Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở đồng bằng sông Cửu Long trong kỷ nguyên phát triển mới

Promoting socialist democracy in the Mekong Delta in the new era of development

TS. Nguyễn Hữu Dũng
TS. Nguyễn Thị Ngọc Anh
Học viện Chính trị khu vực IV

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là yêu cầu nền tảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động nguồn lực cho phát triển bền vững. Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long, việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thích ứng với biến đổi khí hậu, giải quyết vấn đề di cư lao động, thu hẹp khoảng cách số và tăng cường liên kết vùng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành dân chủ, phát huy vai trò tham gia, giám sát và phản biện xã hội của Nhân dân, tăng cường trách nhiệm giải trình của chính quyền; đồng thời, đề xuất nhóm chỉ báo đánh giá mức độ thực hiện dân chủ trong quản trị phát triển vùng theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Từ khóa: Dân chủ xã hội chủ nghĩa; đồng bằng sông Cửu Long; Đại hội XIV của Đảng; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quản trị phát triển.

Abstract: Promoting socialist democracy is a fundamental requirement in building the socialist rule-of-law State of Vietnam, consolidating the great national unity bloc, and mobilizing resources for sustainable development. For the Mekong Delta region, promoting socialist democracy is of particular significance in the context of transforming the growth model, adapting to climate change, addressing labor migration, narrowing the digital divide, and strengthening regional connectivity. On this basis, the article proposes several orientations and solutions to enhance the effectiveness of democratic practices, promote the people’s participation, supervision, and social criticism, and strengthen the accountability of public authorities. It also proposes a set of indicators for assessing the implementation of democracy in regional development governance in accordance with the spirit of the Documents of the 14th National Party Congress.

Keywords: Socialist democracy; Mekong Delta; 14th National Party Congress; Vietnam Fatherland Front; development governance.

1. Đặt vấn đề

Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là bản chất của chế độ chính trị ở Việt Nam, vừa là phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán quan điểm lấy Nhân dân làm trung tâm, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, đường lối và chính sách đều phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân và hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu “thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân”; đồng thời, nhấn mạnh việc thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 40).

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đứng trước những yêu cầu ngày càng cao về phát triển nhanh và bền vững, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và hoàn thiện nền quản trị quốc gia hiện đại. Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua trình Đại hội XIV không chỉ đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới mà còn hướng tới bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 5-8). Trong bối cảnh đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa được đặt ra không chỉ với tư cách là mục tiêu chính trị cần đạt tới mà còn là động lực, nguồn lực nội sinh và phương thức quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, kiểm soát quyền lực, củng cố đồng thuận xã hội và thúc đẩy phát triển.

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng kinh tế – xã hội có vị trí chiến lược đối với phát triển đất nước, giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái, quốc phòng, an ninh và mở rộng hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc, như: biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển, suy giảm nguồn nước, dịch chuyển lao động và yêu cầu chuyển đổi mô hình sinh kế. Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định phát triển vùng phải dựa trên tư duy liên kết, phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Việc hiện thực hóa các mục tiêu này đòi hỏi sự tham gia thực chất của người dân, doanh nghiệp, hợp tác xã, đội ngũ trí thức, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân tộc, tôn giáo trong quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách phát triển.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long, song các nghiên cứu tiếp cận vấn đề từ góc độ sự phát triển tư duy của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa từ Đại hội XIII đến Đại hội XIV gắn với yêu cầu quản trị phát triển vùng còn tương đối hạn chế. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu cần làm rõ những nội dung kế thừa, bổ sung và phát triển trong nhận thức của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, luận giải khả năng vận dụng vào thực tiễn phát triển của vùng trong giai đoạn mới.

