Thực hiện phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026

Implementing the delegation and decentralization of state management of religious affairs under the 2026 Law on belief and religion

TS. Nguyễn Việt Đức
Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
Email: vietduc.napa93@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tôn giáo là một trong những nội dung đổi mới quan trọng của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026. Trên cơ sở làm rõ những điểm mới của Luật về phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo, bài viết phân tích một số vấn đề về thực hiện các quy định phân quyền, phân cấp; đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện khi Luật chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.

Từ khóa: Phân quyền, phân cấp; quản lý nhà nước về tôn giáo; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026.

Abstract: Strengthening decentralization and delegation of authority in the field of religious affairs is one of the important innovations introduced by the 2026 Law on Belief and Religion. By clarifying the Law’s new provisions on the delegation and decentralization of state management of religious affairs, this article analyzes several issues concerning the implementation of these provisions and proposes a number of solutions to improve their effectiveness when the Law officially comes into force on January 1, 2027.

Keywords: Decentralization and delegation of authority; state management of religious affairs; the 2026 Law on belief and religion.

1. Đặt vấn đề

Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 127-128) là một trong những nội dung quan trọng góp phần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Đại hội XIV của Đảng xác định. Trong đó, Đảng khẳng định yêu cầu: “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam 2026, tr. 126). Việc sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (viết tắt là Luật năm 2016) và ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (gọi tắt là Luật năm 2026) không chỉ nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tự do tôn giáo của người dân mà còn góp phần đổi mới phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo theo hướng hiện đại, minh bạch, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên chuyển đổi số.

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam là quốc gia có đời sống tôn giáo phong phú. Hiện có 40 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với khoảng 27.382.846 tín đồ, 66.365 chức sắc, 120.475 chức việc, 30.374 cơ sở tôn giáo và 73.298 cơ sở tín ngưỡng (Bộ Dân tộc và Tôn giáo, 2025). Hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo vì vậy mang tính đa ngành, đa lĩnh vực và chủ yếu diễn ra tại địa phương. Nếu mọi vấn đề đều tập trung giải quyết ở cấp Trung ương sẽ dẫn đến quá tải, kéo dài thời gian xử lý thủ tục hành chính, làm giảm tính chủ động của chính quyền địa phương và chưa phát huy được nguyên tắc quản lý nhà nước theo lãnh thổ.

Xuất phát từ yêu cầu đó, Luật năm 2026 đã sửa đổi nhiều quy định theo hướng phân quyền, phân cấp triệt để gắn với tổ chức chính quyền 3 cấp, phân định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, các bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp; đồng thời, mở rộng phạm vi giải quyết công việc của chính quyền địa phương đối với nhiều thủ tục hành chính về tôn giáo. Những thay đổi này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tôn giáo trong quá trình thực hiện quyền tự do tôn giáo theo quy định của pháp luật.

Quá trình triển khai các quy định mới cũng đặt ra nhiều vấn đề như năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở cơ sở chưa đồng đều; nguy cơ áp dụng pháp luật thiếu thống nhất giữa các địa phương; cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý còn phân tán; cơ chế kiểm soát quyền lực trong thực hiện phân quyền, phân cấp còn chưa hoàn thiện. Những vấn đề này đòi hỏi cần phải nghiên cứu nhằm đánh giá đầy đủ các quy định mới của Luật năm 2026, từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện khi Luật chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.

2. Những điểm mới về phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026

Luật năm 2026 được Quốc hội khóa XVI, kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 23/4/2026 trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách nền hành chính và thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp mạnh mẽ giữa Trung ương và địa phương gắn với tổ chức chính quyền 3 cấp. So với Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Luật năm 2026 đã có nhiều sửa đổi quan trọng theo hướng xác lập rõ hơn trách nhiệm, thẩm quyền của từng cấp chính quyền trong quản lý nhà nước về tôn giáo; đồng thời, mở rộng tính chủ động của chính quyền địa phương trong giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động tôn giáo và tổ chức tôn giáo, góp phần bảo đảm yêu cầu quản trị hiện đại, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo, bảo đảm tự do tôn giáo của người dân.

