Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới

Renewing the Party’s modes of leadership in the new era of development

Nguyễn Ngọc Mạnh Cường
Đảng ủy xã Đông Thạnh, TP. Hồ Chí Minh
Email: nnmanhcuong@icloud.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung nhận diện những vấn đề cốt lõi đặt ra đối với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Từ góc tiếp cận triết học chính trị, bài viết xem phương thức lãnh đạo như cơ chế chuyển hóa vai trò lãnh đạo thành năng lực cầm quyền và kết quả phát triển. Trên cơ sở bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, bài viết nhận diện các vấn đề trọng tâm: đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo; chuyển từ chỉ đạo sang kiến tạo thể chế và tổ chức thực hiện; phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; đổi mới công tác cán bộ; tăng cường mối quan hệ với Nhân dân; nâng cao năng lực dự báo, thích ứng và tự chủ chiến lược. Qua đó, góp phần làm rõ những yêu cầu căn bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả phát triển đất nước.

Từ khóa: Đổi mới phương thức lãnh đạo; Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ nguyên phát triển mới.

Abstract: This article focuses on identifying the core issues arising from the renewal of the Party’s leadership methods in the new era of national development. From a political philosophy perspective, the article conceptualizes leadership methods as a mechanism for translating the Party’s leadership role into governing capacity and development outcomes. Against the backdrop of implementing the Resolution of the 14th National Party Congress and organizing a two-tier local government system, the article identifies several key issues: renewing thinking and leadership methods; shifting from directive leadership to institutional development and effective implementation; decentralization and delegation of authority in conjunction with power control and accountability; reforming cadre and personnel work; strengthening the relationship with the People; and enhancing forecasting, adaptability, and strategic autonomy. Accordingly, the article contributes to clarifying the fundamental requirements for strengthening leadership capacity, governing capacity, and the effectiveness of national development.

Keywords: Renewal of the Party’s leadership methods; Communist Party of Vietnam; new era of national development.

1. Đặt vấn đề

Đổi mới phương thức lãnh đạo là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Nếu đường lối là sự lựa chọn con đường phát triển, thì phương thức lãnh đạo là cách thức để Đảng biến đường lối thành hiện thực. Vì vậy, chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng không chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn của đường lối, chủ trương, mà còn phụ thuộc trực tiếp vào cách thức Đảng xác lập sự lãnh đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong quá trình hiện thực hóa đường lối. Từ góc độ xây dựng Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo vì thế không phải là vấn đề kỹ thuật tổ chức đơn thuần, mà là một phương diện trực tiếp của đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, phương thức lãnh đạo của Đảng luôn vận động cùng với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển. Khi nhiệm vụ, cơ cấu xã hội, trình độ dân trí, phương thức tổ chức quyền lực và điều kiện phát triển của đất nước thay đổi, phương thức lãnh đạo cũng phải được đổi mới tương ứng. Nếu phương thức lãnh đạo không theo kịp sự biến đổi của thực tiễn, những ưu thế về chính trị và tổ chức của Đảng có thể không được chuyển hóa đầy đủ thành năng lực hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện và giải quyết những vấn đề mới nảy sinh. Do đó, đổi mới phương thức lãnh đạo vừa là yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển đất nước, vừa là yêu cầu tự thân của công tác xây dựng Đảng cầm quyền.

Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết. Đất nước đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới, với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tinh gọn tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Việc tổ chức vận hành chính quyền địa phương 02 cấp càng làm nổi bật yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng rõ chức năng, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và rõ cơ chế kiểm soát quyền lực, khắc phục tình trạng chồng chéo, bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo. Trong điều kiện đó, phương thức lãnh đạo của Đảng phải vừa bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của tổ chức đảng, chính quyền và đội ngũ cán bộ ở từng cấp.

