Solutions for allocating financial resources and improving their utilization efficiency for science, technology and innovation activities in Quang Ninh province
TS. Nguyễn Thị Hồng
Trường Đại học Ngoại thương
Email: hongnt@ftu.edu.vn
NCS. ThS. Nguyễn Thị Hiền
Trường Đại học Ngoại thương
Hoàng Thanh Tú, Nguyễn Ngọc Khánh,
Lưu Linh Trang và Nguyễn Phương Thảo
Sinh viên K64, Trường Đại học Ngoại thương
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, việc bảo đảm phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả thực thi chính sách khoa học – công nghệ. Trên cơ sở phân tích, đánh giá mức độ phân bổ và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo tại tỉnh Quảng Ninh, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng, bài viết đề xuất giải pháp phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính tại tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.
Từ khóa: Khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; nguồn lực tài chính; phân bổ; hiệu quả; tỉnh Quảng Ninh.
Abstract: As science, technology, and innovation increasingly become key drivers of economic growth, ensuring the rational allocation and efficient use of financial resources is crucial to the effective implementation of science and technology policies. Based on an analysis and assessment of the allocation and utilization of financial resources for science, technology, and innovation activities in Quang Ninh Province, this article identifies the causes of the current situation and proposes solutions for the allocation and improved utilization of financial resources in Quang Ninh Province in the coming period.
Keywords: Science, technology; innovation; financial resources; allocation; efficiency; Quang Ninh Province.
1. Đặt vấn đề
Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ đang dịch chuyển sang tri thức, công nghệ và năng suất, đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, năng suất lao động và thúc đẩy phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu thực tiễn đã khẳng định rằng đầu tư vào các lĩnh vực này có tác động tích cực đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), tăng trưởng tổng sản phẩm địa phương (GRDP) và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Qua đó, đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả.
Tại tỉnh Quảng Ninh, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực quan trọng đạt nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, việc phân bổ nguồn lực giữa các nhiệm vụ, lĩnh vực và chủ thể thực thi nhiệm vụ này vẫn chưa thực sự hợp lý. Hiệu quả sử dụng nguồn lực ở một số lĩnh vực chưa tương xứng với mức đầu tư; cơ chế phân bổ ngân sách còn tồn tại những bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều này cho thấy cần đánh giá toàn diện cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính nhằm nhận diện những hạn chế và hoàn thiện chính sách này trong giai đoạn tới.
Xuất phát từ đó, nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021 – 2025; đánh giá kết quả, chỉ ra nguyên nhân và hạn chế của thực trạng, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh trong thời gian tới.
2. Cơ sở khoa học về hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại tỉnh Quảng Ninh
2.1. Các tiếp cận nghiên cứu
Nguồn lực tài chính cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm nguồn từ ngân sách nhà nước và nguồn ngoài ngân sách nhà nước. Nguồn ngoài ngân sách nhà nước được huy động từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thông qua các hình thức như quỹ đầu tư mạo hiểm, gọi vốn cộng đồng và các chương trình hỗ trợ (Đỗ Hoài Linh & cộng sự, 2024).
Theo Samuelson và Nordhaus, do nguồn lực luôn khan hiếm nên vấn đề phân bổ nguồn lực theo mục đích sử dụng khác nhau nhằm đạt hiệu quả tổng thể về kinh tế là một trong những vấn đề trung tâm của kinh tế học (Samuelson và Nordhaus, 2010). Kế thừa quan điểm ấy, phân bổ nguồn lực tài chính được hiểu là quá trình phân chia và sử dụng các nguồn vốn giữa các lĩnh vực, chương trình hoặc chủ thể nhằm đạt được mục tiêu phát triển với hiệu quả cao nhất.
Trên phương diện lý thuyết, hiệu quả kinh tế được xem xét thông qua mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra của một tổ chức hoặc đơn vị (Carter & Koopmans, 1952; Debreu, 1951; Farrell, 1957). Đối với khu vực công, hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính được đánh giá dựa trên lợi ích Nhà nước và cộng đồng thu được từ việc phân bổ, đầu tư và sử dụng ngân sách cho các chương trình, dự án công (Lại Văn Tùng, 2018). Hiệu quả sử dụng nguồn lực bao gồm hiệu quả kỹ thuật, phản ánh khả năng tối thiểu hóa đầu vào để tạo ra một mức đầu ra nhất định, và hiệu quả phân bổ, thể hiện việc lựa chọn cơ cấu đầu vào tối ưu nhằm đạt được chi phí thấp nhất (Coelli & Rao, 2005).
