Developing tourism as a spearhead economic sector in Quang Tri Province
ThS. Nguyễn Hạnh Nguyên
ThS. Nguyễn Thị Thu Hương
Học viện Chính trị khu vực III
(Quanlynhanuoc.vn) – Tỉnh Quảng Trị có nhiều lợi thế nổi trội để phát triển du lịch với hệ thống di sản lịch sử – cách mạng đặc sắc, tài nguyên biển đảo phong phú và vị trí chiến lược trên hành lang kinh tế Đông – Tây. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển du lịch giai đoạn 2021 – 2025, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tiềm năng, thúc đẩy tăng trưởng theo chiều sâu và hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Quảng Trị.
Từ khóa: Du lịch; kinh tế mũi nhọn; phát triển bền vững; tỉnh Quảng Trị.
Abstract: Quang Tri Province has numerous outstanding advantages for tourism development, including a distinctive system of historical and revolutionary heritage sites, rich marine and island resources, and a strategic location on the East–West Economic Corridor. Based on an analysis of the tourism development situation during the 2021-2025 period, this article proposes solutions to enhance the efficiency of exploiting tourism potential, promote in-depth growth, and realize the goal of developing tourism into a spearhead economic sector in Quang Tri Province.
Keywords: Tourism; spearhead economic sector; sustainable development; Quang Tri Province.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, du lịch ngày càng được khẳng định là ngành kinh tế tổng hợp có khả năng tạo giá trị gia tăng cao, thúc đẩy liên kết ngành, tạo việc làm và lan tỏa động lực phát triển đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Nhận thức rõ vai trò đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Đây không chỉ là định hướng chiến lược ở tầm quốc gia mà còn là yêu cầu đặt ra đối với các địa phương có tiềm năng và lợi thế về phát triển du lịch.
Trong bối cảnh đó, tỉnh Quảng Trị nổi lên như một địa phương sở hữu nhiều nguồn lực đặc sắc để phát triển du lịch, từ hệ thống di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu, không gian văn hóa mang đậm giá trị hòa bình đến tài nguyên biển đảo, sinh thái và vị trí cửa ngõ trên hành lang kinh tế Đông – Tây. Đặc biệt, Quyết định số 719/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 về điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Trị thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định du lịch là một trong bốn trụ cột phát triển của tỉnh; đồng thời, định hướng xây dựng Quảng Trị trở thành trung tâm du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc tế, một cực tăng trưởng quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ. Đây vừa là cơ hội lớn, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu những điều kiện, giải pháp và mô hình phát triển phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Giai đoạn 2021 – 2025, ngành Du lịch tỉnh Quảng Trị đã phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch Covid-19, đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng về lượng khách và doanh thu. Tuy nhiên, những hạn chế về chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng, hạ tầng dịch vụ, nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh điểm đến vẫn là những rào cản đáng kể đối với mục tiêu phát triển bền vững. Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích tiềm năng, lợi thế và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2021 – 2025, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn tới.
2. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2021 – 2025
Sau đại dịch Covid-19, ngành Du lịch tỉnh Quảng Trị phục hồi mạnh mẽ và tăng trưởng vượt bậc. Tổng lượt khách tăng từ 1.083.826 lượt (năm 2021) lên 9.200.000 lượt (năm 2025), tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 70,7%/năm. Trong đó, khách quốc tế tăng từ 6.167 lượt (năm 2021) lên 376.000 lượt (năm 2025), tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 179,4%/năm, phản ánh đà phục hồi rất mạnh sau điểm xuất phát thấp (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, 2026).
Cơ cấu thị trường quốc tế có sự dịch chuyển tích cực: tỷ trọng khách châu Âu tăng từ 27,7% (năm 2022) lên 60,8% (năm 2024), khách châu Mỹ tăng từ 7,3% lên 15,1%. Đây là các thị trường thường có thời gian lưu trú dài và mức chi tiêu cao, phù hợp với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng của ngành. Khách nội địa vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo, trên 95% trong các năm đầu giai đoạn, tạo nền tảng quy mô khách ổn định nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro phụ thuộc vào thị trường có tính mùa vụ cao.
Tổng thu từ khách du lịch tăng từ 1.004 tỷ đồng (năm 2021) lên 10.580 tỷ đồng (năm 2025), tức tăng hơn 10,5 lần. Tuy nhiên, tốc độ tăng doanh thu vẫn thấp hơn tốc độ tăng lượt khách cho thấy, chi tiêu bình quân trên mỗi khách còn ở mức thấp. Ước tính năm 2025, chi tiêu bình quân trên mỗi khách đạt khoảng 1,15 triệu đồng/người/lượt, thấp hơn so với các tỉnh có ngành Du lịch phát triển mạnh trong khu vực, phản ánh dư địa lớn để nâng cao giá trị gia tăng của ngành.
