Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo định hướng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Training high-quality human resources in accordance with the orientation of the Party’s 14th Congress Documents

ThS. Hồ Thị Huyền Trang
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại tỉnh Đắk Lắk

(Quanlynhanuoc.vn) – Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ chiến lược nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trên cơ sở phân tích quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực, bài viết làm rõ vai trò của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời, đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước hiện nay.

Từ khóa: Đào tạo; nguồn nhân lực chất lượng cao; định hướng; Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Abstract: The Documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam reaffirm the development of human resources, particularly high-quality human resources, as a strategic task aimed at promoting innovation, enhancing national competitiveness, and meeting the requirements of national development in the new period. Based on an analysis of the Party’s viewpoints on human resource development, this article clarifies the role of training high-quality human resources and proposes several orientations for improving the quality of human resource training to meet the current requirements of national development.

Keywords: Training; high-quality human resources; orientations; Documents of the 14th Party Congress.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những đột phá chiến lược; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu phát triển con người toàn diện “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 99). Trên tinh thần kế thừa và phát triển đó, định hướng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển “đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 386). Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu phát triển giáo dục và đào tạo gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; chú trọng phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, nhân tài phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới. “Tiếp tục đổi mới, phát triển hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hiện đại, công bằng và chất lượng. Thực hiện đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục, đào tạo, tập trung đột phá về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 273). Đây chính là các cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam.

2. Một số vấn đề lý luận về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

2.1. Nguồn nhân lực chất lượng cao

Tiếp cận một cách đầy đủ ở góc độ quản trị nhân lực, “nhân lực” là tổng hợp ba yếu tố thể lực, trí lực và tâm lực của mỗi người được sử dụng trong quá trình thực hiện công việc (Nguyễn Tiệp, 2005). Theo khái niệm này thì thể lực thể hiện qua tình trạng sức khoẻ, trí lực thể hiện qua trình độ học vấn, kỹ năng đối với công việc, khả năng tư duy, thích ứng…, còn tâm lực được thể hiện qua thái độ, đạo đức, trách nhiệm với công việc. Ba yếu tố này tồn tại không tách rời trong một chỉnh thể, có mối quan hệ hữu cơ, tương tác và bổ trợ lẫn nhau, cùng tạo nên chất lượng thực sự của con người và nguồn nhân lực. Trong đó, trí lực giữ vai trò quyết định nhưng thể lực và tâm lực là điều kiện cần thiết không thể thiếu, cùng tạo nên chất lượng thực sự của con người và nguồn nhân lực.

Trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và chuyển đổi số hiện nay, yêu cầu đối với nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở số lượng mà ngày càng chú trọng chất lượng. Vì vậy, khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt ra như một yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển. Đây là “một bộ phận ưu tú của nguồn nhân lực, có phẩm chất, sức khoẻ tốt, có trình độ học vấn chuyên môn kỹ thuật cao được thể hiện trên thực tiễn công việc, có kỹ năng lao động thành thạo, có khả năng sáng tạo, thích nghi nhanh chóng với sự thay đổi của môi trường; tạo năng suất, chất lượng, hiệu quả cao trong công việc, đóng góp tích cực, quan trọng vào hoàn thành mục tiêu của tổ chức” (Lê Thị Hiền, 2023).

Nguồn nhân lực chất lượng cao có một số đặc trưng cơ bản, như: có trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng nghề nghiệp cao; có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn công việc một cách hiệu quả; có năng lực đổi mới sáng tạo, tư duy linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao còn được thể hiện ở tác phong chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, khả năng làm việc trong môi trường hiện đại và tinh thần học tập suốt đời nhằm không ngừng nâng cao năng lực bản thân, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn mới.

2.2. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Đào tạo thường gắn với việc chuẩn bị cho nhân sự của tổ chức có thêm những kiến thức, hình thành nên những kỹ năng mới, hành vi ứng xử phù hợp để thích nghi với đòi hỏi của công việc trong những bối cảnh mới của hiện tại và tương lai. Chính vì vậy, “đào tạo phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của nguồn nhân lực nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công việc trong tổ chức ở hiện tại và tương lai” (Nguyễn Thị Hồng Hải, 2021).

Mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức chuyên môn mà còn hướng tới hình thành đội ngũ lao động có tư duy đổi mới sáng tạo, năng lực thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường lao động và khả năng làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Một trong ba đột phá chiến lược được xác định từ Đại hội XIII mang tính “đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá” đến Đại hội XIV cần phải tiến hành quyết liệt, mạnh mẽ và làm đến nơi đến chốn là “đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 37-38).

