Hoàn thiện thể chế bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại ở Việt Nam

Perfecting institutions for intellectual property protection in franchising within Vietnam

TS. Trần Điệp Thành
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: tdthanh@vnu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Nhượng quyền thương mại là phương thức then chốt nhằm thương mại hóa tài sản trí tuệ. Vận dụng tiếp cận thể chế và cấu trúc chức năng, bài viết đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực này tại Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra năm điểm nghẽn: xung đột quy phạm pháp luật; rào cản bảo vệ bí mật kinh doanh; rủi ro nhãn hiệu chưa cấp bằng; phân tán cơ quan quản lý; hạn chế bảo hộ tư pháp. Từ kinh nghiệm của Malaysia và Singapore, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế nhằm giảm chi phí giao dịch, bảo vệ quyền tài sản, thúc đẩy thị trường phát triển bền vững ở Việt Nam.

Từ khóa: Nhượng quyền thương mại; sở hữu trí tuệ; bí mật kinh doanh; quản lý nhà nước; tiếp cận thể chế.

Abstract: Franchising serves as a vital mechanism for commercializing intellectual property assets. Using institutional and structural-functional approaches, this article analyzes state governance of intellectual property in franchising in Vietnam. The study identifies five institutional bottlenecks: normative conflicts between laws; barriers to trade secret protection; risks of franchising unregistered trademarks; fragmented inter-ministerial administration; and limitations in judicial enforcement. Drawing on experiences from Malaysia and Singapore, the paper proposes institutional solutions to minimize transaction costs, secure property rights, and foster a sustainable market.

Keywords: Franchising; intellectual property; trade secrets; state management; institutional approach.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện đang phát triển rất mạnh mẽ. nhượng quyền thương mại không chỉ bùng nổ trong các ngành hàng dịch vụ ẩm thực, bán lẻ tiện lợi mà còn mở rộng sang các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, dược phẩm, dịch vụ làm đẹp, bưu chính chuyển phát và giáo dục đào tạo. Khác với các hoạt động thương mại truyền thống, như mua bán hàng hóa đơn thuần hay đại lý thương mại, nhượng quyền thương mại về bản chất là một “cấu trúc quản trị hợp đồng dài hạn” nhằm thương mại hóa các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Giá trị kinh tế, uy tín thương hiệu và khả năng nhân rộng của mạng lưới nhượng quyền phụ thuộc vào mức độ an toàn pháp lý của các tài sản trí tuệ trong hệ thống.

Theo góc độ kinh tế học thể chế mới, thể chế là “tổng thể các quy tắc” chính thức và phi chính thức, định hình hành vi ứng xử của các chủ thể và cấu trúc hóa các mối quan hệ kinh tế – xã hội (Douglass C. North, 1990). Công trình nghiên cứu đạt Giải Nobel Kinh tế năm 2024 của các tác giả Daron Acemoglu, Simon Johnson và James A. Robinson đã chứng minh rằng sự thịnh vượng và năng lực đổi mới sáng tạo dài hạn của một quốc gia bắt nguồn từ việc xây dựng một môi trường thể chế minh bạch, bảo đảm quyền tài sản và tạo cơ hội bình đẳng cho mọi chủ thể kinh tế (Daron Acemoglu, James A. Robinson, 2012). Nếu quyền sở hữu tài sản trí tuệ bị vi phạm hoặc thiếu cơ chế thực thi hữu hiệu, thị trường sẽ bị tổn hại bởi các hành vi cạnh tranh cơ hội và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, làm cản trở động lực đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp sáng tạo.

Để nhận diện các rào cản chính sách và kiến tạo giải pháp khả thi, bài nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận cấu trúc – chức năng trong nghiên cứu so sánh thể chế chính trị và quản lý nhà nước (Gabriel A. Almond, G. Bingham Powell, Kaare Strom, Russell J. Dalton, 2003). Theo cách tiếp cận này, các nhà nước dù sở hữu cấu trúc bộ máy quản lý và thể chế khác nhau nhưng vẫn có khả năng thực hiện những chức năng quản trị tương đồng trước các yêu cầu kinh tế khách quan (Trần Điệp Thành, 2024). Từ góc độ khoa học quản lý nhà nước, bài viết làm rõ mối quan hệ giữa công tác quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và sự phát triển của thị trường nhượng quyền thương mại, nhận diện những bất cập trong tổ chức bộ máy và thực thi pháp luật tại Việt Nam; qua so sánh kinh nghiệm lập pháp và quản lý của Malaysia và Singapore trong lĩnh vực này, nghiên cứu đề xuất các định hướng hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước phù hợp với thực tiễn hội nhập kinh tế và thương mại quốc tế.

