Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số: Động lực thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới

TS. Lê Sỹ Cương
Trường Sĩ quan Chính trị – Bộ Quốc phòng
Email: mauxanhaolinh2004@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Mục tiêu tăng trưởng hai con số được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược và khát vọng bứt phá mạnh mẽ của Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình kinh tế – xã hội trong nước còn nhiều khó khăn, bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động: xung đột địa chính trị, suy giảm thương mại toàn cầu, lạm phát cao và xu hướng bảo hộ gia tăng… Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số thường được nhìn nhận với tâm thế hoài nghi. Trong tình hình mới, cần làm rõ những luận chứng khoa học khẳng định đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước.

Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế; ảo tưởng; hai con số; mô hình tăng trưởng mới.

1. Đặt vấn đề

Đại Hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 – 2030 từ 10% trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500USD/năm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 25). Điều đó thể hiện quyết tâm chính trị của cả dân tộc Việt Nam muốn đẩy nhanh quá trình phát triển, rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến. Mục tiêu này không chỉ nhằm mở rộng quy mô nền kinh tế, nâng cao mức sống của người dân mà còn tạo dư địa tài chính cho đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố quốc phòng – an ninh. Đồng thời, đây là động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào năng suất, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.

2. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn

Về mặt lý thuyết, tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi 3 trụ cột cơ bản: vốn, lao động và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Trong đó, vốn phản ánh quy mô tích lũy tư bản vật chất và tài chính, còn lao động thể hiện quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực tham gia vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, đóng góp của hai yếu tố này có xu hướng giảm dần về tính quyết định, khi hiệu quả sử dụng chúng trở thành nhân tố then chốt. Chính vì vậy, TFP – đại diện cho trình độ công nghệ, phương thức tổ chức và hiệu quả phân bổ nguồn lực – ngày càng giữ vai trò trung tâm trong việc duy trì tăng trưởng cao và bền vững. Đồng thời, một thể chế minh bạch, ổn định sẽ làm giảm chi phí giao dịch và gia tăng niềm tin của các chủ thể kinh tế. Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng trở thành yếu tố quyết định, khi lao động không chỉ cần về số lượng mà quan trọng hơn là kỹ năng, tri thức và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Sự kết hợp hữu cơ giữa công nghệ tiên tiến, thể chế hiệu quả và nguồn nhân lực chất lượng cao chính là nền tảng để nâng cao TFP, qua đó bảo đảm nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong dài hạn.

Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế có thể đạt mức tăng trưởng rất cao nhờ tác động tổng hợp của nhiều yếu tố mang tính cấu trúc và động lực của nền kinh tế. Đó chính là sự kết hợp giữa chuyển dịch cơ cấu lao động, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn, khai thác lợi thế nhân khẩu học và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo nên động lực mạnh mẽ, giúp nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Về mặt thực tiễn, trong lịch sử thế giới, các quốc gia Đông Bắc Á, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và có thể cả Trung Quốc, đã làm nên “kỳ tích kinh tế”, “kỳ tích sông Hàn”, “thần kỳ Nhật Bản”. Nếu như các quốc gia châu Âu, Bắc Mỹ phải mất vài trăm năm thì các quốc gia Đông Bắc Á chỉ cần vài chục năm để chuyển từ nghèo sang giàu.

Bảng 1. Các con rồng châu Á giai đoạn tăng trưởng cao nhất

STTQuốc gia và vùng lãnh thỗGiai đoạnSố năm tăng > 10%Mức tăng cao nhất
1Nhật Bản1961 – 1973812,88
2Hàn Quốc1963 – 19941514,56
3Đài Loan1980 – 1992312,80
4Singapore1960 – 19921613,83
5Hồng Kông1960 – 19921015,76
6Trung Quốc1980 – 20121515,20

Từ bảng số liệu trên, có thể thấy hiện tượng tăng trưởng hai con số không chỉ xuất hiện ở một quốc gia riêng lẻ mà còn lặp lại ở nhiều nền kinh tế khác nhau, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông và Trung Quốc trong các giai đoạn công nghiệp hóa. Số năm đạt mức tăng trưởng trên 10% kéo dài từ vài năm đến hơn một thập kỷ, thậm chí lên tới 15-16 năm trong một số trường hợp, cho thấy đây là một xu hướng mang tính quy luật hơn là ngẫu nhiên. Mức tăng trưởng cao nhất dao động từ khoảng 12% đến trên 15% cũng phản ánh tiềm năng bứt phá mạnh mẽ khi nền kinh tế bước vào giai đoạn chuyển đổi cơ cấu sâu sắc.

