The development of the Party’s theoretical thinking on building the socialist rule-of-law state in the Documents of the 14th National Party Congress
TS. Giáp Thị Yến
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: giapthiyen.flc.napa@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong Văn kiện Đại hội XIV, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bước phát triển mang tính đột phá. Đảng khẳng định đây là một trong ba trụ cột nền tảng của công cuộc đổi mới; đồng thời, là nhiệm vụ trọng tâm trong tám nội dung xuyên suốt để triển khai các quyết sách chiến lược, tạo động lực đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Bài viết phân tích những điểm mới trong tư duy lý luận của Đảng và thực tiễn triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Từ khóa: Tư duy lý luận; Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Đại hội XIV; kỷ nguyên mới.
Abstract: In the Documents of the 14th National Party Congress, the Communist Party of Vietnam’s theoretical thinking on building and perfecting the Socialist Rule-of-Law State has undergone a breakthrough development. The Party affirms that this is one of the three foundational pillars of the renovation process and a key task among eight overarching contents for implementing strategic decisions, creating momentum for rapid and sustainable national development in the new era. This article analyzes the innovations in the Party’s theoretical thinking and examines the practical implementation 14th Congress Resolution.
Keywords: Theoretical thinking; Communist Party of Vietnam; Socialist Rule-of-Law State; 14th National Party Congress; new era.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quy luật phát triển tất yếu, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới và hiện đại hóa đất nước. Trải qua 40 năm đổi mới, nhận thức lý luận và tư duy chiến lược của Đảng về mô hình, bản chất và phương thức vận hành của Nhà nước pháp quyền không ngừng được bổ sung, cụ thể hóa qua từng kỳ Đại hội. Tiếp nối mạch đổi mới đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển tư duy có tính hệ thống, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.
Điểm nhấn nổi bật trong sự phát triển tư duy lý luận của Đảng chính là việc định vị lại vị trí chiến lược của Nhà nước pháp quyền trong tổng thể công cuộc phát triển quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong ba trụ cột nền tảng của công cuộc đổi mới, là nhiệm vụ trọng tâm và là một trong tám nội dung xuyên suốt để triển khai các quyết sách chiến lược (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 158). Sự chuyển dịch từ nhận thức “nhiệm vụ cấu phần” sang “trụ cột nền tảng xuyên suốt” cho thấy, Đảng đã đặt thể chế pháp quyền ở vị trí trung tâm, tạo cơ sở giải phóng các nguồn lực xã hội, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2. Quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIV
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm cơ bản được xác lập tại Đại hội XIII về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời bổ sung những định hướng và yêu cầu mới phù hợp với bối cảnh phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Quan điểm này được xác lập trên nền tảng Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Nghị quyết xác định: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022). Đây là nền tảng lý luận và chính trị quan trọng, định hướng cho quá trình tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn phát triển mới. Trên nền tảng kế thừa đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục làm sâu sắc hơn nhiều nội dung lý luận và thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đưa ra những quan điểm chỉ đạo mới thể hiện qua năm nội dung cơ bản sau:
Một là, Nhân dân là chủ thể quyền lực, mục đích và thước đo hiệu lực của Nhà nước pháp quyền.
Một trong những điểm nổi bật trong tư duy của Đại hội XIV của Đảng là tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định rõ, Nhà nước mà Việt Nam xây dựng là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.126). Đây không chỉ là sự kế thừa nhất quán quan điểm của Đảng qua các kỳ đại hội mà còn là sự cụ thể hóa yêu cầu xây dựng một nhà nước dân chủ hiện đại, trong đó Nhân dân giữ vai trò trung tâm của mọi chủ trương, chính sách và hoạt động quản trị quốc gia. Điều này thể hiện bước phát triển lý luận có tính đột phá ở giai đoạn hiện nay: sự chuyển dịch trong tư duy của Đảng, từ mô hình “quản lý Nhân dân” sang tinh thần “phục vụ Nhân dân”, lấy việc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật làm nền tảng để bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Để hiện thực hóa tư duy đó, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” được vận hành đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trong chỉnh thể cơ chế này, thành tố “dân thụ hưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.121) không chỉ là mục đích cuối cùng, mà mức độ thụ hưởng thực tế về cả vật chất lẫn tinh thần của người dân còn được Đảng xác định là thước đo cao nhất cho hiệu lực và hiệu quả hoạt động của toàn bộ bộ máy pháp quyền.