Trên cơ sở các quy định của Luật năm 2026, có thể khái quát những điểm mới về phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo như sau:

Một là, hoàn thiện tư duy lập pháp về phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo. Điều này là hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh phân quyền, phân cấp gắn với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quản lý nhà nước. Trong lĩnh vực tôn giáo, sự thay đổi này đặc biệt có ý nghĩa bởi đa số hoạt động tôn giáo phát sinh tại cơ sở, trong khi chính quyền địa phương là chủ thể trực tiếp tiếp xúc, hướng dẫn và giải quyết các thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân tôn giáo. Từ góc độ quản trị công, Luật năm 2026 phản ánh sự thay đổi tích cực trong tư duy của Nhà nước: chuyển đổi từ mô hình quản lý tập trung sang quản trị phân quyền có kiểm soát, trong đó địa phương được trao quyền nhiều hơn trong tổ chức thực hiện nhưng vẫn đặt dưới sự kiểm tra, giám sát thống nhất của Trung ương. Ngược lại, Trung ương tập trung vào xây dựng thể chế, ban hành chính sách và kiểm soát quyền lực. Bên cạnh đó, Luật năm 2026 cũng thể hiện tư duy lập pháp “Luật chỉ quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc” khi lược bỏ các quy định chi tiết về thành phần hồ sơ, thời gian giải quyết và giao Chính phủ quy định cụ thể. Điều này vừa bảo đảm tính ổn định của Luật vừa tạo sự linh hoạt trong quá trình tổ chức thực hiện và có thể kịp thời sửa đổi các quy định dưới luật khi cần thiết.

Hai là, quy định cụ thể hơn trách nhiệm của từng chủ thể quản lý nhà nước về tôn giáo. Chính phủ tập trung xây dựng thể chế, thống nhất quản lý nhà nước về tôn giáo trên phạm vi cả nước. Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành, hướng dẫn nghiệp vụ, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, kiểm tra việc thi hành pháp luật. Các bộ, ngành phối hợp quản lý theo lĩnh vực. Trong khi đó, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp chịu trách nhiệm trực tiếp giải quyết các công việc phát sinh trên địa bàn theo thẩm quyền. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo để bảo đảm hoạt động thông suốt, kịp thời, hiệu quả. Cách tiếp cận này giúp giảm đáng kể hiện tượng “xin ý kiến nhiều cấp” vốn từng là nguyên nhân làm kéo dài thời gian xử lý hồ sơ của các tổ chức tôn giáo.

Ba là, mở rộng thẩm quyền của chính quyền địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính về tôn giáo, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Luật năm 2026 đã chuyển giao nhiều thẩm quyền của Bộ Dân tộc và Tôn giáo theo Luật năm 2016 cho UBND cấp tỉnh, quy định tại Điều 27, 28, 38, 40, 44, 45, 46, 47 nhằm tăng cường phân quyền, phân cấp bảo đảm tổng số thủ tục hành chính bảo đảm cấp bộ chỉ thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 89/NĐ-CP ngày 05/4/2026 của Chính phủ. Việc giao quyền nhiều hơn cho địa phương cũng tạo điều kiện để các quyết định quản lý phù hợp hơn với đặc điểm văn hóa, dân cư và tình hình tôn giáo của từng địa phương. Bên cạnh đó, Luật phân định lại các thẩm quyền cho UBDN cấp tỉnh và cấp xã để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp (Cổng thông tin điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo, 2026). Sự thay đổi này mang lại ba lợi ích cơ bản: (1) Rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ; (2) Giảm chi phí tuân thủ pháp luật của tổ chức tôn giáo; (3) Tăng trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với các quyết định hành chính do mình ban hành.

Bốn là, gắn phân cấp với cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số. Luật năm 2026 được ban hành trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Chính phủ số, dữ liệu số và dịch vụ công trực tuyến. Vì vậy, nhiều quy định được thiết kế theo hướng tạo cơ sở pháp lý để thực hiện hồ sơ điện tử, chia sẻ dữ liệu và giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số. Việc thực hiện phân cấp chỉ có thể đạt hiệu quả khi dữ liệu được kết nối giữa Trung ương và địa phương. Nếu trước đây hồ sơ chủ yếu được lưu trữ phân tán tại từng địa phương thì đến nay việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung giúp các cơ quan quản lý có thể theo dõi tình hình hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên phạm vi toàn quốc, đồng thời hạn chế việc yêu cầu tổ chức tôn giáo nộp lại nhiều lần cùng một loại giấy tờ. Sự kết hợp giữa phân cấp và chuyển đổi số góp phần nâng cao tính minh bạch và giảm chi phí quản lý.

