ sóng 5G đạt 86%. Cáp quang FTTH đã phủ đến 100% trung tâm cấp xã; tỷ lệ hộ gia đình có FTTH đạt 94,22%2.
Hạ tầng dùng chung tiếp tục được duy trì và nâng cấp. Mạng CAMPUS tại Trung tâm hành chính tỉnh phục vụ khoảng 2.000 người dùng thường xuyên và 200 người dùng vãng lai mỗi ngày, với 2.217 cổng kết nối vật lý. Hệ thống hội nghị truyền hình có 248 điểm cầu cấp xã3; 100% cơ quan Đảng, Nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã được kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng. Trung tâm tích hợp dữ liệu có 98 máy chủ vật lý, 227 máy chủ ảo và dung lượng lưu trữ 465 TB4. Việc đồng bộ hạ tầng dùng chung có ý nghĩa thiết thực đối với mô hình hai cấp, bởi nhiều hoạt động chỉ đạo, điều hành và xử lý hồ sơ cần được thực hiện trực tuyến giữa tỉnh với cơ sở.
Tỉnh tiếp tục vận hành nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP), kết nối với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP). Đến cuối năm 2025, LGSP đã kết nối, khai thác 22 hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành với hơn 400.000 lượt giao dịch5, tạo cơ sở sử dụng lại dữ liệu và hình thành kiến trúc số thống nhất sau hợp nhất.
Thứ hai, xây dựng và phát triển dữ liệu số phục vụ quản trị, điều hành.
Tỉnh đang triển khai cơ sở dữ liệu không gian địa lý dùng chung, tiếp tục hoàn thiện LGSP và thống nhất hệ thống quản lý văn bản, điều hành trên phạm vi toàn tỉnh. Đây là cơ sở chuyển từ số hóa từng nghiệp vụ sang quản trị dựa trên dữ liệu. Quá trình này đặc biệt cần thiết sau hợp nhất, khi dữ liệu và quy trình nghiệp vụ được kế thừa từ ba địa phương tiền thân còn có mức độ hoàn thiện khác nhau.
Đến ngày 09/12/2025, hệ thống quản lý văn bản và điều hành đã được khai báo cho 169 cơ quan, đơn vị với khoảng 30.170 tài khoản; số văn bản gửi, nhận đạt 5.418.221 văn bản6. Đến ngày 19/5/2026, toàn tỉnh có 14.533 chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ, gồm 5.492 chứng thư cấp tỉnh và 9.041 chứng thư cấp xã; 100% lãnh đạo các cấp và công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính được trang bị chữ ký số7.
Việc kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và nền tảng thanh toán trực tuyến bước đầu giúp giảm giấy tờ, hỗ trợ giải quyết thủ tục liên thông. Tỉnh đã sử dụng dữ liệu dân cư trong một số thủ tục trọng điểm và triển khai căn cước công dân thay thế thẻ bảo hiểm y tế trong khám, chữa bệnh tại 100% cơ sở y tế8. Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự trở thành tài sản quản trị, cần tiếp tục chuẩn hóa, làm sạch, cập nhật thường xuyên và xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan đối với chất lượng dữ liệu.
Thứ ba, đổi mới phương thức quản trị và điều hành trên môi trường số.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo chuyển đổi số được duy trì liên tục trước và sau hợp nhất. Việc học tập, quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW, tỉnh đã tổ chức với 329 điểm cầu và 20.115 đại biểu9. Sau hợp nhất, tỉnh kiện toàn Ban Chỉ đạo; ban hành chương trình, kế hoạch và phân công nhiệm vụ theo nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Cách làm này góp phần đưa chuyển đổi số từ nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan công nghệ thành nhiệm vụ quản trị chung, có sự tham gia và chịu trách nhiệm của các cấp, các ngành.
Tỉnh từng bước chuyển từ điều hành chủ yếu bằng báo cáo định kỳ sang theo dõi, giám sát trên môi trường điện tử. Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC), hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, quản lý văn bản, hội nghị trực tuyến, thư điện tử công vụ và chữ ký số được tổ chức theo hướng dùng chung, góp phần hạn chế gián đoạn công việc, tăng kỷ luật thực thi và hỗ trợ phối hợp giữa cấp tỉnh với cấp xã.