Trên cơ sở đó, bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản, so sánh lịch sử – logic và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan thống kê, báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), các báo cáo về cải cách hành chính, chuyển đổi số và các nghiên cứu liên quan đến phát triển vùng, phân tích những định hướng lý luận và yêu cầu chính sách được đặt ra, làm rõ sự phát triển trong tư duy của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa theo hướng chuyển từ bảo đảm quyền tham gia của Nhân dân sang phát huy dân chủ như một nguồn lực và phương thức quản trị phát triển; từ đó, đề xuất một số giải pháp và nhóm chỉ báo phục vụ nâng cao chất lượng quản trị phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn tới.

2. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa từ Đại hội XIII đến Đại hội XIV: sự phát triển tư duy của Đảng trong bối cảnh mới

2.1. Đại hội XIII: hoàn thiện hệ giá trị và phương châm thực hành dân chủ

Đại hội XIII của Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vai trò của dân chủ như một động lực thúc đẩy phát triển đất nước. Văn kiện xác định yêu cầu “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của Nhân dân”, gắn với tăng cường niềm tin của Nhân dân, củng cố đồng thuận xã hội và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 15).

Một trong những điểm phát triển nổi bật về lý luận là việc bổ sung phương châm thực hành dân chủ từ “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 74-75). So với các giai đoạn trước, sự bổ sung này thể hiện nhận thức toàn diện hơn về quyền làm chủ của Nhân dân trong toàn bộ chu trình quản trị công, từ tham gia xây dựng chủ trương, chính sách đến giám sát quá trình thực thi và thụ hưởng thành quả phát triển. Đặc biệt, nội hàm “dân thụ hưởng” đã mở rộng cách tiếp cận về dân chủ theo hướng lấy chất lượng cuộc sống, quyền lợi và mức độ hài lòng của người dân làm một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả quản trị. Điều đó cho thấy, dân chủ không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ quy trình chính trị mà còn gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển con người và bảo đảm công bằng xã hội.

Đại hội XIII tiếp tục bổ sung mối quan hệ lớn giữa “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy chính trị – pháp lý của Đảng, phản ánh yêu cầu hài hòa giữa mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân với bảo đảm tính thống nhất, hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước. Theo đó, dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; quyền luôn gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lợi ích chung của xã hội. Cách tiếp cận này góp phần khắc phục cả hai khuynh hướng cực đoan: dân chủ hình thức, khi quyền tham gia của người dân chỉ dừng ở thủ tục và dân chủ vô nguyên tắc, khi quyền cá nhân bị tuyệt đối hóa, tách rời trách nhiệm xã hội và yêu cầu bảo đảm kỷ cương.

Đại hội XIII đồng thời khẳng định nhất quán quan điểm lấy Nhân dân làm trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 40). Đây là cơ sở lý luận quan trọng để tiếp tục phát triển nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn tiếp theo.

2.2. Đại hội XIV: nâng cao vị trí của dân chủ trong thể chế phát triển

Trên nền tảng những nhận thức đã được xác lập tại Đại hội XIII, Đại hội XIV tiếp tục phát triển tư duy của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Nếu Đại hội XIII tập trung hoàn thiện hệ giá trị và phương châm thực hành dân chủ thì Đại hội XIV nhấn mạnh hơn vai trò của dân chủ như một nhân tố bảo đảm và động lực của phát triển. Điều này được thể hiện ngay trong phương châm của Đại hội: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 395-396). Việc đặt dân chủ ở vị trí trung tâm giữa đoàn kết và kỷ cương cho thấy, nhận thức ngày càng rõ nét rằng dân chủ là điều kiện để phát huy trí tuệ xã hội, tạo đồng thuận và khơi dậy năng lực sáng tạo của mọi chủ thể phát triển; đồng thời, là nền tảng để bảo đảm kỷ cương, tạo đột phá và thúc đẩy phát triển bền vững.