Như vậy, có thể khẳng định, những sửa đổi trong Luật năm 2026 không chỉ nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo mà còn phản ánh xu hướng đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch và lấy hiệu quả quản lý làm trung tâm. Việc phân quyền, phân cấp được thiết kế đồng bộ với tổ chức mô hình chính quyền hai cấp, cải cách hành chính, chuyển đổi số và kiểm soát quyền lực sẽ tạo tiền đề quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo trong giai đoạn mới.

3. Những vấn đề đặt ra

Việc Luật năm 2026 mở rộng phạm vi phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể chế quản trị nhà nước ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiệu lực, hiệu quả của phân quyền, phân cấp không chỉ phụ thuộc vào nội dung của Luật mà còn chịu tác động bởi năng lực của bộ máy thực thi, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trong bối cảnh đó, quá trình triển khai Luật năm 2026 có khả năng phải đối mặt với một số vấn đề cần được nhận diện và giải quyết sau:

Thứ nhất, năng lực thực thi của chính quyền địa phương còn có sự chênh lệch. Một trong những nguyên tắc cơ bản của phân quyền, phân cấp là quyền hạn phải đi đôi với điều kiện bảo đảm thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế, năng lực quản lý nhà nước về tôn giáo giữa các địa phương còn có sự chênh lệch đáng kể. Ở những địa phương có số lượng lớn tổ chức tôn giáo, đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách đã tích lũy được kinh nghiệm trong xử lý các vấn đề phát sinh. Ngược lại, ở một số địa phương, trước đây, công tác tôn giáo chủ yếu được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ, công chức kiêm nhiệm; số lượng cán bộ, công chức có kiến thức chuyên sâu về pháp luật tôn giáo, kỹ năng hành chính và kỹ năng đối thoại với các tổ chức tôn giáo còn hạn chế.

Cùng với đó là thực trạng chung về đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp xã sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, bỏ cấp huyện từ ngày 01/7/2025 đến nay. Đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay được hình thành từ nhiều nguồn (cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp huyện cũ, cấp xã cũ, viên chức, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã), có trình độ, năng lực, kỹ năng thực thi nhiệm vụ không đồng đều, số đông vẫn từ nguồn cán bộ, công chức cấp xã cũ (tỷ lệ 68,8%) nên chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ theo vị trí việc làm… Việc điều động cán bộ thời gian đầu sau sáp nhập còn mang tính chất cơ học, xếp chỗ ổn định tổ chức tạm thời (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.6). Như vậy, khi Luật năm 2026 giao thêm thẩm quyền cho địa phương nhưng năng lực thực thi của địa phương chưa được nâng lên tương ứng, nguy cơ xảy ra sai sót là hoàn toàn có thể xảy ra.

Thứ hai, nguy cơ áp dụng pháp luật thiếu thống nhất giữa các địa phương. Phân quyền, phân cấp tạo điều kiện phát huy tính chủ động của chính quyền địa phương nhưng cũng đặt ra nguy cơ thiếu thống nhất trong thực thi pháp luật. Trong lĩnh vực tôn giáo, nhiều thủ tục hành chính đòi hỏi việc đánh giá các điều kiện thực tế và vận dụng quy định pháp luật. Nếu không có hướng dẫn nghiệp vụ đầy đủ hoặc cơ chế giải thích thống nhất, các địa phương có thể đưa ra những cách hiểu khác nhau đối với cùng một quy định, dẫn đến sự không đồng đều trong việc giải quyết hồ sơ. Nguy cơ này đặc biệt rõ đối với những vấn đề có tính chất mới, liên quan đến hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên nhiều địa bàn hoặc có yếu tố nước ngoài. Chẳng hạn, khoản 2 Điều 44 Luật năm 2026 quy định: “a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc mời tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các hoạt động tôn giáo ở một tỉnh, thành phố; b) Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc mời tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện hoạt động tôn giáo ở nhiều tỉnh, thành phố hoặc hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo” (Quốc hội 2026).

Thực tế có thể phát sinh tình huống: một tổ chức tôn giáo tại tỉnh A mời một chức sắc người nước ngoài tham dự một hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh A trong thời gian một ngày và sau đó vị chức sắc này đến tham quan một cơ sở tôn giáo tại tỉnh B trong thời gian ba ngày. Trong trường hợp đó, có địa phương sẽ xác định đây chỉ là việc mời cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động tôn giáo ở một tỉnh, thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh; nhưng cũng có địa phương cho rằng đây là hoạt động tôn giáo ở hai tỉnh, tức là ở nhiều tỉnh, khi đó lại thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Hai cách hiểu này sẽ dẫn đến: (1) Khác cơ quan tiếp nhận hồ sơ; (2) Khác thời gian giải quyết; (3) Tổ chức tôn giáo có thể phải nộp lại hồ sơ nếu xác định sai thẩm quyền giải quyết.