2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm của Malaysia và Singapore về thể chế bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại

2.1. Tiếp cận thể chế và cấu trúc chức năng về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại

Quan hệ nhượng quyền thương mại được xác lập dựa trên một tổng thể các quyền sở hữu trí tuệ tích hợp, bao gồm: nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại; kiểu dáng công nghiệp và quyền tác giả (thiết kế không gian, điểm bán, phần mềm quản lý); sáng chế, bí mật kinh doanh, thể hiện qua công thức, quy trình, sổ tay vận hành tiêu chuẩn, danh sách nhà cung ứng và cơ sở dữ liệu khách hàng.

Theo cách tiếp cận cấu trúc – chức năng, thể chế quản lý nhà nước trong nhượng quyền thương mại là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm cấu trúc bộ máy quản lý (các cơ quan hành chính, đăng ký nhượng quyền, cấp văn bằng bảo hộ và cơ quan tài phán) cùng hệ thống chức năng điều tiết thị trường cốt lõi:

Thứ nhất, kiểm soát tính bất đối xứng thông tin: thiết lập cơ chế công khai, minh bạch thông tin giúp bên nhận quyền (thường là các thương nhân có quy mô nhỏ và vừa ở vị thế yếu) tiếp cận đầy đủ và trung thực về tình trạng pháp lý của nhãn hiệu và mô hình kinh doanh.

Thứ hai, bảo vệ quyền tài sản và giảm thiểu chi phí giao dịch: bảo đảm cho bên nhượng quyền không bị lộ bí mật kinh doanh và bí quyết vận hành sau khi đào tạo chuyển giao; đồng thời hạ thấp chi phí đàm phán hợp đồng, chi phí giám sát thực thi và giải quyết tranh chấp.

Thứ ba, bảo đảm hiệu lực thực thi: vận hành hiệu quả cơ chế tài phán tư pháp nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, vi phạm cam kết không cạnh tranh sau khi kết thúc hợp đồng nhượng quyền thương mại.

2.2. Kinh nghiệm của Malaysia: Mô hình luật định chuyên ngành và tiền kiểm chặt chẽ

Malaysia là một trong những quốc gia điển hình tại ASEAN lựa chọn mô hình điều tiết thị trường nhượng quyền thông qua một văn bản luật chuyên ngành – Luật nhượng quyền thương mại năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) (Laws of Malaysia, 2020). Điều 6A của luật này quy định điều kiện tiên quyết về nhãn hiệu trong đó yêu cầu bên nhượng quyền phải được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu trước khi nộp hồ sơ xin phép hoạt động nhượng quyền thương mại tại Cơ quan đăng ký Nhượng quyền. Quy định này đã phòng ngừa hoàn toàn rủi ro chuyển giao nhãn hiệu chưa được cấp chứng nhận hoặc nhãn hiệu có khả năng đang bị tranh chấp.

Luật cũng quy định chi tiết về cơ chế công khai bản công bố thông tin yêu cầu bên nhượng quyền phải nộp bản công bố thông tin trước ít nhất 14 ngày cho bên nhận quyền trước khi ký kết hợp đồng, đặc biệt phải minh bạch toàn bộ tình trạng pháp lý của các đối tượng sở hữu trí tuệ, lịch sử tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ và doanh thu thực tế trong bản công bố này.

Về bảo hộ bí mật kinh doanh và điều khoản hạn chế cạnh tranh. Luật nhượng quyền thương mại Malaysia áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi tiết lộ hoặc sử dụng trái phép bí mật kinh doanh có được từ hoạt động nhượng quyền, đồng thời quy định về nghĩa vụ cam kết không cạnh tranh trong thời hạn tối đa 2 năm kể từ khi hợp đồng chấm dứt trong phạm vi khu vực hoạt động nhượng quyền đã đăng ký.

2.3. Kinh nghiệm của Singapore: Mô hình thị trường tự do kết hợp bảo hộ tư pháp chặt chẽ

Khác với Malaysia, Singapore không ban hành một văn bản luật riêng về nhượng quyền thương mại mà điều chỉnh thông qua pháp luật hợp đồng thông thường, quy định trong các nguyên tắc của Thông luật và Bộ quy tắc đạo đức và hướng dẫn nhượng quyền thương mại của Hiệp hội Nhượng quyền và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ Singapore (Franchising and Licensing Association Singapore – FLA, 2020).

Để tối ưu hóa thủ tục đăng ký và bảo hộ sở hữu trí tuệ, Cơ quan Sở hữu trí tuệ Singapore vận hành hệ thống cấp bằng nhãn hiệu nhanh chóng, minh bạch và số hóa tuyệt đối, bảo đảm cho các tài sản trí tuệ có căn cứ pháp lý vững chắc trước khi tiến hành nhượng quyền thương mại.