Quan trọng hơn, các quốc gia và vùng lãnh thổ này đều có những điểm tương đồng về điều kiện phát triển như đẩy mạnh công nghiệp hóa hướng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nguồn nhân lực và cải cách thể chế. Điều đó chứng tỏ rằng tăng trưởng cao không phải là hiện tượng cá biệt mà là kết quả của sự hội tụ các yếu tố thuận lợi về vốn, lao động và đặc biệt là năng suất. Nói cách khác, khi một nền kinh tế tạo lập được môi trường chính sách phù hợp, khai thác hiệu quả lợi thế so sánh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thì việc đạt tốc độ tăng trưởng rất cao trong một giai đoạn nhất định là hoàn toàn khả thi và có thể lặp lại.

Như vậy, mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026 – 2030 mà Đảng đề ra đã vượt qua “bẫy tư duy trung bình”, vươn lên tầm “tư duy đột phá” để đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiễn vững chắc – thể hiện khát vọng về một Việt Nam giàu mạnh, thịnh vượng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

3. Tăng trưởng kinh tế hai con số: Động lực thúc đẩy mô hình tăng trưởng mới

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn dư địa tăng trưởng và cần xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Trong những thập niên gần đây, Việt Nam dựa nhiều vào lợi thế lao động dồi dào, chi phí thấp; tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào việc mở rộng đầu tư vốn và khai thác tài nguyên (đất đai, khoáng sản…). Mặc dù là quốc gia có tăng trưởng thuộc top cao nhất thế giới trong giai đoạn 1990 – 2023, nhưng Việt Nam chỉ có 13 năm tăng trưởng trên 7% và 8%; mức tăng cao nhất cũng chỉ đạt 9,54% (Đỗ Cao Bảo, 29/01/2024); năm 2024 tăng trưởng: 7,07%; năm 2025 tăng trưởng: 8,02% (Cục Thống kê, 05/01/2026). Những con số trên cho thấy, giai đoạn tăng trưởng cao nhất của Việt Nam vẫn thấp hơn rất nhiều so với giai đoạn tăng trưởng cao nhất của các con “Rồng châu Á”. Động lực tăng trưởng của Việt Nam vẫn thấp hơn động lực của các con rồng châu Á một bậc. Nếu muốn trở thành “kỳ tích châu Á” tiếp theo thì trong thời gian tới, Việt Nam phải tạo ra một động lực tăng trưởng mới mạnh mẽ hơn rất nhiều; tất nhiên, cần phải phát huy tối đa nội lực của đất nước, đồng thời tận dụng tốt các cơ hội từ bên ngoài.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song nền kinh tế Việt Nam vẫn còn không ít dư địa tăng trưởng cần được khai thác hiệu quả hơn. Trước hết, tỷ lệ kinh tế số trong GDP của Việt Nam tuy tăng nhanh nhưng vẫn ở mức khiêm tốn so với tiềm năng và xu thế phát triển của thế giới. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 13,2%; năm 2025 đạt 14,02%. Trong khi đó, con số này vào năm 2023 ở Trung Quốc là 42,8%; Singapore: 56%… và theo dự báo của Forrester, nền kinh tế số toàn cầu sẽ chiếm khoảng 17% GDP vào năm 2028, tương đương 16,5 nghìn tỷ USD (Phan Anh Thư, 10/7/2025). Điều này cho thấy, không gian mở rộng trong các lĩnh vực, như: thương mại điện tử, chuyển đổi số doanh nghiệp và kinh tế nền tảng ở Việt Nam còn rất lớn.