2.2. Cơ sở pháp lý
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh ứng dụng và phát triển khoa học – công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đồng thời chủ động, tích cực tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Kế thừa định hướng, tỉnh Quảng Ninh cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và văn bản nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh, đó là: Nghị quyết số 148/2018/NQ-HĐND ngày 07/12/2018 về việc ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020; Nghị quyết số 313/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020 về một số cơ chế tài chính khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong hoạt động khoa học, công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021 – 2025; Quyết định số 3354/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 về việc phê duyệt Chương trình phát triển doanh khoa học – công nghệ; hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025; Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND ngày 09/12/2022 về chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ; chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học đối với viên chức trường đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ, viên chức các đơn vị sự nghiệp công lập lĩnh vực y tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023 – 2025; Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 17/7/2025 về chính sách thu hút, hỗ trợ nhân lực về khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các cơ quan của hệ thống chính trị thuộc tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 – 2030.
3. Thực trạng phân bổ và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại tỉnh Quảng Ninh
3.1. Hoạt động khoa học, công nghệ
Một là, về phân bổ các nguồn lực tài chính.
Quảng Ninh đã ban hành nhiều chính sách, văn bản phân bổ các nguồn lực tài chính cho các hoạt động khoa học, công nghệ. Tiêu biểu là Nghị quyết số 313/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh về các chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân làm khoa học, công nghệ, bao gồm ưu đãi thuế, vay vốn, bảo lãnh tín dụng, trợ giá tiêu thụ sản phẩm. Các chính sách hỗ trợ 3 mục tiêu chính: hỗ trợ hoạt động xác lập quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ trong lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, hỗ trợ trong lĩnh vực công nghệ và thị trường công nghệ.
Trong giai đoạn 2021 – 2025, triển khai Nghị quyết số 313/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020 của HĐND tỉnh, nhiều lĩnh vực đã được hỗ trợ với tổng kinh phí 4.625 triệu đồng (xem Bảng 1).
Bảng 1. Các lĩnh vực khoa học, công nghệ được hỗ trợ trong giai đoạn 2021-2025
| Lĩnh vực | Số lượt hỗ trợ |
| Chuyển giao công nghệ | 1 |
| Sáng chế | 9 |
| Giải pháp hữu ích | 8 |
| Sản phẩm OCOP (mỗi xã một sản phẩm – One Commune One Product) | 112 |
| Giải thưởng chất lượng quốc gia | 4 |
| Hệ thống quản lý tiên tiến | 45 |
| Tổng cộng | 163 |
Mức kinh phí hỗ trợ cho các lĩnh vực theo Nghị quyết số 313/2020/NQ-HĐND theo từng năm tăng mạnh, từ 355 triệu đồng năm 2021 lên lần lượt 690 triệu đồng năm 2022; 800 triệu đồng năm 2023; 1.410 triệu đồng năm 2024 và 1.370 triệu đồng năm 2025 (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2025). Bên cạnh đó, tỉnh còn đầu tư ứng dụng công nghệ mới, công nghệ hiện đại trong một số lĩnh vực (xem Bảng 2).
Bảng 2. Các nội dung khoa học – công nghệ được tỉnh Quảng Ninh ưu tiên đầu tư
| Lĩnh vực | Nội dung tiêu biểu |
| Y tế | Kỹ thuật ghép tạng, mổ nội soi tuyến giáp |
| Du lịch | Triển khai gắn mã QR-code, lắp đặt camera giám sát trong hang động |
| Khai thác than | Giải pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn cho khai thác than hầm lò, công nghệ an toàn rò điện trong mỏ hầm lò |
| Nông nghiệp | Công nghệ nuôi tôm 3 sạch, trạm đo mưa tự động |
| Phóng xạ | Sửa chữa, mua sắm thiết bị cảnh báo phóng xạ môi trường; diễn tập phòng ngừa ứng phó sự cố phóng xạ xuyên biên giới |
Tỉnh Quảng Ninh còn đầu tư nguồn lực cho phát triển thị trường khoa học, công nghệ dựa trên Chương trình phát triển thị trường khoa học, công nghệ quốc gia đến năm 2030 theo Quyết định số 1158/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, tỉnh còn đầu tư nguồn lực cho phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ theo Quyết định số 3354/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 của UBND tỉnh.
Tỉnh Quảng Ninh chú trọng phân bổ ngân sách nhà nước cho nguồn nhân lực khoa học, công nghệ bằng các chính sách tài chính đặc thù. Về tuyển dụng, thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực cao, tỉnh đã và đang ban hành Kế hoạch 73/KH-UBND ngày 13/3/2024 của UBND tỉnh về chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh năm 2024. Theo đó, tập trung đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, cộng đồng; hợp tác đào tạo giữa doanh nghiệp và trường đại học.
Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng dành nguồn tài chính để thực hiện công tác đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ. Tính đến tháng 4/2026, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và Tổng Công ty Đông Bắc đã chi hàng chục tỷ đồng cho công tác đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ tại tập đoàn và công ty (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026).
Hai là, về kết quả và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính.
Giai đoạn 2021 – 2025, tỉnh đã thực hiện 163 lượt hỗ trợ khoa học, công nghệ với tổng kinh phí 4.625 triệu đồng (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026). Điều này khẳng định chính sách đã đi vào thực tiễn, tạo được cơ chế hỗ trợ tài chính tương đối rõ ràng, dễ tiếp cận và có mức hấp thụ tăng dần theo từng năm. Nhóm hỗ trợ sản phẩm OCOP (mỗi xã một sản phẩm) phát huy hiệu quả trực tiếp, góp phần chuẩn hóa, nâng hạng, gia tăng giá trị thương mại cho sản phẩm đặc trưng địa phương; phù hợp với cơ cấu doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh của tỉnh. Bên cạnh đó, hoạt động xác lập quyền sở hữu trí tuệ đã có chuyển biến bước đầu thông qua số lượng sáng chế và giải pháp hữu ích được hỗ trợ; tạo tiền đề cho thương mại hóa tài sản trí tuệ và phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ.
Giai đoạn 2020 – 2025, toàn tỉnh có 104/115 (90,1%) nhiệm vụ khoa học, công nghệ được duy trì, ứng dụng vào thực tiễn. Đến năm 2025, tổng số doanh nghiệp khoa học, công nghệ là 35, trong đó, có 01 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; 38 doanh nghiệp trẻ khởi nghiệp sáng tạo.
Về thu hút cán bộ, chuyên gia khoa học, công nghệ, tỉnh đã tuyển dụng thành công 29 công chức, nhân lực chất lượng cao. Tỉnh có tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học đạt 13 người/10.000 dân. Trong giai đoạn 2023 – 2025, tỉnh tổ chức 232 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho 15.113 lượt học viên, đào tạo các lĩnh vực an toàn thông tin mạng, chuyển đổi số và năng lượng tại Nhật Bản; trí tuệ nhân tạo và bảo mật an toàn thông tin mạng (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026). Đồng thời, tỉnh phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức đào tạo về quản lý các hoạt động chuyển giao, đổi mới công nghệ; sở hữu trí tuệ; truy xuất nguồn gốc hàng hóa; an toàn bức xạ hạt nhân.
Ba là, những hạn chế và nguyên nhân.
Quảng Ninh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc thúc đẩy khoa học, công nghệ. Tuy vậy, khi triển khai thực tiễn vẫn còn những bất cập cần được tháo gỡ để tạo động lực phát triển mạnh mẽ hơn lĩnh vực này trong giai đoạn tới. Cụ thể:
Cơ cấu hỗ trợ còn mất cân đối, tập trung quá lớn vào OCOP và hệ thống quản lý tiên tiến; các nội dung có chiều sâu đổi mới sáng tạo chưa được hỗ trợ tương xứng. Hỗ trợ chuyển giao công nghệ rất thấp, mới ghi nhận 01 trường hợp trong cả giai đoạn; chưa hình thành được cơ chế thúc đẩy mạnh việc hấp thụ và làm chủ công nghệ mới trong khu vực doanh nghiệp tư nhân. Số lượng sáng chế và giải pháp hữu ích còn khiêm tốn so với tiềm năng; chính sách hiện hành chủ yếu hỗ trợ ở đầu ra đã được cấp văn bằng, chưa có gói hỗ trợ đủ mạnh cho giai đoạn tiền đăng ký, thử nghiệm, hoàn thiện bản mô tả và thương mại hóa. Một số nội dung chính sách Nghị quyết số 313/2020/NQ-HĐND đã cho phép như truy xuất nguồn gốc, công bố hợp chuẩn/hợp quy, bảo hộ ở nước ngoài, bài báo quốc tế… chưa được triển khai, hỗ trợ (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2025).
