Improving the institutional framework for the governance of basic telecommunications services in Vietnam amid digital transformation and new-generation international integration
ThS. Hà Thanh Hải
Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
Email: hathanhhai@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích yêu cầu hoàn thiện thể chế quản lý dịch vụ viễn thông cơ bản ở Việt Nam khi Luật Viễn thông năm 2023 mở rộng quản lý sang hạ tầng số, dịch vụ trên Internet, trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây. Trên cơ sở phân tích pháp luật, kinh tế học điều tiết và cam kết WTO, CPTPP, EVFTA, bài viết chỉ ra khuôn khổ mới đã tạo nền tảng cho quản lý thị trường số. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi phụ thuộc vào ba điều kiện: nhận diện đúng sức mạnh thị trường đáng kể; xây dựng thị trường bán buôn minh bạch cho mạng di động ảo; và quản lý rủi ro đối với dịch vụ xuyên biên giới. Từ đó, đề xuất điều tiết dựa trên dữ liệu, nghĩa vụ bất đối xứng, chào bán tham chiếu, kiểm tra ép biên lợi nhuận và quản lý mềm đối với OTT viễn thông.
Từ khóa: Dịch vụ viễn thông cơ bản; Luật Viễn thông 2023; thể chế; chuyển đổi số; hội nhập thế hệ mới.
Abstract: This article examines institutional reform for basic telecommunications services in Viet Nam after the 2023 Telecommunications Law expanded regulation to digital infrastructure, Internet-based services, data centres and cloud computing. Combining legal analysis, regulatory economics and WTO, CPTPP and EVFTA commitments, it argues that the new framework provides a basis for digital-era regulation. Effectiveness depends on identifying significant market power, transparent wholesale access for MVNOs and risk-based governance for cross-border services. It recommends data-driven regulation, asymmetric obligations, reference offers, margin-squeeze tests and soft regulation for OTT services.
Keywords: Basic telecommunications services; Telecommunications Law of 2023; institutional framework; digital transformation; new-generation integration.
1. Đặt vấn đề
Viễn thông là hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế số. Trước đây, quản lý viễn thông chủ yếu xoay quanh cấp phép mạng lưới, kho số, tần số, kết nối, thoại, tin nhắn và truy nhập Internet. Hiện nay, viễn thông đã trở thành lớp nền cho dữ liệu, điện toán đám mây, Internet vạn vật, định danh số, thanh toán số và an toàn thông tin. Vì vậy, thể chế viễn thông không chỉ là vấn đề kỹ thuật mạng. Đó còn là vấn đề cạnh tranh, dữ liệu, an ninh và chủ quyền số.
Luật Viễn thông năm 2023 bổ sung dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet, trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây vào phạm vi quản lý. Luật cũng tạo cơ sở điều chỉnh nghĩa vụ của tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ vào Việt Nam (Quốc hội. 2023). Nghị định số 163/2024/NĐ-CP cụ thể hóa thủ tục cấp phép, đăng ký, thông báo, quản lý tài nguyên và yêu cầu an toàn thông tin (Chính phủ. 2024). Tuy nhiên, phạm vi quản lý rộng hơn chưa tự động tạo ra cạnh tranh. Nếu thiếu công cụ kinh tế điều tiết, pháp luật mới vẫn khó xử lý sức mạnh thị trường, giá bán buôn và khả năng gia nhập của doanh nghiệp mới.