Thứ tư, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công số cho người dân, doanh nghiệp.
Tỉnh đã triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thanh toán trực tuyến và các dịch vụ liên thông. Danh mục thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính cũng được công bố, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ trực tuyến hoặc tại bộ phận một cửa. Đây là phương diện thể hiện trực tiếp mức độ thuận tiện và chất lượng phục vụ của chính quyền số đối với người dân, doanh nghiệp.
Đến tháng 5/2026, toàn tỉnh đang thực hiện 2.205 thủ tục hành chính, gồm: 826 thủ tục trực tuyến toàn trình (37,47%), 1.199 thủ tục trực tuyến một phần (54,39%) và 180 thủ tục thực hiện trực tiếp (8,16%). Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 19/5/2026, tỉnh tiếp nhận 339.133 hồ sơ, trong đó có 257.942 hồ sơ trực tuyến, chiếm 76,05%. Theo đó, trong 305.712 hồ sơ đã giải quyết, 293.132 hồ sơ trước hạn và đúng hạn, đạt 95,88%. Lũy kế từ ngày 01/7/2025, tỉnh tiếp nhận 1.190.533 hồ sơ, trong đó 949.542 hồ sơ trực tuyến, chiếm 79,76%10.
Một số mô hình như hồ sơ không bản giấy, hồ sơ phi địa giới hành chính và tiếp nhận hồ sơ trực tuyến có hỗ trợ đã góp phần giảm thời gian đi lại. Việc sử dụng dữ liệu dân cư trong các dịch vụ liên thông về khai sinh, khai tử, cư trú và bảo hiểm cho thấy khả năng phát triển dịch vụ công theo sự kiện đời sống. Số liệu cũng cho thấy, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến được duy trì ở mức khá cao, nhưng chất lượng vận hành vẫn cần được đánh giá đồng thời qua tiến độ xử lý, tỷ lệ bổ sung hồ sơ và mức độ tự thao tác của người sử dụng. Đây là tiền đề để chuyển dần từ cung cấp dịch vụ theo từng thủ tục riêng lẻ sang phục vụ chủ động, dựa trên dữ liệu và nhu cầu phát sinh của người dân.
Thứ năm, bảo đảm an toàn thông tin, phát triển nguồn nhân lực và hệ sinh thái chính quyền số
Tỉnh triển khai bảo vệ hệ thống theo hướng nhiều lớp, áp dụng tường lửa, phòng chống mã độc, phát hiện và ngăn chặn xâm nhập, phân vùng mạng và phân quyền tài khoản. Hệ thống giám sát an toàn thông tin mạng (SOC) đã vận hành và kết nối với Trung tâm An ninh mạng quốc gia, góp phần tăng năng lực cảnh báo, ứng cứu sự cố. Các giải pháp kỹ thuật cần được duy trì thường xuyên, gắn với rà soát lỗ hổng, cập nhật văn bản và diễn tập ứng cứu sự cố.
Nguồn nhân lực số được tăng cường bằng nhiều hình thức. Trong năm 2025, tỉnh tổ chức 19 lớp tập huấn vận hành các hệ thống với hơn 11.000 học viên11. Đến ngày 19/5/2026, toàn tỉnh có 2.765 tổ công nghệ số cộng đồng với 16.880 thành viên; nền tảng, sổ tay “Bình dân học vụ số” ghi nhận 216.988 lượt người tham gia. Công an tỉnh tăng cường 224 cán bộ, chiến sĩ về cơ sở để hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, VNeID và kỹ năng số cơ bản12.
2.2. Một số hạn chế, bất cập
Một là, hạ tầng số ở một số địa bàn chưa đồng đều; một số hệ thống dùng chung chưa vận hành thật sự ổn định.