Điểm phát triển có ý nghĩa lý luận sâu sắc là Đại hội XIV xác định rõ hơn vị trí của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong cấu trúc thể chế phát triển của Việt Nam. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ sở và nền tảng vận hành của nền kinh tế; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là nhân tố bảo đảm và động lực thúc đẩy quá trình đổi mới; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 200-201). So với các cách tiếp cận trước đây chủ yếu xem dân chủ là nội dung của xây dựng hệ thống chính trị, nhận thức mới đặt dân chủ vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển quốc gia, gắn trực tiếp với hiệu quả vận hành của nền kinh tế, chất lượng quản trị nhà nước và sự phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trên phương diện thực thi, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thực chất quyền làm chủ của Nhân dân. Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới xác định cần hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm thực hiện hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; đồng thời, cụ thể hóa các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ ở cơ sở phù hợp với điều kiện phát triển mới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 235-236). Trong bối cảnh chuyển đổi số và xây dựng nền quản trị hiện đại, yêu cầu phát huy dân chủ được mở rộng sang các nội dung, như: minh bạch thông tin, công khai dữ liệu, tăng cường tương tác giữa chính quyền với người dân, nâng cao trách nhiệm giải trình và mở rộng các kênh phản hồi chính sách.

Một điểm mới đáng chú ý là Đại hội XIV nhấn mạnh phát huy dân chủ trong Đảng gắn với xây dựng môi trường thảo luận, tranh luận khoa học và khuyến khích đổi mới sáng tạo trong hoạch định chính sách. Đây không chỉ là yêu cầu đối với công tác xây dựng Đảng mà còn phản ánh nhận thức mới về vai trò của dân chủ như một điều kiện để nâng cao chất lượng quyết sách, phát huy trí tuệ tập thể và tăng cường khả năng thích ứng của hệ thống chính trị trước những biến đổi nhanh chóng của bối cảnh phát triển trong nước và quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 94, 142, 397).

2.3. Bước phát triển trong tư duy của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa từ Đại hội XIII đến Đại hội XIV

Đối chiếu các văn kiện Đại hội XIII và Đại hội XIV cho thấy, sự phát triển trong tư duy của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là sự thay đổi về bản chất mà là quá trình kế thừa, bổ sung và hoàn thiện nhận thức phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Sự phát triển đó được thể hiện trên ba phương diện cơ bản.

Thứ nhất, từ hoàn thiện nội hàm dân chủ chuyển sang chú trọng các điều kiện bảo đảm thực hiện dân chủ. Đại hội XIII tập trung hoàn thiện hệ giá trị và phương châm thực hành dân chủ thông qua việc bổ sung các nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng”, qua đó, xác lập tương đối đầy đủ chu trình thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV nhấn mạnh hơn yêu cầu thể chế hóa, pháp lý hóa và tổ chức thực hiện các quyền dân chủ bằng những cơ chế cụ thể, khả thi và có thể kiểm chứng. Điều này phản ánh bước chuyển từ nhận thức về quyền dân chủ sang chú trọng các điều kiện bảo đảm để quyền dân chủ được thực hiện một cách thực chất trong đời sống xã hội.

Thứ hai, từ cách tiếp cận dân chủ chủ yếu dưới góc độ chính trị – xã hội sang nhận thức dân chủ như một nguồn lực và động lực của phát triển. Nếu Đại hội XIII tập trung khẳng định vai trò chủ thể của Nhân dân trong công cuộc đổi mới, thì Đại hội XIV đã đặt nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vào vị trí quan trọng trong cấu trúc thể chế phát triển của đất nước. Theo đó, dân chủ không chỉ bảo đảm quyền tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước và xã hội mà còn góp phần huy động tri thức, sáng kiến, nguồn lực xã hội và tạo dựng sự đồng thuận cần thiết cho các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Đây là bước phát triển đáng chú ý trong tư duy lý luận khi dân chủ được nhìn nhận không chỉ như một giá trị chính trị mà còn như một yếu tố tạo lập năng lực phát triển quốc gia.