Bài viết trả lời ba câu hỏi: Một là, đặc trưng kinh tế của dịch vụ viễn thông cơ bản đòi hỏi cách điều tiết nào trong chuyển đổi số. Hai là, xử lý khoảng trống về dịch vụ mới, cạnh tranh và viễn thông công ích sau khi Luật Viễn thông năm 2023 có hiệu lực. Ba là, Việt Nam cần công cụ nào để bảo vệ cạnh tranh, an ninh và người dùng nhưng vẫn phù hợp với WTO, CPTPP và EVFTA.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đặc trưng kinh tế của ngành viễn thông
Viễn thông là ngành mạng lưới có chi phí cố định lớn, chi phí cận biên thấp và hiệu ứng mạng mạnh. Doanh nghiệp phải đầu tư phổ tần, trạm phát sóng, truyền dẫn, mạng lõi, trung tâm dữ liệu và hệ thống vận hành. Trong khi đó, chi phí phục vụ thêm một thuê bao hoặc một đơn vị lưu lượng thường thấp hơn nhiều so với chi phí đầu tư ban đầu. Hiệu ứng mạng làm giá trị dịch vụ tăng theo số người dùng và tạo lợi thế cho doanh nghiệp có cơ sở thuê bao lớn (Katz & Shapiro., 1985; Economides. 1996). Do đó, cạnh tranh tự do không phải lúc nào cũng tạo ra thị trường phân tán.
Quản lý dịch vụ viễn thông cơ bản rất cần thiết vì viễn thông là đầu vào của thương mại điện tử, tài chính số, chính phủ số, giáo dục trực tuyến và nội dung số. Doanh nghiệp kiểm soát mạng lưới có thể gây bất lợi cho đối thủ bằng cách từ chối kết nối, trì hoãn kỹ thuật, phân biệt chất lượng, đặt giá bán buôn cao hoặc bó gói dịch vụ để loại trừ đối thủ. Vì vậy, kinh tế học điều tiết nhấn mạnh nghĩa vụ kết nối, không phân biệt đối xử, tách bạch kế toán và kiểm soát giá đối với doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể (Laffont & Tirole. 2000; Vogelsang. 2013).
2.2. Chỉ số Herfindahl-Hirschman, sức mạnh thị trường và điều tiết bất đối xứng
Chỉ số Herfindahl-Hirschman (viết tắt là HHI), phản ánh mức độ tập trung của thị trường. Chỉ số này được tính bằng tổng bình phương thị phần của các doanh nghiệp trong thị trường liên quan. HHI càng gần 0 thì thị trường càng phân tán; càng gần 10.000 thì thị trường càng gần độc quyền. Hướng dẫn sáp nhập của Hoa Kỳ coi HHI là chỉ báo quan trọng, nhưng không thay thế phân tích hành vi và rào cản gia nhập (U.S. Department of Justice & Federal Trade Commission, 2023). Trong viễn thông, HHI cần được đọc cùng thị phần thuê bao, doanh thu, lưu lượng, phổ tần, vùng phủ và chất lượng mạng.
Điều tiết bất đối xứng dựa trên thực tế rằng doanh nghiệp không có quyền lực kinh tế như nhau. Doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể phải chịu nghĩa vụ cao hơn về minh bạch, cung cấp đầu vào bán buôn, không phân biệt đối xử và tách bạch kế toán. Cách tiếp cận này nhắm đúng nguồn gốc của quyền lực thị trường, đồng thời tránh tạo gánh nặng quá mức cho doanh nghiệp nhỏ. Lý thuyết nấc thang đầu tư cũng cho rằng cạnh tranh hạ tầng có thể được khuyến khích nếu doanh nghiệp mới được tiếp cận đầu vào hợp lý trước khi tự đầu tư sâu hơn (Cave, 2006; Cambini & Jiang, 2009).
2.3. Dịch vụ nền tảng, OTT và quản lý rủi ro
Dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet làm mờ ranh giới giữa viễn thông, nền tảng số và dịch vụ dữ liệu. Nhiều ứng dụng OTT cung cấp thoại, nhắn tin, xác thực, hội nghị trực tuyến hoặc liên lạc kinh doanh mà không sở hữu hạ tầng truy nhập tại nước sử dụng dịch vụ. Trong mô hình nền tảng, nhà cung cấp kết nối người dùng, nhà quảng cáo, nhà phát triển ứng dụng và doanh nghiệp phụ thuộc vào API. Vì vậy, cạnh tranh không chỉ nằm ở giá bán lẻ mà còn ở dữ liệu, khả năng tương thích và quyền kiểm soát hệ sinh thái (Rochet & Tirole. 2003; Armstrong. 2006).