Mặc dù độ phủ sóng viễn thông được cải thiện nhưng chất lượng kết nối tại một số khu vực vùng sâu, vùng xa và địa bàn có địa hình phức tạp chưa ổn định. Đến ngày 19/5/2026, toàn tỉnh còn 101 cụm dân cư lõm sóng, sóng yếu; dự kiến xây dựng mới hoặc tối ưu vùng phủ tại 112 vị trí BTS. Đến ngày 15/5/2026, mới có 37/124 trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã hoàn thành nâng cấp wifi13. Yêu cầu vận hành trên địa bàn rộng tiếp tục tạo áp lực đối với đường truyền, thiết bị và hỗ trợ kỹ thuật tại cơ sở. Việc khắc phục các điểm nghẽn này không chỉ cần đầu tư bổ sung mà còn cần cơ chế giám sát chất lượng dịch vụ theo từng địa bàn và phản hồi nhanh khi phát sinh sự cố.
Một số hệ thống dùng chung còn phát sinh lỗi kỹ thuật do phần mềm, dữ liệu, quy trình và điều kiện hạ tầng của các khu vực tiền thân chưa hoàn toàn đồng nhất, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ xử lý công việc.
Hai là, nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển.
Nguồn lực cho chính quyền số bao gồm kinh phí đầu tư, duy trì, nâng cấp, bảo mật và đào tạo. Trong bối cảnh phải ổn định bộ máy chính quyền địa phương hai cấp và tích hợp hệ thống của ba khu vực tiền thân, nhu cầu đầu tư rất lớn. Tỉnh đang rà soát dự án trang thiết bị phục vụ cấp xã và Đề án 06 với tổng mức dự kiến khoảng 292 tỷ đồng; khối cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đăng ký danh mục đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin giai đoạn 2026 – 2028 với tổng mức 93,13 tỷ đồng14. Vì vậy, cần xác định thứ tự ưu tiên, tránh đầu tư dàn trải. Nguồn lực cũng cần được bố trí cho bảo mật, hỗ trợ kỹ thuật và thuê dịch vụ chuyên sâu, thay vì chỉ tập trung vào mua sắm thiết bị ban đầu.
Ba là, năng lực số của một bộ phận cán bộ, công chức và người dân còn hạn chế; nhân lực công nghệ thông tin ở cơ sở còn thiếu.
Sau khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp, nhiều công chức được phân công lĩnh vực mới trong khi thời gian thích ứng ngắn. Đến ngày 19/5/2026, khối Ủy ban nhân dân mới có 98/140 cơ quan, đơn vị bố trí nhân lực công nghệ thông tin, gồm 82 xã và 16 sở, ngành; khối Đảng mới có 30/124 đảng ủy xã, phường, đặc khu bố trí nhân lực công nghệ thông tin15. Nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin, dữ liệu và an toàn thông tin còn thiếu. Đội ngũ cấp xã phải tiếp nhận thêm nhiệm vụ, sử dụng nhiều hệ thống và hỗ trợ người dân ngay tại cơ sở, nên nhu cầu bồi dưỡng theo vị trí việc làm trở nên cấp thiết.
Đối với người dân, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao chưa đồng nghĩa với khả năng tự thao tác đầy đủ. Một bộ phận người dùng vẫn cần hỗ trợ do dịch vụ còn nhiều bước, biểu mẫu khó hiểu hoặc xác thực phức tạp. Vì vậy, cần đồng thời nâng cao kỹ năng số và cải thiện trải nghiệm người dùng. Hồ sơ trực tuyến chủ yếu được thực hiện tại bộ phận hỗ trợ, tỷ lệ trực tuyến cao chưa phản ánh đầy đủ mức độ trưởng thành số của người sử dụng.
Bốn là, cơ chế chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu còn bất cập.
Dữ liệu chuyên ngành vẫn phân tán; mức độ chuẩn hóa, làm sạch và cập nhật chưa đồng đều; một số cơ sở dữ liệu chưa hoàn chỉnh hoặc chưa được cập nhật thường xuyên. Kết nối kỹ thuật qua LGSP là điều kiện cần nhưng chưa đủ: tỉnh cần xác định rõ dữ liệu dùng chung, chuẩn dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, quyền khai thác và cơ chế kiểm tra. Một số quy trình chưa được tái thiết kế phù hợp với môi trường số; khả năng sử dụng lại dữ liệu và kết quả số hóa còn hạn chế; trong một số trường hợp, người dân vẫn phải nộp lại bản giấy. Khi quy trình chưa được tái cấu trúc, thao tác lặp lại làm tăng khối lượng công việc, giảm động lực sử dụng nền tảng số và hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ công trực tuyến.