Trên tinh thần đó, Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.74). Quan điểm này cho thấy, sự chuyển biến từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, lấy người dân làm trung tâm của hoạt động quản trị quốc gia. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ hướng tới mục tiêu bảo đảm trật tự pháp luật mà còn phải lấy việc “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.121). Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy xây dựng Nhà nước pháp quyền, khi hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước không chỉ được đánh giá bằng năng lực quản lý mà còn bằng mức độ đáp ứng lợi ích, quyền và hạnh phúc của Nhân dân.
Bên cạnh đó, Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới là xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tập I, tr.14). Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xem là yêu cầu nền tảng. Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý xã hội mà còn phải trở thành thiết chế phục vụ Nhân dân, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân và tạo điều kiện để mọi người dân được tham gia vào quá trình phát triển đất nước. Đại hội sử dụng thống nhất chữ viết hoa “Nhân dân”, thể hiện sự nhấn mạnh vị trí, vai trò chủ thể của Nhân dân trong toàn bộ tiến trình xây dựng và phát triển đất nước.
Hai là, mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận khi khẳng định mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thực chất. Trong giai đoạn mới, Nhà nước pháp quyền không đơn thuần là công cụ quản lý xã hội bằng pháp luật mà được xác định là trung tâm của nền quản trị quốc gia hiện đại, có vai trò kiến tạo, phục vụ và thúc đẩy phát triển. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu đặt nhiệm vụ trọng tâm “trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; phấn đấu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.59). Đi đôi với việc kiểm soát quyền lực và giữ gìn kỷ cương, quyền làm chủ của Nhân dân phải được thể chế hóa toàn diện, minh bạch bằng pháp luật. Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng định hướng “nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013”, khẳng định vai trò của Hiến pháp là nền tảng pháp lý tối cao, bảo vệ công lý, quyền con người và tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Ba là, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và được thực hiện nghiêm minh. Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, bởi pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là nền tảng bảo đảm dân chủ, công bằng và bảo vệ quyền con người. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, xuất phát từ thực tiễn nhiều quy định pháp luật mặc dù tương đối đầy đủ nhưng việc thực thi còn thiếu thống nhất, hiệu quả chưa cao, làm ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý nhà nước và niềm tin của người dân đối với pháp luật. Theo đó, hệ thống pháp luật cần được tiếp tục hoàn thiện theo hướng “đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định để tạo lập nền tảng cho hệ thống quản lý, quản trị phát triển hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo,… khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.128-129). Quan điểm này cho thấy, pháp luật không chỉ là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh việc xây dựng pháp luật, Đại hội XIV của Đảng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, hiệu quả, chú trọng công tác giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật, bảo đảm việc hiểu, áp dụng pháp luật một cách thống nhất” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.129). Điều này phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về vai trò của giai đoạn tổ chức thi hành pháp luật trong toàn bộ quy trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và bảo đảm mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật. Điểm sáng tạo có ý nghĩa thực tiễn cao trong tư duy pháp quyền tại Đại hội XIV của Đảng là việc thay đổi hệ quy chiếu đánh giá: thước đo của Nhà nước pháp quyền không còn nằm ở số lượng văn bản luật được ban hành mà nằm ở hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật.
Bốn là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại.
Đại hội XIV của Đảng xác định rõ yêu cầu chuyển đổi mô hình hoạt động của Nhà nước từ mô hình quản lý truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, kiến tạo phát triển và phục vụ Nhân dân. Khi chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra nhanh chóng, Nhà nước pháp quyền không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn phải chủ động tạo lập môi trường thể chế thuận lợi để phát huy các nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển, xây dựng chính phủ số, chính quyền số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.129). Đây là bước phát triển mới trong tư duy xây dựng Nhà nước pháp quyền, thể hiện sự chuyển dịch từ mô hình hành chính truyền thống sang mô hình quản trị số dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ số. Định hướng này được cụ thể hóa bằng khung pháp lý hành động: sau Đại hội, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 11/3/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, xác định mục tiêu xây dựng bộ máy kiến tạo phát triển, liêm chính và hành động.