Quản lý mềm không có nghĩa là buông lỏng. Cách tiếp cận này chuyển từ tiền kiểm nặng thủ tục sang minh bạch, phân tầng rủi ro và hậu kiểm dựa trên bằng chứng. Với dịch vụ xuyên biên giới, công cụ phù hợp là thông báo, đầu mối chịu trách nhiệm, cơ chế tiếp nhận yêu cầu hợp pháp, tiêu chuẩn bảo vệ dữ liệu và quy trình xử lý sự cố. Không nên mặc nhiên yêu cầu đặt máy chủ hoặc hiện diện thương mại vật lý. Cách tiếp cận dựa trên rủi ro cũng phù hợp với khuyến nghị về điều tiết số của ITU và Ngân hàng Thế giới (International Telecommunication Union & World Bank, 2020).
3. Khung pháp lý hiện hành về dịch vụ viễn thông cơ bản
Thứ nhất, dịch chuyển từ viễn thông truyền thống đến hạ tầng số.
Luật Viễn thông năm 2009 đặt nền móng cho quản lý mạng lưới, dịch vụ, kết nối, tài nguyên viễn thông, giá cước, tiêu chuẩn kỹ thuật và viễn thông công ích (Quốc hội, 2009). Mô hình này phù hợp khi trọng tâm là phổ cập thoại, tin nhắn, Internet cố định và Internet di động. Tuy nhiên, thoại và nhắn tin trên Internet, điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu, IoT và dịch vụ xuyên biên giới làm cho ranh giới quản lý cũ trở nên hẹp. Luật Viễn thông năm 2023 khắc phục một phần khoảng trống bằng cách mở rộng đối tượng quản lý và thừa nhận viễn thông như lớp nền của hạ tầng số (Quốc hội. 2023).
Điểm mới đáng chú ý là pháp luật không chỉ điều chỉnh doanh nghiệp có hạ tầng mạng truyền thống. Luật còn đặt nghĩa vụ đối với dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet, trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây. Sự mở rộng này giúp Nhà nước có căn cứ yêu cầu bảo vệ người dùng, phối hợp xử lý sự cố và bảo đảm an toàn thông tin. Tuy nhiên, phạm vi quản lý rộng phải đi kèm phân loại rủi ro. Dịch vụ thử nghiệm quy mô nhỏ không nên chịu nghĩa vụ như dịch vụ có hàng chục triệu người dùng hoặc liên quan đến hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, vai trò của Nghị định số 163/2024/NĐ-CP.
Nghị định số 163/2024/NĐ-CP chuyển các nguyên tắc của Luật Viễn thông năm 2023 thành quy trình thực thi. Nghị định quy định điều kiện cấp phép, đăng ký, thông báo, quản lý tài nguyên, yêu cầu kỹ thuật, nghĩa vụ báo cáo và biện pháp bảo đảm an toàn thông tin (Chính phủ, 2024). Về thể chế, nghị định làm rõ hơn cách quản lý dịch vụ mới và dịch vụ xuyên biên giới. Tuy nhiên, nghị định hướng dẫn chưa thể thay thế các công cụ cạnh tranh trong thị trường bán buôn.
Đối với mạng di động ảo, vấn đề cốt lõi không chỉ là quyền được cung cấp dịch vụ. Điều quan trọng hơn là quyền tiếp cận đầu vào mạng lưới với giá, chất lượng và điều kiện không phân biệt đối xử. Nếu thiếu quy định về thị trường liên quan, doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể, chào bán tham chiếu, tách bạch kế toán và kiểm tra ép biên lợi nhuận, quyền gia nhập có thể chỉ tồn tại trên giấy tờ. Kinh nghiệm mở cửa viễn thông cho thấy gia nhập hiệu quả phụ thuộc nhiều vào giá truy nhập và cơ chế xử lý tranh chấp (De Bijl & Peitz. 2002; Cave. 2006).