3. Một số giải pháp đẩy mạnh xây dựng chính quyền số ở tỉnh Lâm Đồng
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm người đứng đầu và hoàn thiện cơ chế chỉ đạo, phối hợp.
Xây dựng chính quyền số trước hết phải bắt đầu từ chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị. Nếu xây dựng chính quyền số chỉ được xem là nhiệm vụ kỹ thuật thì việc triển khai dễ rơi vào hình thức, phụ thuộc vào một số bộ phận chuyên môn. Vì vậy, cần xác định chính quyền số là phương thức đổi mới quản trị, cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Đối với tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập, yêu cầu này càng quan trọng khi chính quyền địa phương hai cấp phải vận hành trong không gian rộng, khối lượng công việc lớn và điều kiện giữa các địa bàn chưa đồng đều. Cần đưa kết quả xây dựng chính quyền số vào tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu. Các nội dung như sử dụng văn bản điện tử, ký số, giải quyết hồ sơ trực tuyến, thanh toán trực tuyến, khai thác dữ liệu, xử lý phản ánh, kiến nghị và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp cần được theo dõi thường xuyên.
Cùng với nâng cao trách nhiệm, phải tiếp tục hoàn thiện thể chế số và cơ chế phối hợp giữa cấp tỉnh với cấp xã, giữa các sở, ngành và giữa hệ thống một cửa điện tử với các hệ thống chuyên ngành. Trọng tâm là làm rõ trách nhiệm trong tạo lập, cập nhật, chia sẻ, khai thác dữ liệu; chuẩn hóa quy trình xử lý công việc trên môi trường điện tử; khắc phục tình trạng phối hợp chậm, hồ sơ phải qua nhiều tầng nấc hoặc xử lý ngoài hệ thống.
Thứ hai, phát triển hạ tầng số, nền tảng dùng chung và dữ liệu số.
Trong giai đoạn tới, tỉnh Lâm Đồng cần chuyển trọng tâm từ đầu tư các hệ thống riêng lẻ sang tối ưu hóa hệ sinh thái số dùng chung, bảo đảm các nền tảng có khả năng kết nối, chia sẻ và phục vụ lẫn nhau. Các hệ thống như quản lý văn bản và điều hành, giải quyết thủ tục hành chính, LGSP, IOC, SOC, hệ thống báo cáo, hội nghị trực tuyến và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành cần được tổ chức thành một chỉnh thể thống nhất.
Tiếp tục rà soát toàn bộ phần mềm, cơ sở dữ liệu, nền tảng công nghệ đang sử dụng tại các sở, ngành, địa phương để xác định hệ thống nào cần duy trì, tích hợp, thay thế hoặc dùng chung. Việc đầu tư mới phải tuân thủ yêu cầu kết nối, chia sẻ, an toàn thông tin và có khả năng mở rộng.
Đặc biệt, phải coi dữ liệu là tài sản quan trọng của chính quyền số. Xây dựng cơ chế quản trị dữ liệu thống nhất, gồm chuẩn dữ liệu, danh mục dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, phân quyền khai thác và quy trình chia sẻ. Các lĩnh vực có nhiều giao dịch với người dân, doanh nghiệp như đất đai, xây dựng, hộ tịch, tư pháp, y tế, giáo dục, an sinh xã hội cần được ưu tiên làm sạch, chuẩn hóa và kết nối. Trên cơ sở đó, từng bước thực hiện nguyên tắc dùng lại dữ liệu, hạn chế yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.
Thứ ba, số hóa quy trình nội bộ và đổi mới phương thức điều hành.
Trước hết, cần rà soát các quy trình xử lý công việc trong từng cơ quan, đơn vị để loại bỏ những bước trung gian không cần thiết, chuẩn hóa luồng xử lý và chuyển sang môi trường điện tử. Số hóa không phải là đưa nguyên quy trình cũ lên phần mềm, mà là thiết kế lại cách làm việc theo hướng ngắn hơn, rõ trách nhiệm hơn, dễ theo dõi hơn và có khả năng đo lường kết quả.