Hệ thống cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh có 34 khách sạn đăng ký xếp hạng từ 1 – 5 sao, với tổng 2.570 buồng, trong đó có 3 khách sạn 5 sao (Sun Spa Resort, Melia Vinpearl Quảng Bình, Gold Coast Resort & Spa), 7 khách sạn 4 sao và 09 khách sạn 3 sao. Công suất sử dụng buồng lưu trú tăng từ 30% (năm 2021) lên 65% (năm 2025), tăng 35 điểm phần trăm, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của nhu cầu du lịch. Khu vực Đồng Hới là trung tâm lưu trú chất lượng cao nhất tỉnh, đóng vai trò đầu mối phục vụ phân khúc khách quốc tế, khách nghỉ dưỡng, hội nghị, hội thảo. Trong khi đó, khu vực biển Cửa Việt – Cửa Tùng – Cồn Cỏ, dù được định hướng trở thành khu du lịch quốc gia, vẫn chủ yếu có cơ sở lưu trú hạng 1 – 3 sao và thiếu các khu nghỉ dưỡng biển quy mô lớn (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, 2026).
Giai đoạn 2021 – 2025, lĩnh vực du lịch thu hút tổng cộng 24 dự án được cấp chủ trương đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tập trung vào nghỉ dưỡng cao cấp, sinh thái và giải trí. Tiêu biểu là Khu biệt thự nghỉ dưỡng FLC Hải Ninh 2 với tổng đầu tư 1.451 tỷ đồng, quy mô 20,39 ha và Khu du lịch nghỉ dưỡng khu vực quảng trường biển Nhật Lệ 2 tại Bảo Ninh, với tổng đầu tư 648 tỷ đồng, quy mô 3,6 ha). Về đầu tư công, dự án “Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch hỗ trợ tăng trưởng toàn diện khu vực tiểu vùng Mê Công – Giai đoạn 2 (GMS)” tại Cửa Việt – Cửa Tùng với 258 tỷ đồng, vốn vay ADB) đã hoàn thành năm 2024, tạo trục hạ tầng du lịch biển hiện đại, phục vụ mục tiêu xây dựng khu du lịch quốc gia Cửa Việt – Cửa Tùng – Cồn Cỏ. Tỉnh cũng triển khai quy hoạch phân khu du lịch sinh thái tại Brai – Tà Puồng (170 ha) và Thác Ba Vòi (120 ha); hỗ trợ phát triển mô hình du lịch thích ứng thiên tai tại Tân Hóa, các làng văn hóa du lịch tại Mai Thủy, Cảnh Dương theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, 2026).
Hệ thống sản phẩm du lịch của tỉnh ngày càng phong phú, bám sát lợi thế tài nguyên từng vùng. Khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng tiếp tục giữ vai trò trung tâm du lịch sinh thái – mạo hiểm. Đến tháng 10/2025, đã đón gần 900.000 lượt du khách. Sản phẩm mới “Đường Trường Sơn huyền thoại – Hang Chỉ huy” tạo điểm nhấn quan trọng cho không gian du lịch phía Tây. Các tuyến tham quan gắn với Thành Cổ Quảng Trị, Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Địa đạo Vịnh Mốc và tuyến đường 9 – Khe Sanh – sân bay Tà Cơn tiếp tục là lợi thế cạnh tranh đặc trưng của du lịch văn hóa lịch sử. Làng Tân Hóa được Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) vinh danh là Làng Du lịch tốt nhất năm 2023; khu vực Phong Nha liên tục được Booking.com bình chọn là điểm đến thân thiện nhất Việt Nam (năm 2023, 2024). Công tác xúc tiến quảng bá được đẩy mạnh theo hướng đa kênh, kết hợp truyền thông số và liên kết vùng, tăng cường liên kết không gian du lịch theo tuyến DMZ và tuyến Khe Sanh – đường 9 – Phong Nha (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, 2026).