Thứ ba, viễn thông công ích trong giai đoạn phổ cập số.
Viễn thông công ích trước đây chủ yếu hướng tới xây dựng và duy trì dịch vụ ở vùng sâu, vùng xa. Khi độ phủ truy nhập tăng, khoảng cách số không còn chỉ là có sóng hay không có sóng. Nó còn liên quan đến khả năng chi trả, thiết bị đầu cuối, kỹ năng số và chất lượng kết nối. Luật Viễn thông năm 2023 cho phép tiếp cận đa chiều hơn, gồm hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, hỗ trợ người sử dụng và hỗ trợ thiết bị đầu cuối khi cần thiết (Quốc hội. 2023).
Cách tiếp cận này có ý nghĩa thực tiễn. Nếu chính sách công ích chỉ đo bằng số trạm phát sóng hoặc số kilomet cáp, Nhà nước có thể bỏ sót người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, học sinh khó khăn hoặc hộ gia đình không có thiết bị thông minh. Nếu kết hợp hạ tầng với trợ giá thiết bị, gói dữ liệu cơ bản, điểm truy nhập công cộng và đào tạo kỹ năng, chính sách công ích sẽ đóng góp trực tiếp hơn vào bao trùm số.
4. Thực trạng quản lý dịch vụ viễn thông cơ bản và các điểm nghẽn thể chế
Một là, dịch chuyển từ dịch vụ truyền thống sang dữ liệu.
Các chỉ báo ngành cho thấy doanh thu từ dịch vụ viễn thông truyền thống tăng chậm hơn nhu cầu đối với dữ liệu, băng rộng di động, 5G, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và IoT. Báo cáo tổng kết ngành năm 2024 nhấn mạnh vai trò nền tảng của viễn thông đối với kinh tế số, đồng thời đặt yêu cầu thương mại hóa 5G, tắt sóng công nghệ cũ và nâng cao chất lượng băng rộng (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2024). Tuy nhiên, tăng trưởng kỹ thuật của mạng lưới không đồng nghĩa với cạnh tranh tốt hơn. Nếu đầu vào thiết yếu vẫn tập trung, lợi ích từ dữ liệu và 5G có thể chủ yếu thuộc về nhóm sở hữu mạng lưới.
Vì vậy, cơ quan quản lý cần tách hai câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là hạ tầng có phát triển hay không, đo bằng vùng phủ sóng, tốc độ mạng, độ trễ, phổ tần, số thuê bao và mức đầu tư. Câu hỏi thứ hai là thị trường có đủ mở và cạnh tranh hay không, đo bằng điều kiện bán buôn, quyền tiếp cận API, thời gian đàm phán hợp đồng, chênh lệch giá bán buôn – bán lẻ, tỷ lệ khiếu nại, chuyển mạng giữ số và số doanh nghiệp có mô hình dịch vụ khác biệt. Chỉ khi cả hai nhóm chỉ báo cùng cải thiện, phát triển hạ tầng mới đem lại lợi ích bền vững cho người dùng.
Hai là. HHI và nhu cầu dữ liệu thị trường.
HHI là công cụ hữu ích để nhận diện mức độ tập trung, nhưng chỉ có giá trị chính sách khi được tính từ dữ liệu đáng tin cậy. Khi dữ liệu công khai về thị phần theo doanh thu, thuê bao, lưu lượng và phổ tần chưa thống nhất, bài viết không xác định một giá trị HHI làm căn cứ kết luận. Thay vào đó, HHI nên trở thành thủ tục phân tích bắt buộc. Khi có dữ liệu chính thức, chỉ số này cần được công bố định kỳ theo từng thị trường: di động bán lẻ, băng rộng cố định, bán buôn truy nhập vô tuyến, truyền dẫn, trung tâm dữ liệu và dịch vụ cloud liên quan.