Như vậy, sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức tôn giáo mà còn làm giảm tính minh bạch và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật. Do đó, việc tăng cường hướng dẫn chuyên môn hoặc ban hành các quy trình nghiệp vụ thống nhất là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn đầu triển khai Luật năm 2026.

Thứ ba, hệ thống dữ liệu và hạ tầng số phục vụ quản lý nhà nước về tôn giáo còn chưa đồng bộ. Hiện nay, dữ liệu về tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo, chức sắc, chức việc và các hoạt động tôn giáo vẫn chủ yếu được quản lý phân tán ở nhiều cấp và nhiều cơ quan khác nhau. Mức độ số hóa hồ sơ giữa các địa phương chưa đồng đều; khả năng chia sẻ dữ liệu còn hạn chế; việc kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác chưa thật sự hoàn chỉnh. Nếu tình trạng này kéo dài, việc phân cấp có thể dẫn đến sự phân tán thông tin, gây khó khăn cho công tác theo dõi, thống kê, dự báo và kiểm tra, giám sát.

Số liệu khảo sát trên phạm vi cả nước, ở tất cả các cấp, các ngành, lĩnh vực cho thấy: Nhiều cơ sở dữ liệu đã hình thành nhưng chưa bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”, thiếu cơ chế cập nhật và chia sẻ ổn định, chưa tạo được giá trị rõ ràng trong cắt giảm thủ tục, điều hành và phát triển kinh tế dữ liệu (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 92). Ở nhiều nơi, bộ máy đã thay đổi nhưng quy trình, nghiệp vụ, quy trình điện tử, phân quyền trên hệ thống và phương thức phối hợp vẫn được thiết kế theo mô hình cũ. Một số thủ tục chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu phân cấp, ủy quyền, tiếp nhận phi địa giới hành chính; phân quyền cho Trung tâm phục vụ hành chính công và cán bộ cấp xã còn thiếu hoặc chưa chính xác (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 91), trong đó có cả các thủ tục thuộc lĩnh vực tôn giáo.

Thứ tư, cơ chế kiểm soát quyền lực trong thực hiện phân quyền, phân cấp còn chưa hoàn thiện. Hiện nay, cơ chế kiểm soát việc thực hiện các thẩm quyền được phân cấp vẫn chủ yếu dựa vào các quy định chung của pháp luật về tổ chức chính phủ, tổ chức chính quyền địa phương, pháp luật về thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước. Hiện chưa có cơ chế đánh giá thường xuyên đối với chất lượng thực hiện nhiệm vụ được phân cấp trong lĩnh vực tôn giáo; chưa có hệ thống tiêu chí thống nhất để theo dõi hiệu quả thực hiện ở các địa phương; đồng thời việc ứng dụng dữ liệu số phục vụ giám sát, cảnh báo và phát hiện sớm những sai sót trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính còn hạn chế.

Cơ chế kiểm soát quyền lực hiện nay vẫn thiên về hậu kiểm, thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo sau khi quyết định hành chính đã được ban hành. Trong khi đó, các biện pháp kiểm soát từ sớm, từ xa như chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, công khai tiến độ xử lý hồ sơ trên môi trường số, thiết lập hệ thống theo dõi, cảnh báo tự động hoặc đánh giá định kỳ trách nhiệm của cơ quan được phân cấp chưa được triển khai đồng bộ. Điều này làm giảm hiệu quả phòng ngừa vi phạm và chưa đáp ứng yêu cầu kiểm soát quyền lực trong điều kiện xây dựng nền hành chính hiện đại và chính phủ số.

Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cũng như cơ chế phản ánh, kiến nghị của các tổ chức tôn giáo và người dân chưa thực sự phát huy hiệu quả. Chỉ khi hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực đa chiều, kết hợp giữa kiểm soát nội bộ và kiểm soát bên ngoài, giữa kiểm soát hành chính với kiểm soát xã hội và kiểm soát bằng công nghệ số, việc phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo mới có thể phát huy hiệu quả, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026

Một là, bảo đảm các điều kiện thực hiện phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo. Trước hết, cần tiếp tục rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy và bố trí đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo theo hướng phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm và đặc điểm tình hình của từng địa phương. Đối với những địa phương có số lượng lớn tổ chức tôn giáo hoặc có tình hình tôn giáo phức tạp, cần ưu tiên bố trí cán bộ có trình độ chuyên môn cao, am hiểu pháp luật về tôn giáo và có kinh nghiệm thực tiễn.