Từ định hướng đó cho thấy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phải hướng tới phát triển con người toàn diện, bên cạnh trình độ chuyên môn cao, kỹ năng nghề nghiệp hiện đại để người lao động không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thì còn phải có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến cho sự phát triển đất nước. Đây là yêu cầu tất yếu nhằm xây dựng nguồn nhân lực đủ năng lực tham gia vào nền kinh tế tri thức và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay phải gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và định hướng phát triển của từng địa phương, ngành nghề. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động”; đồng thời, chú trọng hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và công nhân kỹ thuật cao đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.

Điều này đặt ra yêu cầu các cơ sở đào tạo cần đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, thực tiễn và linh hoạt; tăng cường liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, cơ quan sử dụng lao động và địa phương nhằm bảo đảm đào tạo đúng nhu cầu xã hội. Bên cạnh đó, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cũng phải phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và nâng cao năng suất lao động. Việc gắn đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực con người, tạo động lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.

2.3. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đây không chỉ là yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế tri thức mà còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của đất nước.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực sáng tạo cao sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng các nguồn lực phát triển. Trong điều kiện nền kinh tế chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng lực phát triển của quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026) để xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chính là đầu tư cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, lợi thế cạnh tranh không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên hay lao động giản đơn mà phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng nguồn nhân lực. Đội ngũ lao động có trình độ cao, kỹ năng hiện đại và khả năng thích ứng linh hoạt sẽ giúp quốc gia nâng cao năng lực thu hút đầu tư, tiếp nhận công nghệ mới, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và khẳng định vị thế trong nền kinh tế tri thức. Do đó, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế hiệu quả.

Đồng thời, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò then chốt trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất, quản lý và vận hành xã hội, đặt ra yêu cầu nguồn nhân lực không chỉ có trình độ chuyên môn mà còn phải có năng lực số, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học, công nghệ. Nguồn nhân lực chất lượng cao chính là chủ thể trực tiếp tạo ra, ứng dụng và chuyển giao tri thức, công nghệ mới vào thực tiễn.Văn kiện Đại hội XIV xác định “khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, 24). Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số và xây dựng nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển con người toàn diện và bảo đảm phát triển bền vững. Mục tiêu của đào tạo không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mà còn hướng tới hình thành con người có đạo đức, trách nhiệm xã hội, bản lĩnh nghề nghiệp và năng lực học tập suốt đời. Trong bối cảnh phát triển mới, nguồn nhân lực cần đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; đồng thời, có khả năng thích ứng với những biến động của xã hội hiện đại. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh nhưng phải bền vững. Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần xây dựng xã hội phát triển hài hòa, bền vững và lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển

3. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam

Những năm gần đây, công tác đào tạo nguồn nhân lực đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về quy mô, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Về quy mô lực lượng lao động và số người có việc làm tiếp tục tăng. Năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với năm trước; số người có việc làm đạt 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người (Cục Thống kê, 13/01/2026). Điều này cho thấy, Việt Nam đang sở hữu nguồn lao động dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Về cơ cấu lao động đang chuyển dịch theo hướng tích cực. Lao động khu vực dịch vụ và công nghiệp – xây dựng ngày càng tăng, trong khi lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm dần. Năm 2025, lao động khu vực dịch vụ chiếm 40,8%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,5%; trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống còn 25,7% (Cục Thống kê, 13/01/2026). Sự chuyển dịch này phản ánh nhu cầu ngày càng lớn đối với lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với công nghệ hiện đại.

Đặc biệt, chất lượng nguồn lao động từng bước được cải thiện thông qua hoạt động đào tạo. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 29,2%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024. Đây là kết quả của sự quan tâm từ Nhà nước, các cơ sở giáo dục và toàn xã hội trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động. Ngoài ra, thu nhập và đời sống người lao động tiếp tục được nâng cao. Thu nhập bình quân của lao động đạt khoảng 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9% so với năm trước (Cục Thống kê, 13/01/2026). Điều này cho thấy, nhu cầu sử dụng lao động có trình độ ngày càng tăng; đồng thời, tạo động lực để người lao động chủ động học tập, nâng cao kỹ năng và trình độ chuyên môn.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập cần được khắc phục.