Bảng 1. Quy trình sử dụng HHI trong điều tiết viễn thông
| Bước | Dữ liệu cần có | Kết quả phân tích | Hàm ý chính sách |
| 1 | Thị phần theo thuê bao, doanh thu, lưu lượng hoặc phổ tần | HHI cho từng thị trường liên quan | Xác định mức độ tập trung và thị trường cần giám sát |
| 2 | Rào cản gia nhập, vùng phủ, chất lượng và điểm kết nối | Đánh giá sức mạnh thị trường đáng kể | Lựa chọn doanh nghiệp chịu nghĩa vụ bất đối xứng |
| 3 | Giá bán lẻ, giá bán buôn và chi phí bán lẻ hiệu quả | Kiểm tra ép biên lợi nhuận | Điều chỉnh giá hoặc chào bán tham chiếu khi cần thiết |
Cách tiếp cận này giúp tránh hai rủi ro. Thứ nhất, là dùng số liệu báo chí hoặc nguồn thương mại làm căn cứ pháp lý khi chưa kiểm chứng được phương pháp thu thập. Thứ hai là bỏ qua cảnh báo tập trung chỉ vì thiếu số liệu hoàn hảo. Do đó, HHI chỉ đóng vai trò là công cụ sàng lọc ban đầu. Sau đó, cơ quan quản lý cần xem xét toàn diện các yếu tố như rào cản gia nhập, quyền kiểm soát tài nguyên khan hiếm, khả năng định giá bán buôn, sức mạnh thương hiệu, chi phí chuyển đổi và hành vi thực tế của doanh nghiệp.
Ba là, quản lý cấp phép mạng di động ảo.
MVNO có thể tạo áp lực cạnh tranh ở cấp bán lẻ thông qua gói cước ngách và dịch vụ tích hợp trong tài chính số, thương mại điện tử, logistics, du lịch, giáo dục, y tế và IoT. Tuy nhiên, MVNO không sở hữu hạ tầng vô tuyến nên phụ thuộc vào giá bán buôn, chất lượng bán buôn, kho số, eSIM, API, chuyển mạng giữ số, eKYC và thời hạn hợp đồng. Nếu doanh nghiệp có hạ tầng vừa bán buôn đầu vào vừa cạnh tranh ở bán lẻ, họ có động cơ đặt điều kiện khiến MVNO chỉ đóng vai trò đại lý phân phối.
Điểm nghẽn nằm ở thị trường bán buôn. Một khuôn khổ hiệu quả cần có chào bán tham chiếu được giám sát, nghĩa vụ không phân biệt đối xử giữa bán buôn cho bên thứ ba và bán buôn nội bộ, thời hạn xử lý yêu cầu kỹ thuật, cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh và kiểm tra ép biên lợi nhuận. Công cụ này so sánh giá bán lẻ của doanh nghiệp có hạ tầng, chi phí bán lẻ hiệu quả và giá bán buôn áp cho đối thủ. Nếu phần biên còn lại không đủ cho một doanh nghiệp hiệu quả tồn tại, cơ quan quản lý có thể yêu cầu điều chỉnh giá hoặc cấu trúc gói bán buôn.
Bốn là, OTT xuyên biên giới và phân tán trách nhiệm chất lượng.
Dịch vụ OTT viễn thông đặt ra bài toán trách nhiệm mới. Người dùng cảm nhận chất lượng cuộc gọi, tin nhắn, xác thực, độ trễ và độ ổn định như dịch vụ viễn thông. Tuy nhiên, nhà cung cấp OTT có thể dùng máy chủ, cloud, mạng phân phối nội dung và hạ tầng truy nhập của nhiều chủ thể. Khi sự cố xảy ra, trách nhiệm bị phân tán giữa nhà mạng, nhà cung cấp ứng dụng, nhà cung cấp cloud, thiết bị đầu cuối và hệ điều hành. Nếu áp mô hình truyền thống, cơ quan nhà nước dễ đặt nghĩa vụ kỹ thuật không phù hợp. Nếu không đặt nghĩa vụ tối thiểu, người dùng lại thiếu đầu mối xử lý.