Từ cách tiếp cận xây dựng Đảng, vấn đề cốt lõi đặt ra không chỉ là Đảng lãnh đạo như thế nào để hệ thống chính trị vận hành hiệu quả, mà sâu xa hơn là làm thế nào để phương thức lãnh đạo trở thành một bộ phận của cơ chế tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự kiểm soát và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ và xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý; giữa tập trung dân chủ và phát huy tính chủ động, sáng tạo; giữa phân cấp, phân quyền và kiểm soát quyền lực; giữa lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối với thể chế hóa và tổ chức thực hiện; giữa yêu cầu giữ vững kỷ luật, kỷ cương với phát huy dân chủ và trách nhiệm giải trình.

Đặc biệt, phương thức lãnh đạo phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Một phương thức lãnh đạo phù hợp không chỉ giúp chủ trương được thực hiện đúng, mà còn góp phần ngăn ngừa nguy cơ quan liêu, xa dân, bao biện, làm thay; đồng thời tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên phát huy trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Vì vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng tới mục tiêu kép: nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng; đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả tự xây dựng, tự chỉnh đốn Đảng.

Từ đó, có thể đặt vấn đề nghiên cứu ở chiều sâu hơn: trong kỷ nguyên phát triển mới, phương thức lãnh đạo hiện hành của Đảng đang đứng trước những yêu cầu đổi mới nào; đâu là những vấn đề cốt lõi cần tiếp tục nhận diện và giải quyết; và cần đổi mới như thế nào để phương thức lãnh đạo vừa giữ vững nguyên tắc, bản chất và vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa đáp ứng yêu cầu của một nền quản trị hiện đại, Nhà nước pháp quyền và xã hội phát triển nhanh, năng động? Trả lời những vấn đề đó không chỉ nhằm hoàn thiện phương thức lãnh đạo, mà sâu xa hơn là góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

2. Tính tất yếu của việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay trước hết xuất phát từ sự biến đổi của chính thực tiễn phát triển đất nước và yêu cầu nâng cao năng lực cầm quyền trong một điều kiện lịch sử mới. Nếu quyền lực chính trị chỉ được nhìn nhận như khả năng định hướng và ra quyết định thì phương thức lãnh đạo có thể dừng lại ở việc truyền đạt chủ trương; nhưng nếu quyền lực được nhìn nhận như năng lực kiến tạo và tổ chức một trật tự phát triển, thì phương thức lãnh đạo phải được đánh giá bằng khả năng chuyển hóa đường lối thành thể chế, chính sách, hành động và kết quả thực tiễn. Theo nghĩa đó, đổi mới phương thức lãnh đạo không phải là sự thay đổi mang tính kỹ thuật, mà là yêu cầu tự thân của quá trình hoàn thiện năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống Nhân dân và đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; đồng thời tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Đây là sự khẳng định rằng năng lực cầm quyền trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào sự đúng đắn của đường lối, mà còn phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lực tổ chức thực hiện, năng lực kiến tạo thể chế và khả năng tự đổi mới của hệ thống chính trị.

Từ góc độ xây dựng Đảng, sự tất yếu của đổi mới phương thức lãnh đạo có thể được lý giải trên bốn phương diện cơ bản.

Thứ nhất, đổi mới phương thức lãnh đạo là tất yếu từ yêu cầu phát triển của chính năng lực cầm quyền. Trong quá trình vận động của một đảng cầm quyền, quyền lực không phải là một thực thể bất biến mà luôn phải thích ứng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế, xã hội, công nghệ và cấu trúc lợi ích. Phương thức lãnh đạo phù hợp ở một giai đoạn lịch sử nhất định không nhất thiết còn phù hợp hoàn toàn ở giai đoạn tiếp theo. Từ cách tiếp cận này, đổi mới phương thức lãnh đạo chính là một hình thức tự phủ định biện chứng: kế thừa những nguyên tắc nền tảng, đồng thời loại bỏ những phương thức không còn phù hợp để hình thành năng lực lãnh đạo mới. Tổng Bí thư Tô Lâm xác định kỷ nguyên mới đòi hỏi phải khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, phát huy nguồn lực con người, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo động lực phát triển mới (Tô Lâm, 2024).