Các tồn tại trên được lý giải bởi các nguyên nhân, đó là: (1) Hạ tầng về khoa học, công nghệ của tỉnh vẫn còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu: Các trung tâm dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành có thế mạnh của tỉnh; (2) Đa số doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh trên địa bàn có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính và công nghệ còn hạn chế; do đó thường ưu tiên các nội dung có tác động ngắn hạn, dễ hấp thụ như OCOP, chứng nhận chất lượng và an toàn thực phẩm; (3) Một số nội dung hỗ trợ có yêu cầu kỹ thuật cao, hồ sơ phức tạp hoặc đòi hỏi năng lực tư vấn chuyên sâu (như sáng chế, chuyển giao công nghệ, truy xuất nguồn gốc số,…) nên mức độ tham gia của doanh nghiệp còn thấp.
3.2. Thực trạng phân bổ và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho hoạt động đổi mới sáng tạo
Thứ nhất, về phân bổ nguồn lực tài chính.
Giai đoạn 2021 – 2025, Quảng Ninh ưu tiên phân bổ cho phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực đổi mới của doanh nghiệp và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững. Nguồn lực tài chính được phân bổ tập trung vào ba nhóm trọng tâm:
(1) Nguồn lực tài chính phân bổ nhằm xây dựng nền tảng và môi trường hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo. Quảng Ninh chuyển từ hỗ trợ các hoạt động đổi mới riêng lẻ sang đầu tư hạ tầng số, cơ sở dữ liệu dùng chung và các không gian kết nối doanh nghiệp, nhà đầu tư với các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hỗ trợ 50% kinh phí đầu tư đổi mới công nghệ, tối đa 2 tỷ đồng/dự án (Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2018). Tiếp đó, Thực hiện Quyết định số 3354/QĐ-UBND ngày 15/11/2022 về Chương trình phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2025, tỉnh tiếp tục hình thành mạng lưới hỗ trợ, kết nối đầu tư và thương mại hóa sản phẩm đổi mới.
(2) Tỉnh Quảng Ninh huy động nguồn lực tài chính thông qua thu hút đầu tư vào các lĩnh vực có hàm lượng đổi mới cao. Bên cạnh ngân sách nhà nước, tỉnh tập trung thu hút vốn đầu tư tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao và sản xuất thông minh. Năm 2025, tỉnh thu hút khoảng 480.000 tỷ đồng vốn ngoài ngân sách nhà nước và 528,65 triệu USD vốn FDI. Nguồn vốn này góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và phát triển hệ sinh thái ĐMST thông qua các dự án tiêu biểu như Khu công nghệ số tập trung Tuần Châu (Nguyễn Huế, 6/12/2025; Văn Đạt, 19/12/2025).
(3) Nguồn lực tài chính được phân bổ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và chuyển đổi số. Tiêu biểu, tháng 11/2025, Hội nghị xúc tiến đầu tư phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã thu hút hơn 16.000 tỷ đồng từ 7 dự án đầu tư, góp phần bổ sung nguồn lực cho hoạt động đổi mới công nghệ (Thu Chung, 24/11/2025).
Thứ hai, kết quả và hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính.
Việc phân bổ nguồn lực tài chính cho hoạt động đổi mới sáng tạo tại Quảng Ninh cơ bản phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, trong đó, tập trung vào các lĩnh vực có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nguồn lực tài chính được ưu tiên cho ba nhóm trọng tâm: (1) Xây dựng nền tảng và môi trường hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo; (2) Thu hút đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có hàm lượng đổi mới cao; (3) Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và chuyển đổi số. Việc đầu tư hạ tầng số, nền tảng dữ liệu dùng chung và hạ tầng viễn thông góp phần nâng cao hiệu quả quản trị công, cải thiện chất lượng dịch vụ công; đồng thời, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, việc ưu tiên phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế theo định hướng công nghệ cao đã gắn kết chính sách đổi mới sáng tạo với chiến lược thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp. Sự tham gia của các tập đoàn công nghệ lớn không chỉ bổ sung nguồn lực tài chính mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghệ cao. Đồng thời, nguồn lực tài chính được sử dụng để hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và từng bước hình thành lực lượng doanh nghiệp nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của tỉnh.
Hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính được phản ánh qua sự cải thiện của nhiều chỉ tiêu về đổi mới sáng tạo và năng suất. Năm 2020, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 45,24% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, vượt 13,1% so với mục tiêu trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về phát triển khoa học, công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tỷ lệ đóng góp của TFP vào GRDP tăng từ 43,48% năm 2021 lên 50,01% năm 2023 và tiếp tục duy trì trên 50% trong giai đoạn 2024 – 2025. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (Provincial Innovation Index – PII) cũng được cải thiện rõ rệt, từ vị trí thứ 9 (năm 2023) lên thứ 6 (năm 2024), đạt 47,82 điểm; đồng thời đứng thứ 3 cả nước năm 2025 với 58,41 điểm (Quỳnh Nga, 28/5/2025).