Bên cạnh đó, năng suất lao động của Việt Nam đã được cải thiện nhưng vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Nếu tính bằng USD theo phương thức sức mua tương đương, năng suất lao động của Việt Nam năm 2024 đạt 25.850 USD/người, đứng vị trí thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á (thấp hơn Singapore, Brunei, Malaysia, Thái Lan, Indonesia), bằng khoảng 60% Thái Lan, 40-45% Malaysia và chỉ khoảng 10-12% Singapore (Tăng Văn Khiên, 13/02/2026). Điều này đồng nghĩa với việc dư địa để nâng cao năng suất lao động thông qua ứng dụng khoa học – công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải tiến quản trị ở Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển mạnh mẽ.

Như vậy, nền kinh tế của Việt Nam không phải “hết dư địa tăng trưởng” mà là đã hết dư địa tăng trưởng theo mô hình cũ (lao động rẻ, vốn lớn, khai thác tài nguyên…) Vì vậy, trong giai đoạn tới, cần phải “xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện địa hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 90).

Thứ hai, năng lực quản trị và điều hành chính sách quyết định tăng trưởng ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững.

Tăng trưởng kinh tế nhanh nếu thiếu kiểm soát hợp lý, có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với ổn định vĩ mô. Thực tiễn quốc tế cho thấy, tăng trưởng “nóng” thường đi kèm với áp lực lạm phát gia tăng khi tổng cầu vượt quá khả năng cung ứng của nền kinh tế. Đồng thời, dòng vốn dồi dào có thể chảy mạnh vào các thị trường tài sản, như: bất động sản, chứng khoán, từ đó hình thành các “bong bóng” giá và làm gia tăng nguy cơ đổ vỡ tài chính khi thị trường đảo chiều. Bên cạnh đó, việc mở rộng đầu tư quá mức, đặc biệt là đầu tư công kém hiệu quả, có thể dẫn tới mất cân đối ngân sách, gia tăng nợ công và gây sức ép lên ổn định kinh tế vĩ mô trong dài hạn. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không nằm ở tốc độ tăng trưởng cao mà ở chất lượng điều hành và sự phối hợp của chính sách kinh tế vĩ mô. Nếu các công cụ chính sách được sử dụng một cách chủ động, linh hoạt và đồng bộ, tăng trưởng nhanh hoàn toàn có thể đi đôi với sự ổn định.

Thực tiễn Việt Nam, Nhà nước đã phối hợp tương đối hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo hướng vừa hỗ trợ phục hồi, vừa kiểm soát rủi ro. Chính sách tiền tệ được điều hành thận trọng, kiểm soát lạm phát dưới mức mục tiêu đề ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế phục hồi sau đại dịch Covid-19. Năm 2022, tăng trưởng đạt 8,02% (mức cao nhất trong hơn 10 năm, giai đoạn 2011 – 2012), nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2022 chỉ tăng 3,15% so với năm 2021. Trong khi đó, chính sách tài khóa được triển khai có trọng tâm, tăng cường kỷ luật ngân sách, kiểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách và mức nợ công.

Theo Bộ Tài chính, gói phục hồi kinh tế 2022 – 2023 (khoảng 350.000 tỷ đồng) tập trung vào nhiệm vụ giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% và tăng chi cho đầu tư công, tuy nhiên, vẫn bảo đảm bội chi ngân sách khoảng 4% GDP; nợ công khoảng 37-38% (thấp hơn nhiều so với mức trần 60% mà Quốc hội cho phép). Nhờ đó, Việt Nam không chỉ duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao trong khu vực mà còn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và nền tảng cho phát triển bền vững. Điều này cho thấy, tăng trưởng cao không phải là nguyên nhân trực tiếp gây bất ổn mà năng lực quản trị và điều hành chính sách mới là yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa tăng trưởng thành phát triển ổn định và bền vững.

Thứ ba, bối cảnh thế giới nhiều biến động, kinh tế toàn cầu suy giảm tạo ra cơ hội và thách thức đối với các nền kinh tế phát triển, trong đó có Việt Nam.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa bước vào giai đoạn điều chỉnh sâu sắc, môi trường quốc tế hiện nay được đặc trưng bởi tính bất định gia tăng, phản ánh qua cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, dẫn đến biến động thương mại và đứt gãy chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, xét trên phương diện kinh tế học phát triển, chính sự bất định này lại tạo ra cả thách thức lẫn cơ hội cho các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Một mặt, các cú sốc bên ngoài có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, đầu tư và ổn định vĩ mô; mặt khác, thúc đẩy quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu theo hướng đa dạng hóa và phân tán rủi ro.