Thứ hai, đổi mới phương thức lãnh đạo là tất yếu từ yêu cầu chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số, Nhà nước không thể chỉ vận hành bằng mệnh lệnh hành chính; đồng thời, Đảng cũng không thể lãnh đạo chủ yếu bằng sự chỉ đạo trực tiếp đối với từng hoạt động cụ thể. Cương lĩnh và các văn kiện của Đảng từ lâu đã xác định Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, định hướng chính sách, công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng sự nêu gương; Đảng không làm thay công việc của Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991/2005). Về bản chất, đây là sự phân định giữa quyền lực định hướng chính trị và quyền lực quản lý nhà nước, qua đó bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

Trong bối cảnh mới, nguyên tắc đó cần được phát triển lên một trình độ cao hơn: Đảng lãnh đạo bằng tầm nhìn chiến lược và thiết kế thể chế; Nhà nước quản trị bằng pháp luật, chính sách và năng lực tổ chức thực hiện; Nhân dân tham gia, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Vì vậy, thước đo của phương thức lãnh đạo không nên chỉ là số lượng chủ trương, nghị quyết được ban hành, mà phải là khả năng biến chủ trương thành thể chế, thể chế thành hành động và hành động thành kết quả phát triển.

Thứ ba, sự hình thành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp tạo ra yêu cầu trực tiếp phải đổi mới phương thức lãnh đạo. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 xác lập mô hình chính quyền địa phương gồm hai cấp: cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời nhấn mạnh các nguyên tắc tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, gần Nhân dân, phục vụ Nhân dân, phân định rõ thẩm quyền, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp và gắn trách nhiệm giải trình với kiểm soát quyền lực (Quốc hội, 2025).

Sự thay đổi này không đơn thuần là việc bỏ một cấp hành chính, mà sâu xa hơn là tái cấu trúc không gian thực thi quyền lực công. Khi cấp huyện không còn, khoảng cách giữa chủ trương và cơ sở được rút ngắn; quyền hạn và trách nhiệm của cấp xã được mở rộng; đồng thời yêu cầu đối với cấp ủy, chính quyền cơ sở về năng lực quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm cũng cao hơn. Vì vậy, phương thức lãnh đạo phải chuyển từ tư duy “quản lý theo tầng nấc” sang “lãnh đạo và quản trị theo chức năng, thẩm quyền, địa bàn và kết quả”. Quyền lực được phân cấp mạnh hơn phải đi liền với trách nhiệm rõ hơn; quyền tự chủ cao hơn phải gắn với kiểm tra, giám sát và giải trình chặt chẽ hơn. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã đặt ra yêu cầu “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, đồng thời bảo đảm quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả (Quốc hội, 2025).

Thứ tư, đổi mới phương thức lãnh đạo là tất yếu từ yêu cầu củng cố mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân và tính chính danh của quyền lực. Tổng thể, mọi quyền lực đều phải trả lời câu hỏi: quyền lực tồn tại vì ai và được kiểm chứng bởi ai? Đối với Đảng cầm quyền, tính chính danh không chỉ được củng cố bởi lịch sử và lý tưởng, mà còn được tái tạo thông qua năng lực giải quyết những vấn đề của đời sống hiện tại. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời yêu cầu tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Do đó, phương thức lãnh đạo trong kỷ nguyên mới phải tạo lập được sự thống nhất giữa quyền lãnh đạo, trách nhiệm cầm quyền và khả năng chịu sự kiểm chứng của thực tiễn xã hội. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể tham gia, giám sát và đánh giá hiệu quả của quyền lực. Khi sự hài lòng, niềm tin và chất lượng cuộc sống của Nhân dân trở thành những chỉ dấu quan trọng của hiệu quả quản trị, phương thức lãnh đạo sẽ chuyển từ logic “ra quyết định” sang logic “tạo ra giá trị công”.