Thứ nhất, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tuy tăng nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế hiện đại. Năm 2025, tỷ lệ này chỉ đạt 29,2%, đồng nghĩa với việc hơn 70% lao động chưa được đào tạo bài bản hoặc chưa có chứng chỉ nghề nghiệp chính thức (Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính, 11/02/2026). Điều này cho thấy, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường lao động trong thời đại chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Hai là, là tình trạng “lệch pha” giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Nhiều cơ sở đào tạo vẫn nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành và chưa gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Vì vậy, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp thiếu kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm và phải làm việc trái ngành hoặc khó tìm được việc làm phù hợp. Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trong thanh niên vẫn ở mức cao. Đáng chú ý, trong quý 4/2025, có khoảng 1,4 triệu thanh niên từ 15 – 24 tuổi không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo (chiếm 10,2% tổng số thanh niên) (Thu Hằng, 07/01/2026). Điều này phản ánh hiệu quả đào tạo chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và xã hội.

Ngoài ra, lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn, lên tới 63,1% tổng số lao động có việc làm trong năm 2025. Phần lớn những lao động này không có hợp đồng lao động ổn định, không được bảo đảm đầy đủ quyền lợi về bảo hiểm xã hội và điều kiện làm việc. Đây là biểu hiện cho thấy, chất lượng việc làm chưa cao và năng lực cạnh tranh của một bộ phận lao động sau đào tạo còn hạn chế. Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng vẫn ở mức gần 4%, tương đương hơn 2 triệu người (Cục Thống kê, 13/01/2026). Điều này cho thấy, vẫn tồn tại tình trạng dư thừa lao động cục bộ, đặc biệt ở khu vực nông thôn và nhóm lao động có trình độ thấp. Nếu không được đào tạo lại hoặc nâng cao kỹ năng, lực lượng lao động này sẽ khó thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.

Từ thực trạng trên có thể thấy, công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn không ít hạn chế. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, gắn với nhu cầu thực tiễn; tăng cường đào tạo kỹ năng nghề, kỹ năng số, ngoại ngữ và khả năng sáng tạo; đồng thời, đẩy mạnh liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.

4. Một số định hướng nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và cơ sở đào tạo.

Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ giảng viên và điều kiện bảo đảm đào tạo. Vì vậy, cần chú trọng xây dựng đội ngũ nhà giáo, chuyên gia và cán bộ quản lý giáo dục có trình độ chuyên môn cao, năng lực thực tiễn và khả năng thích ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Chú trọng đẩy mạnh bồi dưỡng kỹ năng sư phạm, năng lực ứng dụng công nghệ số, phương pháp giảng dạy hiện đại và tư duy đổi mới sáng tạo cho đội ngũ giảng viên. Người giảng viên không chỉ giữ vai trò truyền đạt tri thức mà còn là người định hướng, khơi gợi tư duy và truyền cảm hứng học tập, sáng tạo cho người học.

Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, phòng thí nghiệm, trung tâm thực hành và các nền tảng học tập số nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng hiện đại, thực tiễn và hội nhập quốc tế. Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng môi trường giáo dục chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các cơ sở đào tạo cần đẩy mạnh tự chủ giáo dục gắn với trách nhiệm giải trình và kiểm định chất lượng đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục. Qua đó, góp phần xây dựng hệ thống đào tạo hiện đại, linh hoạt và phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ mới.

Thứ hai, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo phát triển mạnh mẽ, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo trở thành yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà cần chuyển mạnh sang phát triển năng lực toàn diện của người học, lấy người học làm trung tâm của quá trình đào tạo. Theo đó, chương trình đào tạo cần được cập nhật theo hướng hiện đại, gắn với yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động và xu thế phát triển của xã hội. Người học không chỉ được trang bị kiến thức chuyên môn mà còn phải được rèn luyện tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, kỹ năng thích ứng và khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn trong môi trường làm việc hiện đại. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh các phương pháp đào tạo mang tính ứng dụng, như: học theo dự án, thực hành nghề nghiệp, trải nghiệm thực tế và tăng cường liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp. Đây là cơ sở để người học hình thành kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng lực làm việc và khả năng thích ứng sau đào tạo. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các nền tảng học tập trực tuyến vào quá trình dạy và học sẽ góp phần đổi mới mô hình giáo dục theo hướng linh hoạt, hiện đại và hiệu quả hơn. Qua đó, tạo điều kiện để người học chủ động tiếp cận tri thức, phát triển năng lực tự học và thích ứng nhanh với yêu cầu của nền kinh tế số và thị trường lao động toàn cầu

Thứ ba, chú trọng phát triển kỹ năng mềm và đạo đức nghề nghiệp.