Bảng 3: Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính cho đổi mới sáng tạo tại tỉnh Quảng Ninh
giai đoạn 2021 – 2025
| Chỉ tiêu | Giá trị đầu kỳ | Giá trị cuối kỳ | Mức thay đổi |
| Đóng góp TFP vào GRDP (%) | 43,48 (2021) | >50 (2025) | Tăng hơn 6,5 điểm % |
| Điểm số PII | 48,03 (2023) | 58,41 (2025) | +10,38 điểm |
| Xếp hạng PII | 9 (2023) | 3 (2025) | Tăng 6 bậc |
Thứ ba, nguyên nhân và hạn chế
Hiệu quả hấp thụ và sử dụng nguồn lực tài chính chưa đồng đều giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Việc chuyển hóa nguồn lực thành kết quả nghiên cứu, sản phẩm công nghệ và thương mại hóa còn hạn chế; sự tham gia của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vào hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ chưa cao. Cơ cấu phân bổ nguồn lực tài chính chưa cân đối, vẫn ưu tiên đầu tư hạ tầng số, chuyển đổi số và các dự án quy mô lớn, trong khi nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) từ khu vực doanh nghiệp còn khiêm tốn, khiến nguồn lực xã hội dành cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo chưa được huy động hiệu quả.
Các hạn chế trên chủ yếu xuất phát từ việc hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của tỉnh vẫn trong quá trình phát triển, sự liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu chưa chặt chẽ; đồng thời, địa phương vẫn ưu tiên nguồn lực cho đầu tư hạ tầng nhằm phục vụ tăng trưởng kinh tế ngắn hạn. Bên cạnh đó, hoạt động R&D đòi hỏi chi phí lớn, thời gian thu hồi dài và tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong khi phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và vừa với năng lực tài chính và công nghệ còn hạn chế.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, thể chế hóa cơ chế “Sandbox địa phương” cho các mô hình và giải pháp công nghệ mới
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) là công cụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư công nghệ. Quảng Ninh cần xây dựng Sandbox cho các lĩnh vực chiến lược như du lịch thông minh, AI trong y tế, logistics số và nông nghiệp công nghệ cao, kèm cơ chế xử lý rủi ro công nghệ khách quan trong phạm vi thử nghiệm. Về tổ chức thực hiện, UBND tỉnh giữ vai trò chỉ đạo, cơ quan chuyên môn làm đầu mối quản lý; Hội đồng tư vấn đa ngành thực hiện thẩm định, giám sát và đánh giá, trong khi doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và viện nghiên cứu trực tiếp triển khai thử nghiệm.
Quy trình thực thi “Sandbox địa phương” theo 4 bước, đó là xác định lĩnh vực, phạm vi và điều kiện tham gia; tiếp nhận, thẩm định và phê duyệt hồ sơ; triển khai thử nghiệm có kiểm soát và giám sát định kỳ; đánh giá kết quả để quyết định tiếp tục, điều chỉnh, chấm dứt hoặc mở rộng. Trên cơ sở đó, cần thiết lập thời hạn xử lý hồ sơ rõ ràng, quy định cụ thể phạm vi thử nghiệm, giới hạn rủi ro, tiêu chí đánh giá và trách nhiệm của từng chủ thể. Đối với các dự án đáp ứng đầy đủ tiêu chí về hiệu quả công nghệ và tác động kinh tế – xã hội, tỉnh có thể ưu tiên mở rộng quy mô, tích hợp vào các chương trình phát triển chính thức và tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính phù hợp.
Để cơ chế Sandbox vận hành an toàn, điều kiện tiên quyết là xây dựng cơ chế quản trị rủi ro gắn với bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và quyền lợi người dân. Việc miễn trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm đối với rủi ro công nghệ khách quan chỉ nên áp dụng trong phạm vi, thời gian và điều kiện thử nghiệm được phê duyệt, tránh trở thành cơ chế miễn trừ chung. Về nguồn lực, tỉnh cần huy động đội ngũ chuyên gia đa ngành, đồng thời kết hợp ngân sách địa phương với các quỹ hỗ trợ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các nguồn vốn hợp pháp khác để hỗ trợ những dự án có tiềm năng và đã chứng minh được hiệu quả sau giai đoạn thử nghiệm.