Từ những phương diện trên, có thể khẳng định đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng hiện nay là một tất yếu lịch sử, chính trị và lý luận. Đó là quá trình chuyển hóa từ phương thức lãnh đạo phù hợp với cơ chế quản lý truyền thống sang phương thức lãnh đạo hiện đại, dựa trên chiến lược, thể chế, pháp quyền, phân quyền, kiểm soát quyền lực, dữ liệu, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của Nhân dân. Trong điều kiện thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết: bộ máy có thể được tinh gọn về cấu trúc, nhưng phương thức lãnh đạo phải được nâng cao về chất lượng; quyền lực có thể được phân cấp rộng hơn, nhưng trách nhiệm phải được xác lập rõ hơn; khoảng cách hành chính có thể được rút ngắn, nhưng khoảng cách giữa chủ trương và kết quả phải tiếp tục được thu hẹp. Đây chính là điều kiện để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và tạo nền tảng thể chế cho đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

3. Một số nội dung cốt lõi của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới cần được nhìn nhận không chỉ như sự điều chỉnh về cách thức chỉ đạo, điều hành mà sâu xa hơn là sự đổi mới logic vận hành của quyền lực chính trị. Nếu quyền lực là khả năng định hướng và tổ chức đời sống xã hội, thì phương thức lãnh đạo chính là cơ chế chuyển hóa quyền lực thành thể chế, chính sách, hành động và kết quả phát triển. Vì vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo thực chất là làm cho quyền lực được vận hành khoa học hơn, gần dân hơn, có trách nhiệm hơn và được kiểm chứng thường xuyên hơn bằng thực tiễn. Sáu nội dung sau đây tạo thành một chỉnh thể thống nhất.

Thứ nhất, chuyển từ lãnh đạo bằng ý chí sang lãnh đạo bằng thể chế, kiến tạo và hiệu quả thực chứng.

Trong điều kiện phát triển mới, ý chí chính trị vẫn là điểm xuất phát của lãnh đạo, nhưng không thể tự mình tạo ra kết quả nếu không được chuyển hóa thành thể chế và năng lực tổ chức thực hiện. Khoảng cách giữa một chủ trương đúng và một kết quả đúng chính là khoảng cách giữa ý chí chính trị và năng lực thể chế hóa, tổ chức thực thi. Do đó, phương thức lãnh đạo cần chuyển từ tư duy “đưa ra chủ trương” sang tư duy “thiết kế hệ thống”: dự báo vấn đề, xác lập mục tiêu, thiết kế thể chế, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện, kiểm tra kết quả và điều chỉnh chính sách. Đây là sự chuyển dịch từ quyền lực được khẳng định bằng ý chí sang quyền lực được chứng minh bằng năng lực kiến tạo trật tự phát triển. Một nghị quyết chỉ thực sự trở thành sức mạnh vật chất khi được thể chế hóa thành quy tắc rõ ràng, được tổ chức thực hiện nhất quán và tạo ra những kết quả có thể kiểm chứng. Bởi vậy, hiệu quả thực tiễn phải trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực lãnh đạo. Đổi mới phương thức lãnh đạo cũng phải gắn với quản trị dựa trên dữ liệu, dự báo, đánh giá tác động và phản hồi xã hội, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa “chủ trương” và “kết quả”.

Thứ hai, tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” bằng đổi mới thể chế và hoàn thiện quan hệ giữa lãnh đạo chính trị với quản trị nhà nước.

Một trong những giới hạn của quá trình phát triển là sự không đồng bộ giữa chủ trương chính trị, thể chế pháp luật và năng lực thực thi. Khi một chủ trương chưa được thể chế hóa kịp thời hoặc các quy định pháp luật còn chồng chéo, quyền lực chính trị có thể đúng về định hướng nhưng không đủ năng lực chuyển hóa thành hành động. Vì vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo phải bắt đầu từ việc rút ngắn khoảng cách giữa quyết định chính trị và thiết kế thể chế.