Các nghiệp vụ như tiếp nhận văn bản, giao việc, trình ký, ký số, lưu trữ hồ sơ, báo cáo, theo dõi tiến độ, trao đổi nội bộ cần được thực hiện thống nhất trên hệ thống. Từng bước giảm tình trạng xử lý song song giữa hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử để tránh tăng thêm công việc cho cán bộ, đồng thời nâng cao hiệu quả kiểm soát tiến độ.
Bên cạnh đó, cần tăng cường sử dụng dữ liệu trong chỉ đạo, điều hành. Các chỉ tiêu về cải cách hành chính, tiến độ xử lý hồ sơ, tỷ lệ đúng hạn, tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến, phản ánh kiến nghị và mức độ hài lòng cần được cập nhật thường xuyên. IOC, hệ thống báo cáo và các bảng điều khiển số cần trở thành công cụ hỗ trợ lãnh đạo các cấp phát hiện điểm nghẽn, cảnh báo sớm và ra quyết định kịp thời. Đối với cấp xã, cần có cơ chế hỗ trợ thường xuyên về thiết bị, tài khoản, đường truyền, phần mềm và kỹ năng sử dụng hệ thống.
Thứ tư, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến.
Chất lượng chính quyền số phải được thể hiện rõ qua chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Việc tỉnh Lâm Đồng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, giải quyết hồ sơ trực tuyến và thanh toán trực tuyến đạt kết quả tích cực. Tuy nhiên, trọng tâm thời gian tới không chỉ là tăng số lượng dịch vụ, mà là nâng cao mức độ thuận tiện, dễ sử dụng và hiệu quả thực tế.
Tiếp tục tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng, giảm giấy tờ, giảm thời gian và tăng khả năng xử lý trực tuyến toàn trình. Dịch vụ công trực tuyến cần được thiết kế theo trải nghiệm của người dùng: dễ tìm kiếm, dễ kê khai, dễ theo dõi trạng thái hồ sơ, dễ nhận kết quả và dễ phản hồi.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh sử dụng lại dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và nền tảng dùng chung của tỉnh. Các mô hình như “hồ sơ không bản giấy”, “hồ sơ phi địa giới hành chính” cần được đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng ở những lĩnh vực phù hợp.
Từng bước thí điểm dịch vụ công trực tuyến chủ động đối với một số thủ tục gắn với sự kiện đời sống như khai sinh, khai tử, hộ tịch, an sinh xã hội, bảo hiểm, giáo dục, y tế. Khi đã có đủ dữ liệu, chính quyền có thể chủ động nhắc việc, gợi ý thủ tục, hỗ trợ điền sẵn thông tin hoặc kích hoạt một phần quy trình.
Thứ năm, phát triển nhân lực số, văn hóa số và sự tham gia của xã hội.
Nhân lực là yếu tố quyết định khả năng vận hành chính quyền số. Hạ tầng, nền tảng và dữ liệu dù được đầu tư đồng bộ nhưng sẽ khó phát huy hiệu quả nếu cán bộ, công chức chưa có kỹ năng sử dụng, chưa sẵn sàng đổi mới quy trình hoặc chưa có trách nhiệm với dữ liệu. Vì vậy, cần tiếp tục chuẩn hóa năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là ở cấp xã.
Đối với cán bộ trực tiếp xử lý hồ sơ, cần tập trung bồi dưỡng kỹ năng sử dụng hệ thống, ký số, xử lý hồ sơ điện tử, khai thác dữ liệu, bảo vệ tài khoản công vụ và hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần tăng cường năng lực điều hành dựa trên dữ liệu, đánh giá hiệu quả hệ thống số và tổ chức chuyển đổi quy trình trong cơ quan, đơn vị. Hình thành lực lượng nòng cốt về dữ liệu, an toàn thông tin, vận hành nền tảng số và cải tiến quy trình ở cấp tỉnh, sở, ngành và một số địa bàn trọng điểm. Lực lượng này có nhiệm vụ hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn nghiệp vụ, phát hiện điểm nghẽn và đề xuất giải pháp xử lý kịp thời.