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Du lịch tỉnh Quảng Trị vẫn còn những hạn chế sau:
(1) Hai không gian du lịch trọng điểm là Phong Nha – Kẻ Bàng và Cửa Việt – Cửa Tùng – Cồn Cỏ vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để được công nhận là khu du lịch quốc gia. Hạ tầng dịch vụ, cơ sở lưu trú cao cấp và hệ thống trung tâm thông tin du khách chưa được đầu tư tương xứng. Khu vực biển Cửa Việt – Cửa Tùng chưa có bến du lịch chuyên dụng và công viên bờ biển quy mô lớn. Toàn tỉnh còn thiếu trung tâm mua sắm – giải trí quy mô lớn, dịch vụ vui chơi ban đêm, thể thao biển và dịch vụ nghỉ dưỡng tích hợp.
(2) Chi tiêu bình quân trên mỗi khách du lịch ở mức thấp (khoảng 1,15 triệu đồng/người năm 2025) cho thấy, ngành Du lịch chưa khai thác hết tiềm năng giá trị gia tăng. Sản phẩm du lịch tuy đa dạng nhưng chưa tạo được sự khác biệt nổi bật; còn mang tính đơn lẻ, thiếu đồng bộ, chưa hình thành chuỗi sản phẩm hoàn chỉnh có khả năng kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của khách. Các loại hình du lịch cao cấp, du lịch hội nghị, hội thảo, du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch đêm chưa được hình thành (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, 2026).
(3) Hạ tầng số phục vụ du lịch chưa phát triển tương xứng. Tỉnh chưa có hệ thống bản đồ số du lịch hoàn chỉnh, cổng thông tin du lịch thông minh, hệ thống vé điện tử và quản lý lưu trú tập trung, thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu thị trường và xây dựng chiến lược marketing điểm đến.
(4) Không gian phát triển du lịch mất cân đối giữa các vùng: trong khi Đồng Hới, Phong Nha và khu vực ven biển phát triển mạnh, vùng phía Tây và phía Bắc còn phát triển chậm, thiếu dịch vụ bổ trợ và chưa khai thác được tiềm năng sẵn có. Tính mùa vụ vẫn hiện hữu rõ nét, nhất là đối với du lịch biển, tạo áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng và nhân lực trong mùa cao điểm; đồng thời, gây lãng phí nguồn lực vào mùa thấp điểm.
(5) Công tác điều tra, đánh giá và phân loại tài nguyên du lịch chưa được thực hiện toàn diện dẫn đến thiếu dữ liệu phục vụ quy hoạch và hoạch định chính sách. Thu hút đầu tư quy mô lớn theo hình thức xã hội hóa còn hạn chế, chưa hình thành được các dự án có tính chất đột phá để dẫn dắt thị trường và tạo cực tăng trưởng mới. Chưa có cơ chế, chính sách đặc thù đủ mạnh để thúc đẩy phát triển các khu du lịch trọng điểm.
(6) Công tác xúc tiến quảng bá chưa bài bản, chưa xây dựng được chiến lược dài hạn, đồng bộ và mang bản sắc riêng. Thông điệp “Du lịch Quảng Trị – Khát vọng hòa bình”, dù có giá trị thương hiệu lớn, vẫn chưa được định vị và truyền thông nhất quán. Tỉnh chưa có chiến dịch tiếp thị chuyên sâu hướng tới các thị trường khách quốc tế tiềm năng như châu Âu, Đông Bắc Á hay phân khúc khách hội nghị, hội thảo và khách nghỉ dưỡng cao cấp.
3. Một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị thành ngành kinh tế mũi nhọn
Để du lịch Quảng Trị thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn 2026 – 2030, hướng tới mục tiêu đón từ 13 – 15 triệu lượt khách, với tỷ lệ đóng góp vào GRDP đạt khoảng 10%, tỉnh Quảng Trị cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo đột phá thu hút đầu tư. Cần rà soát, ban hành chính sách ưu đãi đầu tư có tính cạnh tranh cao, đặc biệt ưu tiên các nhà đầu tư chiến lược vào các dự án tổ hợp nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí quy mô lớn và khu du lịch cao cấp tại hai vùng trọng điểm Phong Nha – Kẻ Bàng và Cửa Việt – Cửa Tùng – Cồn Cỏ. Cần xây dựng cơ chế đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã kiểu mới tham gia phát triển du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp và du lịch làng nghề để người dân địa phương trực tiếp tham gia và hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Đẩy mạnh mô hình hợp tác công – tư trong đầu tư hạ tầng du lịch, bảo tồn di sản và phát triển sản phẩm, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước; đồng thời, phát huy hiệu quả nguồn lực tư nhân.