Về cơ chế bảo vệ khẩn cấp đối với bí mật kinh doanh, hệ thống tòa án Singapore có cơ chế ban hành rất nhanh “biện pháp khẩn cấp tạm thời” khi bên nhượng quyền cung cấp chứng cứ bên nhận quyền có hành vi sao chép trái phép công nghệ hoặc quy trình vận hành (Supreme Court of Singapore, 2021). Đồng thời, hệ thống án lệ Singapore công nhận điều khoản hạn chế cạnh tranh hậu hợp đồng nếu bên nhượng quyền chứng minh được điều khoản đó là cần thiết và hợp lý để bảo vệ bí mật kinh doanh và danh sách khách hàng hợp pháp (Singapore Court of Appeal, 2007).

Trung tâm Trọng tài quốc tế Singapore đóng vai trò là thiết chế giải quyết tranh chấp nhượng quyền và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ xuyên biên giới hữu hiệu (Singapore International Arbitration Centre – SIAC, 2016), giúp bảo vệ tuyệt đối cho bí mật kinh doanh của doanh nghiệp thông qua cơ chế trọng tài bảo mật và thủ tục giải quyết khẩn cấp.

Những kinh nghiệm quản lý đa dạng lĩnh vực này của Malaysia và Singapore đặt ra yêu cầu cần nhìn nhận, đánh giá lại toàn diện thực trạng thể chế bảo hộ sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay.

3. Thực trạng về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở việt nam

3.1. Khung pháp lý hiện hành

Hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nhượng quyền thương mại tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh đan xen của hai hệ thống quy phạm pháp luật cốt lõi như sau:

Hệ thống pháp luật thương mại, Luật Thương mại năm 2005 (Mục 8 Chương VI, từ Điều 284 đến Điều 291), Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2028 của Chính phủ.

Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022), điều chỉnh về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, bảo hộ bí mật kinh doanh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và quyền tác giả đối với tài liệu vận hành, phần mềm quản trị.

Nghị định số 08/2018/NĐ-CP đã bãi bỏ thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại đối với thương nhân trong nước (chỉ duy trì đối với trường hợp nhượng quyền từ nước ngoài vào Việt Nam), góp phần tạo môi trường thuận lợi cho thương nhân phát triển hệ thống nhượng quyền. Mặc dù vậy, sự thiếu hụt các cơ chế hậu kiểm phù hợp đã bộc lộ những điểm nghẽn thể chế trong quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ đối với lĩnh vực này.

3.2. Những điểm nghẽn thể chế

Thứ nhất, sự thiếu thống nhất, không đồng bộ về quy phạm giữa Luật Thương mại năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 quy định nhượng quyền thương mại đồng nhất việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ với chuyển giao mô hình kinh doanh tổng thể. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ lại điều chỉnh hoạt động này dưới hình thức hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Do thiếu quy định viện dẫn thống nhất giữa hai quy định của luật, một mâu thuẫn lớn đã nảy sinh trong thực tiễn áp dụng các điều khoản kiểm soát chất lượng của hệ thống nhượng quyền.

Cụ thể, để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền, bên nhượng quyền buộc phải yêu cầu bên nhận quyền chỉ được mua nguyên liệu, máy móc hoặc sử dụng dịch vụ từ các nhà cung cấp được chỉ định. Đây là một trong những đặc điểm của nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ, các điều khoản buộc bên nhận quyền phải mua nguyên liệu, máy móc từ bên chỉ định rất dễ bị đối tác viện dẫn nhằm suy đoán là điều khoản hạn chế quyền bất hợp lý khi phát sinh tranh chấp. Khoảng trống trong việc thiếu vắng các tiêu chí miễn trừ rõ ràng giữa pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật thương mại tạo ra rủi ro pháp lý tiềm ẩn cho tính hiệu lực của các thỏa thuận nhượng quyền thương mại.

Thứ hai, rủi ro pháp lý khi tiến hành nhượng quyền thương mại với nhãn hiệu chưa được cấp văn bằng bảo hộ chính thức. Pháp luật hiện hành của Việt Nam không cấm việc ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại khi nhãn hiệu mới dừng lại ở giai đoạn “đã nộp đơn đăng ký hợp lệ” tại Cục Sở hữu trí tuệ. Trên thực tế, do thời gian thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu thường kéo dài từ 18 đến 24 tháng (Cục Sở hữu trí tuệ, 2023), nhiều thương nhân chỉ mới nhận được giấy biên nhận nộp đơn đã vội vã triển khai nhượng quyền cho hàng chục đối tác. Rủi ro nảy sinh khi đơn bị Cục Sở hữu trí tuệ từ chối cấp văn bằng bảo hộ (do trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nộp trước) hoặc phát sinh khiếu nại, phản đối đơn; khi đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại đứng trước nguy cơ bị tuyên vô hiệu, đối mặt với chế tài xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của bên thứ ba và gây tổn thất kinh tế nặng nề cho các bên nhận quyền.