Đại hội nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia, tăng cường liên thông dữ liệu, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; đồng thời, bảo đảm “sự phân cấp, phân quyền, ủy quyền một cách khoa học, hợp lý, đi đôi với nâng cao trách nhiệm, gắn với bảo đảm nguồn lực, phù hợp với năng lực thực hiện nhiệm vụ; tăng cường kiểm tra, giám sát bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương; đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của địa phương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.135-136). Đây là cơ sở để xây dựng nền quản trị quốc gia linh hoạt, hiệu quả và thích ứng với yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số. Nhằm nâng cao hiệu suất vận hành của bộ máy nhà nước, công tác cải cách thủ tục hành chính nội bộ được đẩy mạnh.
Năm là, tăng cường kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định kiểm soát quyền lực nhà nước là một trong những điều kiện tiên quyết để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh. Theo đó, việc kiểm soát quyền lực phải được thực hiện bằng cơ chế chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả, bảo đảm quyền lực luôn được ràng buộc bởi Hiến pháp và pháp luật, ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, tha hóa quyền lực và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Song hành với kiểm soát quyền lực là yêu cầu kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Khi chuyển đổi số và công nghệ phát triển nhanh, yêu cầu đặt ra là vừa chủ động phòng ngừa các hình thức tham nhũng mới phát sinh trong môi trường số, vừa khai thác hiệu quả các thành tựu của khoa học, công nghệ để nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện cơ chế “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.139-140), qua đó, tạo lập cơ chế phòng ngừa mang tính hệ thống, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước liêm chính, minh bạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phục vụ Nhân dân.
3. Thực tiễn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Một là, về tổ chức bộ máy nhà nước và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Việc triển khai Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 26/6/2025 từ ngày 01/7/2025 đã tạo bước chuyển căn bản trong tổ chức bộ máy nhà nước ở địa phương. Cả nước đồng loạt vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, kết thúc mô hình chính quyền địa phương ba cấp (tỉnh – huyện – xã) tồn tại nhiều thập niên. Việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã theo hướng “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đã giảm mạnh số lượng đơn vị hành chính cấp xã trên cả nước. Riêng tại TP. Hồ Chí Minh, sau sáp nhập, số đơn vị hành chính cấp xã giảm còn 168 xã, phường, đặc khu; các Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã được đưa vào vận hành đồng bộ, gắn với cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ. Tổng hợp số liệu báo cáo từ 168 Trung tâm Phục vụ hành chính công xã, phường, đặc khu tính đến ngày 30/6/2026 ghi nhận: tổng số hồ sơ tiếp nhận là 751.569 hồ sơ, trong đó 700.836 hồ sơ trực tuyến (chiếm 93,2%); số hồ sơ đúng và trước hạn đạt 750.447 hồ sơ (99,8%); qua khảo sát 7.718 phiếu, tỷ lệ “rất hài lòng” và “hài lòng” đạt trên 99% (Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026). Nhiều phường đạt 100% hồ sơ trực tuyến, như: xã Xuân Sơn, Ngãi Giao, phường Bình Tân,…; nhiều phường không phát sinh hồ sơ trễ hạn, như: Bến Cát, Cầu Kiệu, Bình Tân, Tân Thành,…(Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026).
Bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng bộc lộ một số hạn chế. Cơ sở vật chất tại một số Trung tâm Phục vụ hành chính công còn chật hẹp, không gian sảnh chờ và khu vực làm việc chưa đáp ứng nhu cầu giao dịch tăng. Hệ thống Cổng Dịch vụ công và các phần mềm chuyên ngành do các bộ, ngành chủ quản vận hành đôi lúc chưa thật sự ổn định, gây gián đoạn chu trình xử lý hồ sơ. Hệ thống thanh toán trực tuyến còn gặp vướng mắc trong khâu đối soát nguồn thu, khiến công tác kế toán, quyết toán ngân sách nhà nước tại cơ sở còn khó khăn tại (Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, 2026).
Việc chuyển đổi hệ thống công nghệ thông tin chưa đi đôi với công tác chuẩn bị năng lực vận hành: hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của các bộ, ngành được triển khai trong thời gian ngắn, trong khi cán bộ, công chức chưa được tập huấn nên còn lúng túng trong tiếp nhận và giải quyết hồ sơ. Bên cạnh áp lực về quy trình công nghệ và khối lượng hồ sơ, các đơn vị còn gặp khó khăn liên quan đến công tác quản trị nhân sự tại cơ sở, đặc biệt là sự thiếu hụt về nguồn nhân sự dự phòng.
Hai là, về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật có nhiều chuyển biến tích cực. Sau Đại hội XIV của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 11/3/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về thể chế và tổ chức thi hành pháp luật cho từng bộ, ngành, địa phương.