Phương án phù hợp là phân tầng rủi ro. Dịch vụ có quy mô lớn, liên quan đến xác thực, liên lạc khẩn cấp, thanh toán, dữ liệu nhạy cảm hoặc hạ tầng trọng yếu phải chịu nghĩa vụ minh bạch và phối hợp cao hơn. Dịch vụ nhỏ, thử nghiệm hoặc ít rủi ro có thể áp dụng thông báo đơn giản. Tiêu chí phân tầng phải dựa trên quy mô, chức năng, dữ liệu xử lý và tác động xã hội của dịch vụ, không dựa trên quốc tịch nhà cung cấp. Đây là điều kiện để quản lý dịch vụ xuyên biên giới mà không tạo rào cản trá hình.
Năm là, cam kết quốc tế và biên độ chính sách của Việt Nam.
Trong WTO, các nguyên tắc về viễn thông cơ bản nhấn mạnh cạnh tranh, kết nối, minh bạch thủ tục cấp phép, phân bổ tài nguyên khan hiếm khách quan và vai trò độc lập của cơ quan quản lý (World Trade Organization. 1996). Các nguyên tắc này không cấm Nhà nước điều tiết, nhưng yêu cầu biện pháp điều tiết phải minh bạch, hợp lý và không phân biệt đối xử. Vì vậy, chính sách đối với doanh nghiệp có hạ tầng, MVNO, trung tâm dữ liệu, cloud và OTT cần dựa trên tiêu chí khách quan, có thể kiểm chứng.
CPTPP và EVFTA tiếp tục đặt ra yêu cầu về tiếp cận thị trường, đối xử quốc gia, thương mại điện tử, minh bạch thủ tục và lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership, 2018; European Union & Viet Nam, 2020). Các hiệp định vẫn cho phép ngoại lệ vì an ninh quốc gia, trật tự công cộng, bảo vệ người tiêu dùng và dữ liệu. Tuy nhiên, biện pháp hạn chế phải có mục tiêu chính đáng, cần thiết, tương xứng và không được dùng như công cụ bảo hộ.
Biên độ chính sách của Việt Nam nằm ở thiết kế quy định thông minh. Nhà nước có thể yêu cầu nhà cung cấp xuyên biên giới thông báo hoạt động, chỉ định đầu mối pháp lý hoặc kỹ thuật, duy trì kênh tiếp nhận yêu cầu hợp pháp, công bố điều kiện sử dụng bằng tiếng Việt đối với dịch vụ lớn, bảo vệ dữ liệu người dùng và phối hợp xử lý sự cố. Các nghĩa vụ này nên được phân tầng theo rủi ro, áp dụng bình đẳng, có thời hạn xử lý rõ ràng và có cơ chế khiếu nại.
5. Khuyến nghị chính sách
Thứ nhất, thiết lập điều tiết bất đối xứng dựa trên sức mạnh thị trường đáng kể.
Cơ quan quản lý cần định kỳ xác định thị trường liên quan ở cấp bán lẻ và bán buôn. Đồng thời, cần công bố chỉ số tập trung, thị phần theo thuê bao, doanh thu, lưu lượng và phổ tần. Doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể phải chịu nghĩa vụ minh bạch giá bán buôn, không phân biệt đối xử, tách bạch kế toán và báo cáo chất lượng bán buôn. Nghĩa vụ nên gắn với từng thị trường liên quan. Khi cạnh tranh cải thiện, có thể giảm nghĩa vụ để bảo vệ động lực đầu tư.
Thứ hai, ban hành chào bán tham chiếu và kiểm tra ép biên lợi nhuận.
Để MVNO phát triển thực chất, cần có chào bán tham chiếu đối với truy nhập mạng vô tuyến, dung lượng dữ liệu, SMS, thoại, chuyển vùng trong nước, kho số, eSIM, eKYC và API kỹ thuật cần thiết. Chào bán phải nêu rõ giá, chất lượng dịch vụ, thời hạn cung cấp, xử lý sự cố, bảo mật, nâng cấp lên 5G và giải quyết tranh chấp. Giá bán buôn nên dựa trên chi phí hiệu quả và được rà soát định kỳ. Kiểm tra ép biên lợi nhuận cần áp dụng thường xuyên khi xuất hiện gói bán lẻ giá rất thấp.