Thứ ba, bất cập trong bảo hộ bí mật kinh doanh và quy trình, sổ tay vận hành. Cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh của bên nhượng quyền là công thức, quy trình và sổ tay vận hành. Tuy nhiên, theo Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh chỉ được bảo hộ nếu được bảo mật bằng các “biện pháp cần thiết”. Pháp luật hiện hành chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể thế nào là “biện pháp cần thiết” trong mối quan hệ chia sẻ thông tin đặc thù của mạng lưới nhượng quyền thương mại.

Nghiêm trọng hơn là tình trạng bên nhận quyền sau khi được chuyển giao toàn bộ bí quyết, công thức và quy trình quản trị đã viện cớ khó khăn để chấm dứt hợp đồng trước hạn, sau đó lập tức thay đổi tên biển hiệu nhưng vẫn giữ nguyên công thức sản phẩm, cách bài trí cửa hàng và danh sách khách hàng để mở chuỗi kinh doanh tương tự. Khi đưa ra xét xử, điều khoản “cam kết không cạnh tranh hậu hợp đồng” thường bị tòa án xem xét theo hướng có dấu hiệu xâm phạm quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp năm 2013, các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Cạnh tranh năm 2018. Hệ quả là điều khoản này đứng trước nguy cơ bị tuyên vô hiệu, tước bỏ công cụ pháp lý hữu hiệu nhất để bên nhượng quyền tự bảo vệ tài sản trí tuệ của mình.

Thứ tư, theo cách tiếp cận cấu trúc – chức năng gồm hai trục quản lý dọc (phân cấp thứ bậc) và trục ngang (phối hợp liên ngành), khi xem xét một mô hình kinh tế thị trường mang tính liên ngành cao như nhượng quyền thương mại, thực tiễn quản lý nhà nước ở Việt Nam bộc lộ rõ tình trạng phân tán chức năng và cắt khúc thể chế (Trần Điệp Thành, 2024).

Quản lý hoạt động thương mại nhượng quyền, kiểm soát thị trường thuộc thẩm quyền của Bộ Công Thương (Cục Thị trường trong nước, Tổng cục Quản lý thị trường); Quản lý xác lập quyền, thẩm định và cấp văn bằng, giấy chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu, sáng chế thuộc chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ (Cục Sở hữu trí tuệ); Quản lý việc cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với quy trình, sổ tay vận hành, hình ảnh bộ nhận diện thương hiệu và phần mềm quản trị thuộc thẩm quyền của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Bản quyền tác giả).

Giữa các cơ quan quản lý chưa có cơ chế kết nối và chia sẻ dữ liệu số liên thông (cơ quan thương mại không nắm bắt kịp thời tình trạng hiệu lực thực tế của đối tượng sở hữu trí tuệ đang nhượng quyền; cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ lại thiếu thông tin về hoạt động thương mại hóa các quyền này trên thị trường). Sự thiếu hụt cơ chế phối hợp ngang khiến công tác quản lý nhà nước rơi vào tình trạng phân khúc và thụ động, chỉ can thiệp khi các tranh chấp dân sự đã xảy ra.

Thứ năm, hiệu lực thực thi và cơ chế bảo hộ tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu. Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại và hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh tại tòa án hiện nay thường kéo dài qua nhiều cấp xét xử. Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời (như buộc tạm đình chỉ hành vi sử dụng bí mật kinh doanh hoặc sử dụng dấu hiệu gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký) còn rất hạn chế, xuất phát từ quy trình xem xét thận trọng, yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm tài chính nặng nề và tâm lý e ngại trách nhiệm bồi thường nếu phán quyết sau này bị thay đổi. Bên cạnh đó, nghĩa vụ chứng minh “thiệt hại thực tế” do hành vi chiếm dụng bí mật kinh doanh theo quy định tố tụng dân sự vẫn là một rào cản gần như bất khả thi đối với thương nhân, khiến cho các chế tài bồi thường thiệt hại thiếu tính răn đe và không thể khôi phục kịp thời được vị thế cạnh tranh đã mất của chuỗi nhượng quyền.