Đồng thời, cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuyên sâu, thường xuyên cập nhật các quy định mới của pháp luật, nâng cao kỹ năng giải quyết thủ tục hành chính, kỹ năng đối thoại với các tổ chức tôn giáo và kỹ năng ứng dụng công nghệ số trong thực thi công vụ. Bên cạnh việc bảo đảm nguồn nhân lực, cần quan tâm bố trí đầy đủ kinh phí, cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, nhất là đối với cấp xã – nơi trực tiếp triển khai nhiều nhiệm vụ được phân cấp theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Hai là, thống nhất hướng dẫn nghiệp vụ và áp dụng pháp luật về phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo. Để hạn chế tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các địa phương, cần khẩn trương ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật năm 2026, trong đó làm rõ những quy định có khả năng phát sinh nhiều cách hiểu hoặc còn khoảng trống trong quá trình áp dụng. Đối với các thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến nhiều địa phương, cần quy định cụ thể tiêu chí xác định thẩm quyền, trình tự giải quyết và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan.

Bên cạnh đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cần xây dựng hệ thống hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất trên phạm vi cả nước, bao gồm quy trình giải quyết thủ tục hành chính, các tình huống nghiệp vụ điển hình và cơ chế giải đáp, hướng dẫn kịp thời đối với các địa phương; thiết lập cơ chế trao đổi, phối hợp thường xuyên giữa Trung ương và địa phương nhằm bảo đảm việc thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp diễn ra thống nhất, thông suốt và hiệu quả trên phạm vi cả nước, tạo thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo trong quá trình thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về tôn giáo. Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính phủ số và chính quyền số, việc thực hiện phân quyền, phân cấp cần được hỗ trợ bởi hệ thống dữ liệu đồng bộ và hạ tầng công nghệ hiện đại. Theo đó, cần đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về tôn giáo theo hướng bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, đồng thời tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo với các bộ, ngành, địa phương và các cơ sở dữ liệu quốc gia có liên quan.

Cùng với việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu, cần chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ điện tử, thực hiện thống nhất việc tiếp nhận, giải quyết, theo dõi và lưu trữ hồ sơ trên môi trường số phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công cụ phân tích, cảnh báo trong theo dõi tình hình hoạt động tôn giáo, hỗ trợ công tác thống kê, dự báo và ra quyết định quản lý.

Bốn là, tăng cường kiểm soát quyền lực trong thực hiện phân quyền, phân cấp quản lý nhà nước về tôn giáo. Thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ được phân quyền, phân cấp; đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng thực thi nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương làm căn cứ theo dõi, kiểm tra và đánh giá hiệu quả thực thi.

Bên cạnh việc tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra Nhà nước, cần phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội đối với việc thực thi quyền lực của các cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo; đồng thời, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền phản ánh, kiến nghị trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính về tôn giáo. Qua đó, góp phần bảo đảm việc phân quyền, phân cấp được thực hiện đúng pháp luật, thống nhất, minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước.

5. Kết luận

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đánh dấu bước phát triển mới trong hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam, đặc biệt, thông qua việc thể chế hóa chủ trương phân quyền, phân cấp gắn với tổ chức chính quyền hai cấp, cải cách hành chính và xây dựng chính phủ số. Những quy định mới của Luật không chỉ phân định rõ hơn thẩm quyền giữa các cấp, các ngành mà còn tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo. Tuy nhiên, để các quy định của Luật đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả khi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027, cần triển khai nhanh, đồng bộ các giải pháp đã được đưa ra. Điều này góp phần bảo đảm việc phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tôn giáo được thực hiện đúng pháp luật, thống nhất, minh bạch, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời, bảo đảm tốt hơn quyền tự do tôn giáo của mọi người theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Kỷ yếu Hội nghị sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 về tổng kết thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025).
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026). Thông tư số 01/2026/TT-BDTTG ngày 13/01/2026 quy định phân cấp một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Cổng thông tin điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026). Giới thiệu Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026. https://bdttg.gov.vn/uy-ban-dan-toc-voi-bo-nganh/gioi-thieu-luat-tin-nguong-ton-giao-nam-2026.htm).
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2026). Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026.
Trần Thị Thúy Ngọc. (2025). Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước, số (352), tr. 41 – 45. https://doi.org/10.59394/qlnn.352.2025.1170