Quá trình đào tạo cần chú trọng phát triển toàn diện cả kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cho người học. Bên cạnh năng lực chuyên môn, người học cần được rèn luyện các kỹ năng mềm thiết yếu, như: giao tiếp, làm việc nhóm, tư duy phản biện, sáng tạo, quản lý thời gian, khả năng thích ứng và giải quyết vấn đề thực tiễn. Đây là những kỹ năng giúp người lao động nâng cao hiệu quả công việc, chủ động trước sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Bên cạnh đó, nội dung quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực hiện nay cần giáo dục đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội. Người lao động không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải có tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, tác phong chuyên nghiệp, trung thực và tôn trọng các chuẩn mực đạo đức trong lao động và nghề nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đạo đức nghề nghiệp chính là nền tảng để xây dựng uy tín cá nhân, văn hóa tổ chức và niềm tin xã hội. Song song đó, tăng cường giáo dục lý tưởng sống, khát vọng cống hiến và trách nhiệm công dân nhằm hình thành lớp lao động không chỉ có năng lực mà còn có bản lĩnh, tinh thần đổi mới sáng tạo và ý thức đóng góp cho cộng đồng, xã hội và sự phát triển của đất nước. Đây cũng là yêu cầu quan trọng để xây dựng nguồn nhân lực vừa “hồng” vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay.

Thứ tư, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội và thị trường lao động.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và sự thay đổi nhanh chóng của cơ cấu ngành nghề, việc đào tạo không thể tách rời thực tiễn mà phải hướng đến đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. Các cơ sở đào tạo cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sử dụng lao động trong quá trình xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, thực tập và đánh giá năng lực người học. Việc phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ giúp chương trình đào tạo sát với thực tiễn nghề nghiệp mà còn góp phần hình thành kỹ năng làm việc, tác phong nghề nghiệp và khả năng thích ứng của người học ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Bên cạnh đó, cần chú trọng đào tạo theo nhu cầu của từng ngành nghề, từng lĩnh vực và xu hướng phát triển của nền kinh tế hiện đại, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao, chuyển đổi số, AI, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo. Đây là cơ sở để khắc phục tình trạng đào tạo chưa gắn với nhu cầu sử dụng lao động, hạn chế tình trạng dư thừa lao động ở một số ngành nhưng thiếu hụt lao động chất lượng cao ở nhiều lĩnh vực quan trọng. Việc gắn đào tạo với thị trường lao động sẽ giúp người học nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp, chủ động trước những biến động của thị trường việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường hội nhập quốc tế. Qua đó, góp phần xây dựng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và tư duy đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước hiện nay.

5. Kết luận

Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao không còn chỉ là vấn đề của riêng giáo dục và đào tạo mà đã trở thành yêu cầu chiến lược gắn với tương lai phát triển của đất nước. Sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu phải hình thành đội ngũ lao động có tri thức, kỹ năng, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng cao.

Những định hướng được nêu trong Văn kiện Đại hội XIV cho thấy, Đảng đặc biệt coi trọng vai trò của con người trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo cần được thực hiện đồng bộ từ nâng cao chất lượng giảng viên cơ sở đào tạo, đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo đến tăng cường liên kết với thực tiễn, chú trọng kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp. Đây không chỉ là điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn là cơ sở quan trọng để xây dựng nền kinh tế hiện đại, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong thời kỳ mới.

Tài liệu tham khảo:
1. Cục Thống kê (13/01/2026). Thị trường lao động, việc làm của Việt Nam năm 2025: những điểm sáng và hạn chế. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/thi-truong-lao-dong-viec-lam-cua-viet-nam-nam-2025-nhung-diem-sang-va-han-che
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Thu Hằng (07/01/2026).  Khoảng 1,06 triệu lao động thất nghiệp trong năm 2025. https://vneconomy.vn/khoang-106-trieu-lao-dong-that-nghiep-trong-nam-2025.htm
6. Nguyễn Tiệp (2005). Giáo trình quản trị nhân lực. H. NXB Lao động – Xã hội.
7. Nguyễn Thị Hồng Hải (2021). Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công. H. NXB Bách khoa Hà Nội.
8. Lê Thị Hiền (2023). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam. Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Thương mại.
8. Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính (11/02/2026). Nhìn lại thị trường lao động, việc làm ở nước ta năm 2025 và giải pháp phát triển năm 2026. https://nief.mof.gov.vn/kinh-te-xa-hoi/nhin-lai-thi-truong-lao-dong-viec-lam-o-nuoc-ta-nam-2025-va-giai-phap-phat-trien-nam-2026-11831.html