Thứ hai, phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra và chỉ số đánh giá
Tỉnh cần xây dựng cơ chế tổ chức chỉ đạo chuyển đổi phương thức phân bổ ngân sách theo hướng tăng tỷ trọng các tiêu chí về kết quả và tác động trong đánh giá nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cơ quan chuyên môn về khoa học, công nghệ giữ vai trò đầu mối trong xây dựng, cập nhật và theo dõi bộ chỉ số, đồng thời phối hợp với các sở, ngành và địa phương trong thu thập, kiểm chứng dữ liệu. Các sở, ban, ngành, địa phương và đơn vị trực tiếp triển khai nhiệm vụ sẽ chịu trách nhiệm thực hiện mục tiêu, báo cáo kết quả và cung cấp dữ liệu phục vụ đánh giá.
Quy trình thực hiện cần được chuẩn hóa theo 5 bước, gồm: xây dựng bộ chỉ số; xác định mục tiêu đầu ra; thu thập và đánh giá dữ liệu; xếp hạng kết quả; sử dụng kết quả làm căn cứ xác định mức độ ưu tiên và quy mô ngân sách năm tiếp theo. Bộ chỉ số bao gồm các chỉ số đánh giá chuyển đổi số (Digital Transformation Index – DTI), PII với các chỉ tiêu phản ánh trực tiếp đặc thù của tỉnh Quảng Ninh như mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, tỷ lệ sử dụng nền tảng số, số bằng sáng chế và giải pháp hữu ích, số doanh nghiệp khoa học, công nghệ và hiệu quả kinh tế – xã hội của các nhiệm vụ.
Có thể thấy rằng, vai trò của việc thiết lập hệ thống chỉ số, đánh giá và xếp hạng định kỳ trong theo dõi, so sánh và cải thiện hiệu quả thực thi. Trên cơ sở đó, Quảng Ninh có thể gắn một phần kinh phí khuyến khích và mức độ ưu tiên phân bổ ngân sách năm sau với kết quả đánh giá, qua đó chuyển trọng tâm từ “chi bao nhiêu” sang “tạo ra kết quả gì”.
Nhằm bảo đảm cơ chế đánh giá kết quả thực hiện dựa trên hiệu quả, hệ thống đánh giá cần minh bạch, có khả năng kiểm chứng, kết hợp chỉ tiêu định lượng và định tính, đồng thời có đánh giá độc lập đối với các kết quả quan trọng. Việc phân bổ cũng cần duy trì một tỷ lệ ngân sách cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có tính đột phá, rủi ro cao nhưng tiềm năng tạo tác động lớn. Nguồn lực được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, kinh phí khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quỹ khen thưởng và các nguồn hợp pháp khác.
Thứ ba, số hóa dữ liệu tài chính và quản trị chu trình dựa trên thời gian thực
Nhằm khắc phục tình trạng quản lý thủ công, phân tán gây chậm trễ trong giải ngân, Quảng Ninh cần số hóa toàn bộ chu trình quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên một nền tảng tập trung. Về tính chủ thể, UBND tỉnh đóng vai trò chỉ đạo và giám sát tối cao thông qua các chỉ số KPI thực tế. Sở Khoa học và Công nghệ là đơn vị chủ trì, điều phối hoạt động thẩm định và nghiệm thu, phối hợp liên thông dữ liệu với Sở Tài chính và Kho bạc Nhà nước để đảm bảo dòng vốn được kiểm soát minh bạch, tránh giải ngân sai mục đích.
Quy trình thực thi sẽ được chuẩn hóa qua 5 giai đoạn: Đề xuất trực tuyến, thẩm định liên ngành, phê duyệt điện tử, giải ngân theo kết quả, nghiệm thu & thương mại hóa. Đặc biệt, tỉnh cần áp dụng nghiêm ngặt quy trình “1-3-7” trong xử lý hồ sơ giải ngân (1 ngày phân công, 3 ngày có báo cáo tiến độ, 7 ngày hoàn thành); kết hợp với cơ chế “khoán chi đến sản phẩm cuối cùng”, có thể giúp rút ngắn 20 – 30% thời gian thủ tục hành chính, cho phép vốn luân chuyển nhanh vào các dự án có rủi ro công nghệ cao.