Đồng thời, cần nâng cao kỹ năng số cho người dân, doanh nghiệp. Công tác tuyên truyền không nên chỉ dừng ở phổ biến chủ trương, mà phải chuyển mạnh sang hướng dẫn cụ thể cách sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến, tra cứu hồ sơ, gửi phản ánh kiến nghị. Cần phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng, bộ phận một cửa, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và các tổ chức xã hội trong hỗ trợ người dân tham gia chính quyền số.
Thứ sáu, bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu.
Các hệ thống quan trọng như một cửa điện tử, quản lý văn bản, LGSP, IOC, SOC, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng phục vụ người dân, doanh nghiệp cần được phân loại cấp độ an toàn thông tin, kiểm tra định kỳ, giám sát thường xuyên và có phương án sao lưu, khôi phục dữ liệu. Việc phân quyền truy cập, khai thác và chia sẻ dữ liệu phải rõ ràng, có nhật ký theo dõi và có khả năng truy vết trách nhiệm khi xảy ra sự cố.
Tiếp tục triển khai mô hình bảo đảm an toàn thông tin nhiều lớp, kết hợp giữa giải pháp kỹ thuật, quy trình vận hành, kiểm tra thường xuyên và nâng cao ý thức người dùng. Các lỗ hổng bảo mật, điểm yếu kỹ thuật, nguy cơ tấn công hoặc mất dữ liệu phải được phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời và xử lý dứt điểm.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu công vụ và dữ liệu chuyên ngành phải trở thành trách nhiệm thường xuyên của mọi cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức. Nội dung bảo vệ tài khoản công vụ, nhận diện mã độc, phòng tránh lừa đảo trực tuyến, sử dụng thư điện tử an toàn, xử lý hồ sơ điện tử đúng quy trình cần được đưa vào đào tạo bắt buộc, nhất là đối với cấp xã. Khi kết hợp được kỹ thuật, kỷ luật vận hành và ý thức của người sử dụng, chính quyền số mới có nền tảng an toàn, ổn định và bền vững.
4. Kết luận
Xây dựng chính quyền số ở tỉnh Lâm Đồng gắn trực tiếp với yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp sau hợp nhất. Những kết quả về hạ tầng, nền tảng, dữ liệu, dịch vụ công, nhân lực và an toàn thông tin cho thấy tỉnh đã hình thành nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, giai đoạn tiếp theo đòi hỏi chuyển mạnh từ triển khai hệ thống sang nâng cao chất lượng vận hành.
Trọng tâm là tái cấu trúc quy trình, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, đo lường trải nghiệm người dùng, bảo đảm an toàn và gắn trách nhiệm người đứng đầu. Sáu nhóm giải pháp cần được triển khai đồng bộ, có thứ tự ưu tiên, hướng tới năng lực điều hành thông suốt hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn và mức độ hài lòng cao hơn của người dân, doanh nghiệp.
Chú thích:
1. OECD (2020). The OECD Digital Government Policy Framework: Six Dimensions of a Digital Government. OECD Publishing.
2, 4, 7, 10, 12, 13, 14, 15.Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Lâm Đồng (2026). Báo cáo số 02-BC/BCĐ ngày 19/5/2026 về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị 5 tháng đầu năm 2026; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 6 và 6 tháng cuối năm 2026.
3, 5, 8, 9. Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng (2025). Báo cáo số 329/BC-UBND ngày 19/12/2025 về công tác cải cách hành chính năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của tỉnh Lâm Đồng.
6, 11. Tỉnh ủy Lâm Đồng (2025). Báo cáo số 107-BC/TU ngày 14/12/2025 về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Quốc hội (2025). Luật Chuyển đổi số năm 2025.
3. Xây dựng chính quyền số hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/09/28/xay-dung-chinh-quyen-so-hien-nay/
4. Chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao năng lực quản trị địa phương ở TP. Hồ Chí Minh. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/15/chuyen-doi-so-va-yeu-cau-nang-cao-nang-luc-quan-tri-dia-phuong-o-tp-ho-chi-minh/
5. United Nations (2024). E-Government Survey 2024: Accelerating Digital Transformation for Sustainable Development.
6. World Bank (2020). Digital Government Readiness Assessment Toolkit: Guidelines for Task Teams.