Cải cách thể chế vì thế không nên được hiểu đơn thuần là sửa đổi từng văn bản pháp luật, mà phải được đặt trong tư duy tái cấu trúc hệ thống. Mỗi chính sách cần được xem xét đồng thời ở các phương diện: thẩm quyền quyết định, nguồn lực thực hiện, trách nhiệm của chủ thể, cơ chế phối hợp, kiểm soát quyền lực và khả năng đánh giá kết quả. Pháp quyền trong điều kiện đó không phải là sự giới hạn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, mà là phương thức để thể chế hóa, minh bạch hóa và ổn định hóa việc thực thi quyền lực. Đặc biệt, trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, yêu cầu hoàn thiện thể chế phải gắn với tổ chức thực hiện. Không thể tiếp tục tồn tại tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, chủ trương đã rõ nhưng triển khai chậm, hoặc trách nhiệm bị phân tán giữa nhiều cơ quan. Đổi mới phương thức lãnh đạo vì vậy phải hướng tới một chu trình khép kín: Đảng định hướng – Nhà nước thể chế hóa – hệ thống chính trị tổ chức thực hiện – Nhân dân giám sát – thực tiễn kiểm nghiệm – chính sách được điều chỉnh.

Thứ ba, phân cấp, phân quyền để giải phóng năng lực hành động, đồng thời kiểm soát quyền lực để giữ vững kỷ cương.

Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp tạo ra yêu cầu đặc biệt đối với phương thức lãnh đạo. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 xác lập mô hình chính quyền địa phương gồm cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời yêu cầu phân định rõ thẩm quyền, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, gắn quyền hạn với trách nhiệm và bảo đảm kiểm soát quyền lực. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về cơ cấu hành chính mà là sự tái cấu trúc không gian thực thi quyền lực công. Khi cấp huyện không còn, quyền lực quản trị được tổ chức gần hơn với người dân; cấp xã được trao thêm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm. Điều đó đòi hỏi phương thức lãnh đạo phải thay đổi tương ứng: từ tư duy lãnh đạo theo tầng nấc sang lãnh đạo theo chức năng, thẩm quyền và kết quả.

Phân quyền phải đi cùng với nguồn lực; quyền hạn phải đi cùng với trách nhiệm; trách nhiệm phải đi cùng cơ chế kiểm soát. Luật cũng xác định rõ việc phân định thẩm quyền phải bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và có cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra để điều chỉnh khi việc phân quyền, phân cấp không đạt hiệu quả. Do đó, phân cấp và kiểm soát quyền lực là hai mặt biện chứng của cùng một quá trình. Phân cấp mà thiếu kiểm soát có thể dẫn đến phân tán quyền lực; kiểm soát quá mức mà thiếu phân quyền lại có thể gây trì trệ, né tránh trách nhiệm. Phương thức lãnh đạo hiện đại phải tạo được trạng thái cân bằng giữa tự chủ và kỷ luật, giữa sáng tạo và kiểm soát, giữa quyền quyết định và trách nhiệm giải trình.

Thứ tư, đổi mới công tác cán bộ, lấy con người thực thi quyền lực làm trung tâm của đổi mới phương thức lãnh đạo.

Phương thức lãnh đạo dù được thiết kế khoa học đến đâu cũng không thể tạo ra kết quả nếu đội ngũ cán bộ thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm hoặc thiếu bản lĩnh đổi mới. Công tác cán bộ vì thế không phải là một nội dung bên cạnh đổi mới phương thức lãnh đạo mà là điều kiện nội tại quyết định khả năng hiện thực hóa phương thức lãnh đạo mới.