Quốc hội (khóa XV) đã đẩy nhanh tiến độ ban hành các đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV. Các đạo luật liên quan trực tiếp đến vận hành mô hình chính quyền hai cấp và cải cách thủ tục hành chính được thông qua đồng bộ, tạo hành lang pháp lý cho việc chuyển đổi tổ chức bộ máy nhà nước. Nhiều nghị định của Chính phủ được ban hành kịp thời nhằm cụ thể hóa các đạo luật mới, trong đó nổi bật là Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Kết quả cụ thể trong công tác cải cách thủ tục hành chính đến giữa năm 2026 cho thấy có sự chuyển biến tích cực. Lũy kế đến tháng 6/2026, các bộ, cơ quan công bố tổng cộng 3.123 thủ tục hành chính nội bộ; tỷ lệ thực thi phương án cắt giảm đối với thủ tục nhóm A đạt 66,4%, nhóm B đạt 48,3%; cấp địa phương đạt 40,6% (Bộ Nội vụ, 2026). Nguồn vốn đầu tư công được giải ngân đạt 356.900 tỷ đồng (35,5% kế hoạch) tính đến ngày 30/6/2026, cao hơn cùng kỳ năm 2025 tới 38.400 tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2026). Đây là minh chứng cho hiệu quả của việc siết chặt kỷ luật thi hành pháp luật gắn với đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Tuy nhiên, công tác xây dựng và thi hành pháp luật vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Tình trạng “luật khung, luật ống” chưa được khắc phục triệt để: một số luật ban hành xong nhưng phải chờ nhiều văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành, làm giảm hiệu lực trực tiếp của luật và kéo dài thời gian đưa quy định vào cuộc sống. Chất lượng tổ chức thi hành pháp luật ở các cấp còn chênh lệch, thể hiện qua khoảng cách trong tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn giữa các địa phương và giữa các lĩnh vực. Công tác giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật ở một số lĩnh vực còn chậm, dẫn đến tình trạng cùng một quy định nhưng được áp dụng khác nhau ở các địa bàn khác nhau.
Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, công chức còn tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm khi tham mưu, quyết định các vấn đề mới, phức tạp, làm chậm tiến độ triển khai các nhiệm vụ đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Chất lượng công tác thẩm định, thẩm tra một số dự án luật, nghị quyết chưa cao, dẫn đến phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần sau khi ban hành. Việc theo dõi, đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật chưa có công cụ đo lường thống nhất, khách quan, gây khó khăn cho công tác điều chỉnh chính sách kịp thời.
Ba là, về đổi mới quản trị quốc gia và kiểm soát quyền lực.
Đổi mới quản trị quốc gia gắn với chuyển đổi số được đẩy mạnh trên cơ sở Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau Đại hội XIV của Đảng, hàng loạt cơ sở dữ liệu quốc gia được kết nối, liên thông; Trung tâm dữ liệu quốc gia được vận hành nhằm phục vụ công tác quản trị dựa trên dữ liệu và ra quyết định dựa trên bằng chứng. Dịch vụ công trực tuyến toàn trình được mở rộng đến tận cấp xã, phường, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ hành chính công không phụ thuộc địa giới hành chính.
Công tác kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đạt nhiều kết quả tích cực. Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam duy trì ở mức 41 điểm trong năm 2025 và sáu tháng đầu năm 2026. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực do Tổng Bí thư Tô Lâm làm Trưởng ban tiếp tục chỉ đạo xử lý dứt điểm nhiều vụ án lớn, phức tạp, tạo hiệu ứng răn đe mạnh mẽ. Cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm được từng bước hoàn thiện nhằm giải quyết tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ.
Định hướng quản trị hiện đại được thể hiện rõ nét trong bài viết “Tinh – Gọn – Mạnh – Hiệu năng – Hiệu lực – Hiệu quả” của Tổng Bí thư Tô Lâm ngày 05/11/2024 (Tô Lâm, 2024), theo đó yêu cầu bộ máy phải tinh gọn về tổ chức nhưng mạnh về năng lực, hiệu năng cao trong vận hành, hiệu lực trong thực thi và hiệu quả trong kết quả cuối cùng. Định hướng này được tiếp tục làm sâu sắc trong các bài viết, phát biểu quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Tổng Bí thư trong sáu tháng đầu năm 2026, tạo cơ sở tư tưởng và phương pháp luận cho các cấp, các ngành triển khai đồng bộ.