Thứ ba, dân chủ ngày càng được gắn kết chặt chẽ với yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại. Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách thể chế, chuyển đổi số, sắp xếp tổ chức bộ máy và kiểm soát quyền lực, Đại hội XIV nhấn mạnh vai trò của dân chủ trong nâng cao tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Dân chủ không chỉ là quyền tham gia của người dân mà còn là cơ chế bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích, đúng thẩm quyền và chịu sự giám sát của Nhân dân. Nhận thức này thể hiện sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa dân chủ, pháp quyền và quản trị phát triển trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ Đại hội XIII đến Đại hội XIV, tư duy của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa đã phát triển theo hướng toàn diện và thực chất hơn: từ xác lập đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân đến chú trọng các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền; từ nhấn mạnh sự tham gia của người dân vào đời sống chính trị đến phát huy dân chủ như một nguồn lực nội sinh của phát triển; từ thực hành dân chủ trong khuôn khổ pháp luật đến gắn dân chủ với yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Sự phát triển này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn tạo cơ sở quan trọng cho việc vận dụng các nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa vào quản trị phát triển ở những vùng có nhiều thách thức và tiềm năng như đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay.

3. Những yêu cầu mới đối với việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở đồng bằng sông Cửu Long

Một là, phát huy dân chủ phải gắn với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển và tái cấu trúc sinh kế của người dân. Các chỉ báo dân số cho thấy, nhiều thách thức đang đặt ra đối với sự phát triển bền vững của vùng. Giai đoạn 2019-2024, Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ tăng dân số bình quân thấp nhất cả nước, chỉ đạt 0,29%/năm; tổng tỷ suất sinh năm 2024 ở mức 1,62 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế. Đáng chú ý, trong 5 năm trước thời điểm điều tra năm 2024, có khoảng 353,1 nghìn người từ vùng di cư đến Đông Nam Bộ, chiếm 57,4% tổng số người nhập cư vào khu vực này (Tổng cục Thống kê, 2025). Những số liệu trên phản ánh xu hướng dịch chuyển lao động kéo dài và áp lực ngày càng lớn đối với việc duy trì nguồn nhân lực tại chỗ. Trong bối cảnh đó, các chính sách chuyển đổi sản xuất, phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế biển và kinh tế xanh cần được xây dựng trên cơ sở tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định, thực hiện và giám sát chính sách. Dân chủ chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân được tiếp cận đầy đủ thông tin, có khả năng tham gia lựa chọn phương án phát triển phù hợp và được bảo đảm quyền thụ hưởng công bằng từ thành quả của quá trình chuyển đổi.

Hai là, phát huy dân chủ cần gắn với quản trị tài nguyên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là lĩnh vực mà mọi quyết định chính sách đều tác động trực tiếp đến đời sống, sinh kế và quyền lợi của cộng đồng dân cư. Thực tiễn cho thấy, tình trạng xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển, suy giảm nguồn nước và lún sụt đất đang diễn biến ngày càng phức tạp. Trong các đợt xâm nhập mặn tháng 3/2026 và tháng 4/2026, ranh mặn 4g/lít tại các cửa sông Cửu Long xâm nhập sâu từ 42-55 km; tại hệ thống sông Vàm Cỏ và sông Cái Lớn có thời điểm đạt 65-70 km (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026). Kết quả PAPI 2024 cũng cho thấy, tỷ lệ người dân tại các tỉnh trong vùng phản ánh tình trạng đất canh tác bị nhiễm mặn tăng mạnh, từ 18,5% năm 2021 lên 41,5% năm 2023 (CECODES, RTA & UNDP, 2025). Những diễn biến này đòi hỏi, việc quản trị thích ứng phải dựa trên nguyên tắc minh bạch thông tin, tham vấn cộng đồng và bảo đảm quyền tiếp cận dữ liệu môi trường của người dân. Đồng thời, cần thiết lập các cơ chế phản hồi, giám sát và đánh giá tác động chính sách để bảo đảm các quyết định phát triển không làm gia tăng bất bình đẳng hoặc tạo thêm rủi ro cho các nhóm sinh kế dễ bị tổn thương.