Trong kỷ nguyên phát triển dựa ngày càng nhiều vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tiêu chuẩn cán bộ không thể chỉ dừng ở bằng cấp, kinh nghiệm hay thâm niên mà phải được đánh giá bằng năng lực tư duy chiến lược, khả năng giải quyết vấn đề, năng lực tổ chức thực hiện, khả năng phối hợp liên ngành và trách nhiệm đối với kết quả công việc. Cần chuyển mạnh từ đánh giá theo “đầu vào” sang đánh giá theo sản phẩm, kết quả và giá trị tạo ra. Đặc biệt, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi đội ngũ cán bộ cấp xã phải được nâng cao cả về năng lực pháp lý, quản trị, chuyển đổi số, tổ chức thực hiện chính sách và tương tác với người dân. Khi quyền lực được đưa gần cơ sở hơn, yêu cầu đối với phẩm chất và năng lực của người thực thi quyền lực cũng cao hơn. Vì vậy, đổi mới công tác cán bộ phải gắn với bố trí đúng người, đúng việc, trao quyền tương xứng, đánh giá bằng kết quả và bảo đảm cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng.

Thứ năm, lấy Nhân dân làm trung tâm và là thước đo tối hậu của quyền lực.

Câu hỏi căn bản đối với mọi quyền lực là: quyền lực tồn tại vì ai và được kiểm chứng bởi ai? Với Đảng cầm quyền, tính chính danh của quyền lực không chỉ được củng cố bởi lịch sử và lý tưởng, mà còn phải được tái xác lập trong đời sống hiện tại thông qua năng lực đáp ứng lợi ích chính đáng của Nhân dân. Vì vậy, lấy Nhân dân làm trung tâm không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu, mà phải trở thành nguyên tắc tổ chức và kiểm soát quyền lực. Mọi chủ trương, chính sách phải được xem xét từ tác động đối với đời sống người dân; mọi cải cách bộ máy phải hướng tới nâng cao chất lượng phục vụ; mọi quyết định quản lý phải được kiểm chứng bằng mức độ thuận tiện, công bằng, an toàn và cơ hội phát triển mà người dân thực sự nhận được.

Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu này càng rõ nét. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 xác định chính quyền địa phương phải gần Nhân dân, phục vụ Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân. Điều đó mở ra một cách tiếp cận mới: chính quyền không chỉ “quản lý địa bàn” mà còn phải đồng kiến tạo giá trị phát triển với người dân và cộng đồng. Do đó, niềm tin xã hội phải được xem như một dạng “vốn chính trị” của năng lực cầm quyền. Khi người dân tin tưởng, tham gia và đồng thuận, chi phí thực thi chính sách giảm xuống và năng lực phát triển của xã hội được mở rộng. Ngược lại, khi khoảng cách giữa chính sách và đời sống gia tăng, quyền lực có thể vẫn hợp pháp về phương diện thể chế nhưng suy giảm về sức thuyết phục trong xã hội. Bởi vậy, hiệu quả thực chất, sự hài lòng và niềm tin của Nhân dân cần trở thành những chỉ dấu quan trọng để đánh giá phương thức lãnh đạo.

Thứ sáu, kết hợp tự chủ chiến lược với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kỷ nguyên phát triển mới diễn ra trong một thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gay gắt, chuyển dịch công nghệ mạnh mẽ và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc. Trong điều kiện đó, đổi mới phương thức lãnh đạo phải giải quyết đồng thời hai yêu cầu tưởng như đối lập nhưng thực chất thống nhất biện chứng: giữ vững tự chủ chiến lược và chủ động hội nhập quốc tế.

Tự chủ chiến lược không đồng nghĩa với khép kín mà là khả năng tự xác định lợi ích quốc gia, lựa chọn con đường phát triển và chủ động ứng phó với các biến động bên ngoài. Hội nhập cũng không đồng nghĩa với phụ thuộc mà là quá trình khai thác có chọn lọc các nguồn lực bên ngoài để củng cố nội lực. Vì vậy, phương thức lãnh đạo trong kỷ nguyên mới phải có khả năng kết nối sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nội lực với ngoại lực, kết hợp lợi ích quốc gia với trách nhiệm quốc tế. Đây là sự thống nhất giữa tự chủ và hội nhập, giữa ổn định và đổi mới, giữa nguyên tắc và linh hoạt. Một hệ thống lãnh đạo trưởng thành không phải là hệ thống không thay đổi mà là hệ thống có khả năng thay đổi phương thức để bảo vệ những giá trị và mục tiêu cốt lõi trong những điều kiện lịch sử luôn biến đổi.