Hai là, xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch đặc trưng, có khả năng cạnh tranh cao. Cần tập trung phát triển bốn trụ cột sản phẩm cốt lõi: (1) Du lịch sinh thái, hang động và mạo hiểm, định vị Quảng Trị là trung tâm du lịch mạo hiểm đẳng cấp quốc tế gắn với hệ thống hang động thế giới tại Phong Nha – Kẻ Bàng; (2) Du lịch văn hóa, lịch sử và tâm linh, nâng tầm chuỗi di tích quốc gia đặc biệt thành hành trình “Tri ân – Khát vọng hòa bình”; (3) Du lịch biển đảo, nghỉ dưỡng và thể thao gắn với chuỗi đô thị biển hiện đại; (4) Du lịch hội nghị, hội thảo, kinh tế đêm và du lịch biên mậu qua các cửa khẩu quốc tế nhằm khắc phục tính mùa vụ. Ưu tiên phát triển sản phẩm cao cấp để nâng mức chi tiêu bình quân trên khách.
Ba là, đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, trọng tâm là hạ tầng giao thông và hạ tầng số. Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào khai thác Cảng hàng không Quảng Trị, nâng cấp Cảng hàng không Đồng Hới, hình thành hệ thống hàng không kép tạo sức mạnh kết nối vùng; tăng cường đường bay nội địa và quốc tế trực tiếp. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng hạ tầng số du lịch, gồm: bản đồ số, cổng du lịch thông minh, hệ thống vé điện tử, quản lý lưu trú tập trung và cơ sở dữ liệu lớn phục vụ nghiên cứu thị trường.
Bốn là, đổi mới toàn diện công tác quảng bá, xúc tiến và liên kết phát triển du lịch. Cần xây dựng chiến lược quảng bá dài hạn với thông điệp thống nhất “Du lịch Quảng Trị – Khát vọng hòa bình”; triển khai chiến dịch tiếp thị chuyên sâu hướng tới từng phân khúc thị trường mục tiêu, đặc biệt là khách châu Âu, Đông Bắc Á và khách hội nghị, hội thảo. Tập trung vào cụm liên kết Quảng Trị – Huế – Đà Nẵng; đẩy mạnh hợp tác du lịch xuyên biên giới theo Hành lang kinh tế Đông – Tây với các tỉnh thuộc CHDCND Lào và Thái Lan; phối hợp với các đài truyền hình, báo chí lớn, người nổi tiếng và mạng xã hội để mở rộng độ phủ thương hiệu điểm đến.
Năm là, phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Cần đổi mới chương trình đào tạo gắn với thực tiễn nghề nghiệp và kỹ năng số; tăng cường đào tạo hướng dẫn viên thông thạo đa ngoại ngữ (tiếng Đức, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản) để phục vụ tốt hơn các thị trường khách trọng điểm; xây dựng cơ sở dữ liệu lao động trong ngành phục vụ quy hoạch nhân lực dài hạn và có cơ chế thu hút chuyên gia, nhân lực chất lượng cao về làm việc tại tỉnh.
Sáu là, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển du lịch theo hướng xanh, bền vững. Chuyển đổi số cần được triển khai toàn diện từ quản lý nhà nước đến dịch vụ du khách, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) vào hoạt động quản lý và kinh doanh du lịch. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ phát triển du lịch với bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống cộng đồng; áp dụng tiêu chuẩn du lịch xanh, hướng tới mục tiêu giảm phát thải ròng bằng 0, bảo đảm du lịch Quảng Trị tăng trưởng bền vững và có trách nhiệm trong dài hạn.
4. Kết luận
Thực tiễn giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy, du lịch Quảng Trị đã có bước phát triển tích cực, từng bước khẳng định vai trò là ngành kinh tế quan trọng của địa phương. Tuy nhiên, để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch tỉnh cần vượt qua những hạn chế mang tính cấu trúc về sản phẩm, hạ tầng, nguồn nhân lực và chuyển đổi số. Lợi thế tài nguyên chỉ có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng khi được gắn với các sản phẩm du lịch đặc trưng, chất lượng cao và có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và gia tăng đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2017). Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
2. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị (2025). Báo cáo số 27/BC-SVHTTDL ngày 22/01/2025 về việc báo cáo tình hình thực hiện Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Đề án Kế hoạch cơ cấu lại ngành dịch vụ đến năm 2030, định hướng đến năm 2025.
3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị (2026). Báo cáo thực trạng du lịch tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2020 – 2025, nhiệm vụ và giải pháp phát triển du lịch giai đoạn 2026 – 2030.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị (2026). Quyết định số 719/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Trị thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
5. Tỉnh ủy Quảng Trị (2023). Báo cáo số 247-BC/TU ngày 16/01/2023 về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.