Ba là, phát huy dân chủ phải được triển khai trong môi trường chuyển đổi số và xây dựng chính quyền số. Trong điều kiện hiện nay, dân chủ không chỉ được thực hiện thông qua các hình thức tiếp xúc trực tiếp mà còn thông qua các nền tảng số cho phép người dân tiếp cận thông tin, phản ánh kiến nghị và giám sát hoạt động của cơ quan công quyền. Tuy nhiên, khoảng cách số vẫn là thách thức đáng kể đối với Đồng bằng sông Cửu Long, nơi tỷ lệ dân cư nông thôn còn cao và điều kiện tiếp cận công nghệ giữa các nhóm xã hội chưa đồng đều. Mặc dù đến giữa năm 2024, tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã hoàn thành kết nối hệ thống giải quyết thủ tục hành chính với các cơ sở dữ liệu quốc gia, nhưng tỷ lệ số hóa hồ sơ tại địa phương mới đạt 53,2% (Bộ Nội vụ, 2024). Trong khi đó, PAPI cho thấy, mức độ sử dụng các cổng dịch vụ công trực tuyến còn hạn chế và vẫn tồn tại tâm lý lo ngại về bảo mật dữ liệu cá nhân (CECODES, RTA & UNDP, 2024). Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng mô hình dân chủ số theo hướng thân thiện, dễ tiếp cận, đa nền tảng và phù hợp với đặc điểm dân cư của vùng; đồng thời, bảo đảm mọi ý kiến, kiến nghị của người dân đều được tiếp nhận, xử lý và phản hồi một cách minh bạch.

Bốn là, phát huy dân chủ cần được mở rộng từ phạm vi địa phương sang phạm vi liên kết vùng. Theo định hướng của Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, phát triển vùng phải dựa trên tư duy tích hợp, liên kết và điều phối hiệu quả các nguồn lực (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Tuy nhiên, hiệu quả liên kết vùng không chỉ phụ thuộc vào sự phối hợp giữa các cấp chính quyền mà còn phụ thuộc vào mức độ tham gia của các chủ thể xã hội. Các quyết định liên quan đến phát triển hạ tầng giao thông, logistics, quản lý nguồn nước, chuyển đổi nông nghiệp hay phát triển kinh tế biển đều tác động đến nhiều địa phương và nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Vì vậy, cần hình thành các cơ chế tham vấn xã hội ở cấp vùng, bảo đảm công khai dữ liệu, đối thoại chính sách và trách nhiệm giải trình đối với những quyết định có ảnh hưởng liên tỉnh, liên ngành.

Năm là, phát huy dân chủ phải hướng tới tăng cường đồng thuận xã hội và bảo đảm tính bao trùm của phát triển. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có sự đa dạng về dân tộc, tôn giáo, văn hóa và sinh kế. Trong điều kiện chuyển đổi kinh tế và xã hội diễn ra nhanh chóng, nguy cơ gia tăng khoảng cách phát triển giữa các nhóm dân cư là thách thức cần được quan tâm. Kết quả PAPI 2024 cho thấy, mức độ hài lòng đối với hoạt động quản trị công còn có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm xã hội, đặc biệt là phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người di cư và cư dân khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa (CECODES, RTA & UNDP, 2025). Do đó, phát huy dân chủ cần gắn với việc đa dạng hóa các kênh tham gia, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của các nhóm yếu thế, tăng cường đối thoại xã hội và giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường, việc làm và an sinh xã hội. Trong quá trình này, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cần được phát huy mạnh mẽ hơn với tư cách là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước; đồng thời, là chủ thể quan trọng trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội.