Việc đổi mới quản trị quốc gia và kiểm soát quyền lực vẫn còn một số hạn chế. Kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương chưa đồng bộ, còn tình trạng “dữ liệu cát cứ” gây khó khăn cho công tác quản trị dựa trên dữ liệu. Một số cơ sở dữ liệu quốc gia đã được xây dựng nhưng chưa được cập nhật đầy đủ, chưa được sử dụng hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công. Năng lực số của một bộ phận cán bộ, công chức, đặc biệt ở cấp cơ sở, chưa đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền số, dẫn đến tình trạng đầu tư hạ tầng công nghệ nhưng chưa phát huy hết hiệu quả (Báo cáo kiểm tra chuyên đề, 2026).
Công tác phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước còn khó khăn do các hình thức vi phạm ngày càng tinh vi, khó phát hiện. Cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp và giữa Trung ương với địa phương chưa hoàn thiện đồng bộ, còn khoảng trống trong việc phát hiện, xử lý các biểu hiện lạm quyền, vượt quyền ở một số lĩnh vực. Việc thu hồi tài sản tham nhũng đạt tỷ lệ chưa cao, ảnh hưởng đến hiệu quả tổng thể của công tác phòng, chống tham nhũng. Cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm mặc dù đã được ban hành nhưng việc áp dụng trong thực tiễn còn thận trọng, chưa tạo được sự yên tâm cần thiết cho cán bộ, công chức khi giải quyết các vấn đề mới, phức tạp.
4. Kết luận
Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là sự kế thừa biện chứng và là bước phát triển mang tính hệ thống, định hình mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Bằng việc làm sâu sắc hơn bản chất nhân văn của một Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, Đảng đã hoàn thiện bước chuyển chiến lược từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”, lấy sự thượng tôn Hiến pháp và pháp luật làm nền tảng bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Hệ thống lý luận có tầm chiến lược này là nền tảng tư tưởng và định hướng để cả hệ thống chính trị tiếp tục xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để phát huy đầy đủ ý nghĩa của những phát triển tư duy lý luận này, thời gian tới cần tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể ở từng cấp, từng ngành, kiên trì thực hiện nguyên tắc “nói đi đôi với làm”, “trên trước, dưới sau” trong toàn hệ thống chính trị.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội (2026). Tờ trình số 109/TTr-DCGSPBXH ngày 20/7/2026 về kết quả giám sát, khảo sát công tác cải cách thủ tục hành chính tại các Trung tâm Phục vụ hành chính công xã, phường, đặc khu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026 (Đợt 1). Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh.
Báo cáo kiểm tra chuyên đề (2026). Báo cáo kiểm tra, giám sát chuyên đề năm 2026 tại các phường An Hội Đông, Diên Hồng, Phú Mỹ, Gò Vấp.
Báo Tuổi Trẻ (12/02/2026). Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN từ Văn kiện Đại hội XIV – Bài 2: Chìa khóa mở ra kỷ nguyên phát triển bền vững. https://tuoitre.vn/plo/xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn-tu-van-kien-dai-hoi-xiv-bai-2-chia-khoa-mo-ra-ky-nguyen-phat-trien-ben-vung-109904570.htm
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Nội vụ (2026). Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. https://danchuphapluat.vn/ket-qua-dinh-luong-va-tac-dong-thuc-tien-trong-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-6-thang-dau-nam-2026-9821.html
Bộ Tài chính (2026). Giải ngân vốn đầu tư công đạt trên 356,9 nghìn tỷ đồng. Vietnam Plus. https://www.vietnamplus.vn/bo-tai-chinh-giai-ngan-von-dau-tu-cong-dat-tren-3569-nghin-ty-dong-post1123019.vnp
Chính phủ (2025). Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 về đăng ký doanh nghiệp.|
Chính phủ (2026a). Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 11/3/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Chính phủ (2026b). Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Dương Trung Ý (27/3/2026). Đưa tinh thần mới của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/dua-tinh-than-moi-cua-van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-vao-thuc-tien-cuoc-song
Hà Thành Đê (2021). Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/09/07/xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang/
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Tổng Bí Thư Tô Lâm (05/11/2024). Tinh – Gọn – Mạnh – Hiệu năng – Hiệu lực – Hiệu quả. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-tinh-gon-manh-hieu-nang-hieu-luc-hieu-qua-102241105172459096.htm