Thứ ba, phát triển MVNO gắn với 5G, IoT và dịch vụ ngách.
Chính sách MVNO không nên chỉ nhắm đến bán lại SIM di động. Cần khuyến khích MVNO chuyên ngành trong IoT công nghiệp, đô thị thông minh, xe kết nối, y tế từ xa, giáo dục số, du lịch, logistics và tài chính số. MVNO cần quyền truy cập các thành phần kỹ thuật phù hợp của 5G như chất lượng dịch vụ phân lớp, eSIM, định danh thiết bị, API thanh toán và API quản lý kết nối. Mô hình mới có thể thử nghiệm có kiểm soát, sau đó chuyển sang giấy phép ổn định nếu đáp ứng yêu cầu an toàn.
Thứ tư, áp dụng quản lý mềm đối với OTT xuyên biên giới.
Đối với dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet xuyên biên giới, Việt Nam nên tránh coi hiện diện thương mại hoặc đặt máy chủ là điều kiện mặc định. Thay vào đó, cần yêu cầu đầu mối pháp lý hoặc kỹ thuật, kênh tiếp nhận yêu cầu của cơ quan nhà nước, xử lý khiếu nại bằng tiếng Việt đối với dịch vụ lớn, bảo vệ dữ liệu người dùng và phối hợp khi có sự cố an toàn thông tin. Nghĩa vụ phải phân tầng theo rủi ro; dịch vụ càng lớn thì yêu cầu minh bạch và hợp tác càng cao.
Thứ năm, đổi mới viễn thông công ích theo hướng hỗ trợ nhu cầu sử dụng.
Quỹ và chương trình viễn thông công ích nên chuyển từ hỗ trợ hạ tầng sang hỗ trợ nhu cầu sử dụng. Đối tượng ưu tiên gồm hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân vùng sâu vùng xa, học sinh khó khăn, người khuyết tật và nhóm ít kỹ năng số. Công cụ hỗ trợ có thể là trợ giá thiết bị, gói dữ liệu cơ bản, điểm truy nhập công cộng, đào tạo kỹ năng và hướng dẫn an toàn trực tuyến. Kết quả cần được đo bằng tỷ lệ sử dụng thực tế, mức độ hài lòng và tác động đến học tập, sinh kế.
Thứ sáu, thiết lập cơ chế minh bạch dữ liệu thị trường.
Một cổng dữ liệu viễn thông quốc gia nên công bố định kỳ các chỉ báo không mật về thuê bao, doanh thu, lưu lượng, phổ tần, chất lượng dịch vụ, vùng phủ, MVNO, khiếu nại người dùng, viễn thông công ích và tiến độ tắt công nghệ cũ. Dữ liệu cần có định nghĩa thống nhất, cập nhật theo quý và cho phép tải về ở định dạng máy đọc được. Minh bạch dữ liệu giúp giảm tranh cãi chính sách và phát hiện sớm hành vi bất thường.
Thứ bảy, tái cấu trúc kênh phân phối vật lý của doanh nghiệp nhà nước.
Sự suy giảm giao dịch trực tiếp đặt ra bài toán quản trị tài sản đối với doanh nghiệp viễn thông nhà nước. Điểm giao dịch từng là lợi thế khi bán SIM, đăng ký thuê bao và thu cước. Nhưng trong giai đoạn eKYC, ứng dụng tự phục vụ và chăm sóc đa kênh, hệ thống này có thể trở thành chi phí chìm. Doanh nghiệp nên chuyển một phần điểm giao dịch thành trung tâm trải nghiệm số, điểm hỗ trợ eKYC, tư vấn an toàn thông tin, bán thiết bị IoT hoặc điểm tích hợp dịch vụ công.