Từ những yêu cầu trên có thể thấy, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay không chỉ nhằm bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân mà còn hướng tới nâng cao chất lượng quản trị phát triển vùng. Dân chủ ngày càng trở thành điều kiện để huy động nguồn lực xã hội, tạo dựng đồng thuận, nâng cao hiệu quả chính sách và tăng cường khả năng thích ứng của vùng trước những biến đổi kinh tế, xã hội và môi trường. Đây cũng chính là sự vận dụng trực tiếp những phát triển mới trong tư duy của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn phát triển vùng theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

4. Định hướng và giải pháp phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới

Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn mới cần được đặt trong tổng thể đổi mới quản trị phát triển vùng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Theo đó, dân chủ không chỉ được tiếp cận như một yêu cầu trong tổ chức và vận hành hệ thống chính trị ở cơ sở mà cần được nhìn nhận như phương thức phát huy trí tuệ, trách nhiệm, năng lực sáng tạo và sự tham gia thực chất của các chủ thể trong quá trình phát triển vùng. Mỗi giải pháp cần gắn với chủ thể thực hiện, cơ chế vận hành, thời hạn phản hồi và tiêu chí đánh giá kết quả nhằm bảo đảm dân chủ được chuyển hóa thành năng lực quản trị thực tiễn.

Một là, nâng cao nhận thức và năng lực thực hành dân chủ của các chủ thể trong hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội.

Trong bối cảnh mới, thực hành dân chủ không thể chỉ được hiểu là việc tuân thủ quy trình hoặc tổ chức lấy ý kiến theo thủ tục hành chính mà phải trở thành cơ chế phát huy trí tuệ xã hội, xây dựng đồng thuận và nâng cao năng lực tự quản của cộng đồng. Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở cơ sở cần bổ sung các kỹ năng về đối thoại xã hội, lắng nghe và xử lý phản hồi của người dân, giải trình chính sách, phân tích dữ liệu, tham vấn nhóm yếu thế và giải quyết xung đột lợi ích trong các lĩnh vực nhạy cảm, như: đất đai, tài nguyên nước, môi trường và chuyển đổi sinh kế. Hiệu quả thực hành dân chủ cần được đánh giá không chỉ qua số lượng hoạt động được tổ chức mà còn thông qua chất lượng giải quyết kiến nghị, thời gian phản hồi và mức độ hài lòng của người dân.

Hai là, hoàn thiện thể chế thực hiện dân chủ ở cơ sở gắn với minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình.

Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để Nhân dân thực hiện quyền được biết, tham gia ý kiến, quyết định, kiểm tra và giám sát các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống cộng đồng. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, yêu cầu đặt ra là tiếp tục cụ thể hóa các cơ chế này trong những lĩnh vực có tác động lớn đến người dân, như: quy hoạch sử dụng đất, đầu tư công, bồi thường, tái định cư, quản lý nguồn nước, ứng phó thiên tai, bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội. Việc công khai thông tin cần được thực hiện theo hướng dễ tiếp cận, có dữ liệu cập nhật và cho phép người dân theo dõi quá trình xử lý kiến nghị. Đồng thời, cần xác lập rõ trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận, thời hạn phản hồi và cơ chế giải trình đối với các ý kiến không được tiếp thu.

Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý theo hướng quản trị phục vụ, dựa trên dữ liệu và đối thoại xã hội.

Những vấn đề phát triển quan trọng của vùng, như: chuyển đổi sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế biển, di dời dân cư khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở, phát triển đô thị – nông thôn và quản lý tài nguyên nước đều có tính liên ngành, liên vùng, đòi hỏi sự đồng thuận xã hội cao. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền các cấp cần chuyển mạnh từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị dựa trên thông tin, đối thoại và sự tham gia của người dân. Chỉ số Hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 đạt bình quân 83,94% trên phạm vi cả nước (Bộ Nội vụ, 2025), song mức độ hài lòng có thể khác biệt giữa các địa bàn và nhóm xã hội. Do đó, các địa phương trong vùng cần khai thác sâu hơn dữ liệu về mức độ hài lòng theo khu vực, giới tính, dân tộc, độ tuổi, điều kiện kinh tế và loại hình dịch vụ công để làm cơ sở điều chỉnh chính sách.

Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong giám sát, phản biện xã hội.

Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội giữ vai trò quan trọng trong tập hợp ý kiến Nhân dân, giám sát việc thực thi chính sách và phản biện các vấn đề phát triển. Để nâng cao chất lượng hoạt động này, phản biện xã hội cần được thực hiện trên cơ sở thông tin đầy đủ, dữ liệu khách quan và sự tham gia của các nhóm chịu tác động trực tiếp. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, cần ưu tiên giám sát các lĩnh vực liên quan đến sinh kế, đất đai, môi trường, giảm nghèo, chính sách dân tộc – tôn giáo, tái định cư và chuyển đổi mô hình sản xuất. Đồng thời, cần mở rộng sự tham gia của các nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, người có uy tín trong cộng đồng và công khai kết quả giám sát, phản biện để tăng tính minh bạch và trách nhiệm xã hội.

Năm là, thúc đẩy chuyển đổi số nhằm mở rộng không gian thực hành dân chủ theo hướng bao trùm.

Chuyển đổi số tạo điều kiện mở rộng các kênh tương tác giữa chính quyền và người dân, song chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, tham gia chính sách và giám sát hoạt động công quyền. Các địa phương trong vùng cần ưu tiên xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông về quy hoạch, đất đai, môi trường, nguồn nước, thiên tai, dịch vụ công và phản ánh hiện trường; đồng thời, duy trì các phương thức hỗ trợ trực tiếp đối với người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và người dân ở khu vực khó khăn. Đánh giá hiệu quả dân chủ số cần dựa trên mức độ sử dụng thực tế, tỷ lệ phản ánh được xử lý đúng hạn, mức độ hài lòng của người dân, khả năng bảo vệ dữ liệu cá nhân và mức độ thu hẹp khoảng cách số giữa các nhóm xã hội.

Sáu là, gắn phát huy dân chủ với chuyển đổi mô hình phát triển, bảo đảm sinh kế bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu.

Mọi quá trình chuyển đổi tại đồng bằng sông Cửu Long đều liên quan trực tiếp đến sinh kế và quyền lợi của người dân. Vì vậy, chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, từ khai thác tài nguyên sang phát triển thuận thiên, từ phát triển đơn lẻ sang liên kết vùng cần dựa trên sự tham gia thực chất của cộng đồng. Tham vấn xã hội cần được thực hiện ngay từ giai đoạn xác định vấn đề, lựa chọn phương án, thay vì chỉ tiến hành khi quyết định đã được hình thành. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích, hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm, bù đắp rủi ro và giám sát tác động đối với những nhóm chịu ảnh hưởng từ quá trình chuyển đổi.

Bảy là, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng ngừa dân chủ hình thức.

Phát huy dân chủ phải gắn liền với bảo đảm kỷ cương, pháp luật và hiệu quả quản lý nhà nước. Công tác kiểm soát quyền lực cần tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh khiếu kiện, bức xúc xã hội, như: đất đai, đầu tư công, tài nguyên, môi trường, đấu thầu, tuyển dụng, bổ nhiệm và cung cấp dịch vụ công. Cần bảo đảm cơ chế để người dân phản ánh ý kiến, theo dõi quá trình xử lý và được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi tham gia giám sát xã hội. Đồng thời, cần kiên quyết khắc phục tình trạng né tránh đối thoại, thiếu trách nhiệm giải trình hoặc lợi dụng dân chủ để xâm hại lợi ích chung, gây ảnh hưởng đến ổn định chính trị – xã hội.