Giám sát thời gian thực sẽ là công cụ then chốt, cung cấp cho lãnh đạo các chỉ số về tỷ lệ giải ngân theo quý (thông lệ mục tiêu đạt 95% vào cuối năm), số dư ngân sách từng nhiệm vụ và cảnh báo sớm dự án chậm tiến độ. Để giải pháp thành công, điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được hạ tầng dữ liệu dùng chung và cam kết mức đầu tư ngân sách cho khoa học, công nghệ đạt tối thiểu 3% tổng chi ngân sách tỉnh. Đồng thời, việc công khai biểu mẫu và kết quả quyết toán trên cổng dữ liệu mở sẽ tạo cơ chế giám sát xã hội, nâng cao tính minh bạch và kỷ luật tài chính công trong hoạt động đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, phát triển hạ tầng dữ liệu dùng chung và dữ liệu mở nhằm biến dữ liệu thành “nguồn vốn sản xuất”
Trong nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực đầu vào quan trọng cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong việc phát triển AI, phân tích dữ liệu lớn và các nền tảng số. Đối với Quảng Ninh, phát triển hạ tầng dữ liệu dùng chung và dữ liệu mở sẽ góp phần giảm chi phí tiếp cận thông tin, nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực công và tạo điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới.
UBND tỉnh Quảng Ninh cần giữ vai trò chỉ đạo, giao cơ quan chuyên môn phụ trách khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm đầu mối quản lý, phối hợp với các sở, ban, ngành rà soát, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu. Quy trình thực hiện gồm rà soát, phân loại các bộ dữ liệu có thể chia sẻ; chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu; xây dựng và vận hành Cổng dữ liệu mở của tỉnh; đồng thời tiếp nhận nhu cầu khai thác dữ liệu từ doanh nghiệp, trường đại học và tổ chức khoa học, công nghệ để điều chỉnh danh mục dữ liệu cung cấp. Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ninh nên ưu tiên các nhóm dữ liệu có giá trị sử dụng cao như quy hoạch, đất đai, môi trường, du lịch, giao thông, y tế và giáo dục.
Tỉnh cần vận dụng mô hình cung cấp dữ liệu miễn phí hoặc với chi phí thấp, qua đó tạo nguồn đầu vào cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ và giúp các tổ chức nghiên cứu giảm chi phí thu thập, xử lý dữ liệu.
Nhằm bảo đảm thực hiện công tác phân bổ tài chính có hiệu quả, chất lượng, cần huy động nguồn lực xã hội hóa. Cần phân định rõ trách nhiệm quản lý, thực thi, kiểm soát chất lượng khoa học, công nghệ giữa các cơ quan; đồng thời bảo đảm an toàn thông tin và tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu khoa học, công nghệ. Qua đó, dữ liệu có thể trở thành một nguồn lực đầu vào góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ năm, đổi mới cơ chế nghiệm thu, đánh giá hậu kiểm theo phạm vi ảnh hưởng thực tế và khả năng thương mại hóa
Tình trạng kết quả nghiên cứu được nghiệm thu nhưng chưa được ứng dụng hoặc thương mại hóa làm giảm khả năng chuyển hóa nguồn lực tài chính đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành các giá trị kinh tế – xã hội thực tế. Vì thế, tỉnh Quảng Ninh cần chuyển từ đánh giá chủ yếu dựa trên hồ sơ và sản phẩm nghiệm thu sang đánh giá khả năng tạo ra tác động thực tế của kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu. Muốn vậy, UBND tỉnh cần giữ vai trò chỉ đạo, giao cơ quan quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo xây dựng và tổ chức cơ chế hậu kiểm đối với các nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước. Sau 12 – 24 tháng kể từ khi nghiệm thu, cơ quan quản lý phối hợp với tổ chức chủ trì, đơn vị tiếp nhận kết quả và hội đồng chuyên gia độc lập để đánh giá tình hình ứng dụng.
Các tiêu chí đánh giá cần tập trung vào: mức độ ứng dụng thực tế của sản phẩm; quy mô, phạm vi ảnh hưởng (số doanh nghiệp, hộ gia đình, cộng đồng hưởng lợi); giá trị kinh tế làm lợi (doanh thu, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất); khả năng nhân rộng sang các địa phương, lĩnh vực khác. Cơ chế này giúp loại bỏ tình trạng nghiên cứu hình thức, đảm bảo ngân sách chỉ dồn vào giải pháp có khả năng tạo giá trị kinh tế xã hội thực chất.
Để thực hiện giải pháp trên, tỉnh cần bố trí kinh phí cho hoạt động hậu kiểm, xây dựng cơ sở dữ liệu theo dõi kết quả sau nghiệm thu và hình thành đội ngũ chuyên gia đánh giá độc lập cho công tác hậu kiểm. Cần bảo đảm tính khách quan, minh bạch của quá trình đánh giá và gắn kết quả hậu kiểm với cơ chế phân bổ nguồn lực trong các giai đoạn tiếp theo.