6. Kết luận
Hoàn thiện thể chế quản lý dịch vụ viễn thông cơ bản là điều kiện để Việt Nam bảo đảm cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và an ninh thông tin trong nền kinh tế số. Luật Viễn thông năm 2023 và Nghị định số 163/2024/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý cho dịch vụ mới. Thách thức tiếp theo là nâng cao năng lực điều tiết dựa trên dữ liệu, cạnh tranh và quản lý rủi ro.
Cải cách nên tập trung vào 5 trụ cột: xác định sức mạnh thị trường đáng kể và điều tiết bất đối xứng; thiết lập thị trường bán buôn minh bạch cho MVNO; kiểm tra ép biên lợi nhuận; đổi mới viễn thông công ích; và quản lý mềm đối với OTT xuyên biên giới. Bài viết đóng góp vào việc làm rõ các điều kiện tiên quyết để khuôn khổ pháp lý mới phát huy hiệu quả thực tiễn, đồng thời đề xuất các công cụ điều tiết phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập thế hệ mới. Nếu thực hiện đồng bộ, Việt Nam có thể chuyển sang mô hình quản trị hạ tầng số mở, an toàn, thúc đẩy đầu tư và đổi mới sáng tạo, đồng thời vẫn phù hợp với các cam kết hội nhập thế hệ mới.
Tài liệu tham khảo:
Armstrong, M. (2006). Competition in two-sided markets. The RAND Journal of Economics, 37(3), 668–691. https://doi.org/10.1111/j.1756-2171.2006.tb00037.x.
Bộ Thông tin và Truyền thông. (2024). Báo cáo tổng kết công tác năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025. https://mic.mediacdn.vn/639352410187198464/2024/12/29/3-bc-tong-ket-nam-2024-17354306314491651826008.pdf.
Cambini, C., & Jiang, Y. (2009). Broadband investment and regulation: A literature review. Telecommunications Policy, 33(10–11), 559–574. https://doi.org/10.1016/j.telpol.2009.08.007.
Cave, M. (2006). Encouraging infrastructure competition via the ladder of investment. Telecommunications Policy, 30(3–4), 223–237. https://doi.org/10.1016/j.telpol.2005.09.001.
Chính phủ. (2024). Nghị định số 163/2024/NĐ-CP ngày 24/12/2024 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Viễn thông. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=212144.
Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership, March 8, 2018.
De Bijl, P., & Peitz, M. (2002). Regulation and entry into telecommunications markets. Cambridge University Press.
Economides, N. (1996). The economics of networks. International Journal of Industrial Organization, 14(6), 673–699. https://doi.org/10.1016/0167-7187(96)01015-6.
European Union & Viet Nam. (2020). Free Trade Agreement between the European Union and the Socialist Republic of Viet Nam. Official Journal of the European Union, L 186, 3–1400.
International Telecommunication Union & World Bank. (2020). Digital regulation handbook. International Telecommunication Union.
Katz, M. L., & Shapiro, C. (1985). Network externalities, competition, and compatibility. American Economic Review, 75(3), 424–440.
Laffont, J.-J., & Tirole, J. (2000). Competition in telecommunications. MIT Press.
Quốc hội. (2009). Luật Viễn thông số 41/2009/QH12. https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=92518
Quốc hội. (2023). Luật Viễn thông số 24/2023/QH15. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=208787.
Rochet, J.-C., & Tirole, J. (2003). Platform competition in two-sided markets. Journal of the European Economic Association, 1(4), 990–1029. https://doi.org/10.1162/154247603322493212.
U.S. Department of Justice & Federal Trade Commission. (2023). Merger guidelines. https://www.justice.gov/atr/merger-guidelines.
Vogelsang, I. (2013). The endgame of telecommunications policy? A survey. Review of Economics, 64(3), 193–269. https://doi.org/10.1515/roe-2013-0301.
World Trade Organization. (1996). Telecommunications services: Reference paper. https://www.wto.org/english/tratop_e/serv_e/telecom_e/tel23_e.htm.