Để theo dõi hiệu quả thực hiện các giải pháp, có thể nghiên cứu xây dựng nhóm chỉ báo đánh giá mức độ phát huy dân chủ trong quản trị phát triển vùng, bao gồm: tỷ lệ chương trình, dự án lớn được tổ chức tham vấn cộng đồng; tỷ lệ ý kiến được tiếp thu và giải trình; tỷ lệ kiến nghị được phản hồi đúng hạn; mức độ công khai dữ liệu về quy hoạch, đất đai, đầu tư công và môi trường; mức độ sử dụng các kênh phản ánh trực tuyến; mức độ hài lòng của người dân; kết quả các chỉ số PAPI, SIPAS, cải cách hành chính; mức độ tiếp cận của các nhóm yếu thế. Việc công bố định kỳ các chỉ báo này sẽ góp phần chuyển đánh giá thực hiện dân chủ từ việc xem xét hoạt động sang đo lường kết quả và tác động thực tế.

5. Kết luận

Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở đồng bằng sông Cửu Long theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cần được nhìn nhận như một nội dung quan trọng trong đổi mới quản trị phát triển vùng, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Phân tích sự phát triển tư duy của Đảng từ Đại hội XIII đến Đại hội XIV cho thấy, nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn: Nhân dân không chỉ là chủ thể thực hiện quyền làm chủ mà còn là trung tâm, nguồn lực và mục tiêu của quá trình phát triển; dân chủ đồng thời, được gắn chặt với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, quản trị hiện đại, chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Đối với đồng bằng sông Cửu Long, những thách thức về biến đổi dân số, di cư lao động, biến đổi khí hậu, quản trị tài nguyên, chuyển đổi sinh kế và khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ số cho thấy, phát huy dân chủ là yêu cầu có tính thực tiễn và cấp thiết. Dân chủ không chỉ góp phần bảo đảm quyền tham gia của người dân mà còn tạo điều kiện để các quyết sách phát triển vùng phản ánh sát hơn nhu cầu xã hội, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, nâng cao tính đồng thuận và hiệu quả thực thi chính sách. Trong thời gian tới, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở vùng cần được triển khai theo hướng chuyển từ bảo đảm quyền tham gia sang nâng cao năng lực tham gia, giám sát, phản biện và tự quản của cộng đồng. Cùng với hoàn thiện thể chế, cần tăng cường công khai, minh bạch thông tin, nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền, mở rộng các kênh tương tác giữa chính quyền và Nhân dân; đồng thời, xây dựng hệ thống chỉ báo đánh giá dựa trên kết quả và trải nghiệm thực tế của người dân. Đây là những điều kiện quan trọng để dân chủ thành nguồn lực nội sinh, góp phần khơi thông tiềm năng, củng cố đồng thuận xã hội và thúc đẩy đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Bộ Nội vụ (15/7/2024). 100% các Bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành kết nối, đồng bộ dữ liệu Cơ sở quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức. https://moha.gov.vn/tin-tuc/100-cac-bo-nganh-dia-phuong-da-hoan-thanh-ket-noi—-oid56204
3. Bộ Nội vụ (2025). Công bố kết quả Chỉ số hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2024. https://moha.gov.vn/tin-tuc/100-cac-bo-nganh-dia-phuong-da-hoan-thanh-ket-noi—-oid56204
4. CECODES, RTA & UNDP (2024). Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2023: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân. https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/2024-04/papi2023_report_vie-1.pdf
5. CECODES, RTA & UNDP (2025). Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2024: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân. https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/2025-04/papi_2024_report_vie_final.pdf
6. Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
7. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (06/4/2026). Gia tăng xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long. https://baochinhphu.vn/gia-tang-xam-nhap-man-tai-dong-bang-song-cuu-long-102260406164658269.htm
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
10. Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15 ngày 10/11/2022.
11. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
12. Tổng cục Thống kê (06/01/2025). Thông cáo báo chí kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ket-qua-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-giua-ky-nam-2024/