Thứ sáu, đầu tư cho hạ tầng “mềm”, phổ cập kỹ năng số và năng lực hấp thụ công nghệ thông qua mạng lưới cộng đồng
Hiệu quả đầu tư công nghệ phụ thuộc mật thiết vào năng lực hấp thụ của xã hội. Tỉnh cần thành lập Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp tỉnh có nhiệm vụ trực tiếp điều phối. Ban chỉ đạo sẽ kết hợp với Sở Khoa học và Công nghệ là đơn vị chủ trì tham mưu quy trình triển khai, lập dự toán ngân sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. UBND cấp xã đóng vai trò quản lý, huy động mạng lưới tổ công nghệ số cộng đồng thực thi chiến dịch “xóa mù số” đến từng hộ gia đình. Cần bồi dưỡng đội ngũ nòng cốt đến tổ chức đào tạo kỹ năng thương mại điện tử, quản trị số cho người dân và DNNVV hằng năm. Nguồn lực tài chính cho hoạt động này phải được bố trí ổn định từ ngân sách thường xuyên, kết hợp với nguồn lực công nghệ từ các tập đoàn lớn qua mô hình hợp tác công tư (PPP). Cần phối hợp liên ngành chặt chẽ, giúp người dân thực sự trở thành chủ thể của nền kinh tế số.
5. Kết luận
Bài viết phân tích thực trạng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo tại tỉnh Quảng Ninh thông qua các số liệu, báo cáo và văn bản chính sách của Trung ương và địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉnh Quảng Ninh đã phân bổ nguồn lực tài chính sử dụng cho nhiều lĩnh vực đặc thù khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo như phát triển du lịch biển, năng lượng hạt nhân, hạ tầng số, chuyển đổi số.
Hiệu quả hấp thụ và sử dụng nguồn lực giữa các chủ thể trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của tỉnh chưa đồng đều; cơ cấu phân bổ nguồn lực tài chính còn chưa thực sự cân đối; mức độ tham gia của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đầu tư cho R&D còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đã đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực, đồng thời tăng cường sự tham gia của các chủ thể trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo tại tỉnh Quảng Ninh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
Carter, C. F., & Koopmans, T. C, (1952). Activity Analysis of Production and Allocation. The Economic Journal, 62(247), 625. https://doi.org/10.2307/2226909.
Coelli, T. J., & Rao, D. S. P (2005). Total factor productivity growth in agriculture: A Malmquist index analysis of 93 countries, 1980 – 2000. Agricultural Economics, 32 (s1), 115 – 134. https://doi.org/10.1111/j.0169-5150.2004.00018.x.
Debreu, G. (1951). The Coefficient of Resource Utilization. Econometrica, 19(3), 273. https://doi.org/10.2307/1906814.
Farrell, M. J. (1957). The Measurement of Productive Efficiency. Journal of the Royal Statistical Society. Series A (General), 120(3), 253. https://doi.org/10.2307/2343100.
Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2018). Nghị quyết số 148/2018/NQ-HĐND ngày 07/12/2018 về việc ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Nghi-quyet-148-2018-NQ-HDND-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-Quang-Ninh-406147.aspx.
Lại Văn Tùng (2018).Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đào tạo sĩ quan của Quân đội. Luận án Tiến sĩ, Học viện Tài chính, Hà Nội.
Nguyễn Huế (6/12/2025). Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thu hút đầu tư.
Báo Quảng Ninh. https://baoquangninh.vn/hoan-thien-co-che-chinh-sach-dac-thu-thu-hut-dau-tu-3387264.html.
Quỳnh Nga (28/5/2025). Quảng Ninh: tận dụng lợi thế để đón đầu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Báo Đầu tư.
Samuelson & Nordhaus (2010). Economics (19th ed.). McGraw-Hill Education.
Thu Chung (24/11/2025). Hội nghị xúc tiến đầu tư phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Quảng Ninh năm 2025. https://baoquangninh.vn/hoi-nghi-xuc-tien-dau-tu-phat-trien-khcn-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-tinh-quang-ninh-nam-2025-3385879.html.
Tỉnh ủy Quảng Ninh (2025). Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 313/2020/NQ-HĐND giai đoạn 2021-2025 và đề xuất định hướng, chính sách giai đoạn 2026-2030 trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tỉnh ủy Quảng Ninh (2026). Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 28/4/2023 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.
Văn Đạt (19/12/2025). Quảng Ninh khởi công Khu công nghệ số tập trung tại Tuần Châu, với vốn đầu tư trên 138 tỷ đồng. Báo Xây dựng.