Từ sáu phương diện trên có thể thấy, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới thực chất là quá trình hiện đại hóa năng lực cầm quyền. Đó là sự chuyển từ lãnh đạo chủ yếu bằng chỉ đạo sang lãnh đạo bằng chiến lược và thể chế; từ quản lý theo tầng nấc sang quản trị theo chức năng và kết quả; từ tập trung quyền lực sang phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát; từ đánh giá cán bộ theo hình thức sang đánh giá bằng năng lực và sản phẩm; từ coi Nhân dân là đối tượng phục vụ sang xác lập Nhân dân là chủ thể và thước đo của quyền lực; từ hội nhập thụ động sang hội nhập chủ động trên nền tảng tự chủ chiến lược.

Như vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo không làm thay đổi bản chất của vai trò lãnh đạo của Đảng mà làm cho vai trò ấy được thực hiện bằng những phương thức phù hợp hơn với trình độ phát triển mới của đất nước. Trong điều kiện thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu cao nhất là làm cho quyền lực được tổ chức khoa học, được phân bổ hợp lý, được kiểm soát chặt chẽ và được chứng minh bằng kết quả phát triển. Đó chính là biểu hiện của một phương thức lãnh đạo trưởng thành: kiên định về mục tiêu nhưng đổi mới về phương thức; thống nhất về chiến lược nhưng linh hoạt trong tổ chức thực hiện; mạnh mẽ trong phân quyền nhưng nghiêm minh trong kiểm soát và trên hết, lấy sự phát triển của đất nước, hạnh phúc của Nhân dân và lợi ích quốc gia – dân tộc làm điểm quy chiếu cuối cùng của quyền lực chính trị.

4. Kết luận

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng không chỉ là một yêu cầu mang tính kỹ thuật trong tổ chức và điều hành, mà là một tất yếu lịch sử gắn với sự phát triển của đất nước và vận mệnh của chế độ. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cao, nếu phương thức lãnh đạo không được hiện đại hóa, thích ứng và nâng tầm, thì đường lối đúng đắn cũng khó có thể chuyển hóa trọn vẹn thành thành tựu thực tiễn.

Những nội dung đổi mới – từ chuyển sang lãnh đạo kiến tạo và hành động; hoàn thiện thể chế, tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn”; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; đổi mới công tác tổ chức, cán bộ và xây dựng Đảng; lấy Nhân dân làm trung tâm; đến gắn tự chủ chiến lược với hội nhập quốc tế – không tách rời nhau, mà hợp thành một chỉnh thể thống nhất. Đó là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức lãnh đạo trên nền tảng pháp quyền, trách nhiệm giải trình, hiệu quả thực thi và sự giám sát của xã hội.

Sâu xa hơn, đổi mới phương thức lãnh đạo là quá trình làm sâu sắc thêm tính chính danh của quyền lực chính trị. Tính chính danh ấy không chỉ bắt nguồn từ lịch sử và lý tưởng cách mạng mà được củng cố bằng hiệu quả phát triển, bằng chất lượng cuộc sống của Nhân dân và bằng năng lực tự điều chỉnh của hệ thống. Khi quyền lực được tổ chức khoa học, kiểm soát chặt chẽ và vận hành vì lợi ích chung, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy sáng tạo và tiến bộ xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo chính là con đường để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực cầm quyền; củng cố niềm tin của Nhân dân; và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc.

Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2005). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Tô Lâm (31/10/2024). Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/ky-nguyen-moi/-/2018/1005602/mot-so-noi-dung-co-ban-ve-ky-nguyen-moi%2C-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc%3B-nhung-dinh-huong-chien-luoc-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi%2C-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc*.aspx
Tô Lâm (20/01/2026). Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/bao-cao-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-cong-san-viet-nam