Trong xu thế đó, nhiều tập đoàn đa quốc gia đang điều chỉnh chiến lược sản xuất, chuyển dịch cơ sở sản xuất sang các quốc gia có môi trường chính trị ổn định, chi phí cạnh tranh và khả năng hội nhập sâu rộng vào các mạng lưới thương mại quốc tế. Việt Nam với lợi thế về ổn định chính trị, vị trí địa lý và kinh tế thuận lợi, lực lượng lao động dồi dào và hệ thống các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đang nổi lên như một điểm đến hấp dẫn trong làn sóng dịch chuyển này. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam vẫn duy trì xu hướng tích cực, đặc biệt trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo và công nghệ cao.

Biểu đồ 1. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện các năm 2021-2025 (tỷ USD)

Nguồn: Ngân Hà. Vốn FDI thực hiện năm 2025 lập kỷ lục cao nhất trong vòng 5 năm. https://vneconomy.vn/von-fdi-thuc-hien-nam-2025-lap-ky-luc-cao-nhat-trong-vong-5-nam.htm, ngày 06/01/2026.

Nếu tận dụng hiệu quả cơ hội từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam có khả năng thu hút một làn sóng đầu tư mới với quy mô và chất lượng cao hơn, qua đó thúc đẩy mở rộng sản xuất, gia tăng kim ngạch xuất khẩu và nâng cao năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, quá trình này còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận và lan tỏa công nghệ, nâng cao trình độ quản trị và chất lượng nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, tăng trưởng kinh tế hoàn toàn có thể được cải thiện mạnh mẽ, thậm chí đạt các mức cao trong điều kiện chính sách được điều hành hiệu quả và môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Điều này khẳng định, trong một thế giới đầy biến động, năng lực thích ứng và tận dụng cơ hội chính là yếu tố quyết định để chuyển hóa thách thức thành động lực cho tăng trưởng bền vững.

4. Kết luận

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Đảng ta không phải là sự duy ý chí hay ảo tưởng, mà được đặt trên nền tảng vững chắc của cả cơ sở lý luận lẫn thực tiễn. Đó là sự vận dụng sáng tạo các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật tích lũy, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất; cùng với những thành tựu tăng trưởng cao trong các giai đoạn trước, cũng như tiềm năng về cơ cấu dân số, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, đã tạo tiền đề khả thi cho mục tiêu này.

Tài liệu tham khảo:
Đỗ Cao Bảo (29/01/2024). Con đường để Việt Nam trở thành kỳ tích Châu Á. Vietnamnet. https://vietnamnet.vn/con-duong-de-viet-nam-tro-thanh-ky-tich-chau-a-2242228.html.
Cục Thống kê (05/01/2026). Báo cáo số 01/BC-CTK tình hình kinh tế– xã hội Quý IV và năm 2025, Hà Nội.
Cục Thống kê (05/01/2026). Thông cáo báo chí về tỷ trọng giá trị gia tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ngân Hà (06/01/2026). Vốn FDI thực hiện năm 2025 lập kỷ lục cao nhất trong vòng 5 năm. VnEcomomy. https://vneconomy.vn/von-fdi-thuc-hien-nam-2025-lap-ky-luc-cao-nhat-trong-vong-5-nam.htm.
Tăng Văn Khiên (13/02/2026). Năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2021–2025. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam điện tử. https://vjst.vn/nang-suat-lao-dong-cua-viet-nam-giai-doan-2021-2025-82673.html
Tổng cục Thống kê (29/12/2023). Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2023, Hà Nội.
Phan Anh Thư (10/7/2025). Tỷ trọng kinh tế số trong GDP: xu hướng và thách thức toàn cầu. Bộ Khoa học và Công nghệ. https://vista.gov.vn/vi/news/khoa-hoc-nhan-van/ty-trong-kinh-te-so-trong-gdp-xu-huong-va-thach-thuc-toan-cau-11149.html.