4. Đề xuất hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại

4.1. Hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật

Một là, sửa đổi Mục 8 Chương VI Luật Thương mại năm 2005. Cần bổ sung quy định cụ thể: Bên nhượng quyền chỉ được phép tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại khi đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (hoặc có hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hợp pháp từ chủ sở hữu văn bằng, hoặc hợp đồng cấp quyền thứ cấp hợp lệ). Cần loại bỏ hoàn toàn việc cho phép tiến hành nhượng quyền dựa trên “giấy biên nhận nộp đơn” nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận quyền.

Hai là, chuẩn hóa nội dung Bản giới thiệu nhượng quyền thương mại bắt buộc. Từ kinh nghiệm của Malaysia như đã phân tích ở trên, cần luật hóa nội dung chi tiết của Bản giới thiệu nhượng quyền thương mại. Cơ quan quản lý phải bắt buộc bên nhượng quyền công bố minh bạch: tình trạng pháp lý của văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ; danh mục và phạm vi các bí mật kinh doanh, quy trình vận hành sẽ được chuyển giao; lịch sử các tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của hệ thống trong 3 năm gần nhất.

Ba là, thể chế hóa tính hợp pháp của điều khoản cam kết không cạnh tranh. Cơ quan lập pháp cần nghiên cứu bổ sung điều khoản trong Luật Thương mại, đồng thời Toà án nhân dân tối cao cần xem xét ban hành nghị quyết hướng dẫn hoặc lựa chọn áp dụng án lệ nhằm định hình các tiêu chí xem xét hiệu lực pháp lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Theo đó, thỏa thuận này được coi là hợp pháp nếu đáp ứng điều kiện: có mục đích chính đáng nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh; thời hạn hạn chế phù hợp (khuyến nghị không quá 2 năm); phạm vi địa lý giới hạn tương ứng với khu vực thị trường mà bên nhận quyền đã hoạt động trước đó.

4.2. Hoàn thiện cơ chế bảo hộ bí mật kinh doanh và cẩm nang vận hành

Thứ nhất, chuẩn hóa tiêu chí đánh giá “biện pháp bảo mật cần thiết”. Kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất quy định tại Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ trong xét xử các tranh chấp nhượng quyền thương mại. Trong đó, cần quy định rõ việc bên nhượng quyền ban hành quy chế bảo mật nội bộ, gắn nhãn bảo mật lên quy trình vận hành chuẩn, ký kết thỏa thuận bảo mật thông tin và thiết lập phân quyền truy cập phần mềm quản trị là các chứng cứ hợp pháp, đủ điều kiện chứng minh chủ thể đã áp dụng “các biện pháp cần thiết” để được công nhận quyền đối với bí mật kinh doanh.

Thứ hai, nâng cao hiệu lực thực thi và phối hợp xử lý vi phạm. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa lực lượng Quản lý thị trường, Thanh tra Khoa học và Công nghệ với Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trong việc kiểm soát thị trường nhượng quyền thương mại. Trong đó, phân định rõ thẩm quyền: quản lý thị trường và thanh tra chuyên ngành tập trung thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính, tịch thu tang vật và buộc tiêu hủy các dấu hiệu xâm phạm nhãn hiệu; đồng thời chủ động chuyển giao hồ sơ có dấu hiệu chiếm dụng, đánh cắp bí quyết kinh doanh cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia xử lý theo pháp luật cạnh tranh, hoặc hướng dẫn doanh nghiệp khởi kiện yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại tòa án.

4.3. Kiện toàn cấu trúc bộ máy và tăng cường phối hợp liên ngành

Chuyển hóa mô hình quản lý thuần túy theo chiều dọc sang thiết lập cơ chế điều phối ngang hiệu quả giữa các bộ, ngành:

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số liên thông và cổng tra cứu công khai: Thiết lập cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu chung giữa Bộ Công Thương (Cục Thị trường trong nước, Tổng cục Quản lý thị trường) với Bộ Khoa học và Công nghệ (Cục Sở hữu trí tuệ). Trên nền tảng đó, phát triển Cổng thông tin tra cứu công khai tình trạng pháp lý của các thương hiệu nhượng quyền, cho phép bên nhận quyền thẩm định trực tuyến hiệu lực của văn bằng, chứng nhận bảo hộ sở hữu trí tuệ trước khi quyết định ký kết hợp đồng và giải ngân vốn đầu tư.

Phát huy vai trò của Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt vềsở hữu trí tuệ. Căn cứ quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 về việc thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt về sở hữu trí tuệ, Nhà nước cần khẩn trương đào tạo và kiện toàn đội ngũ thẩm phán am hiểu chuyên sâu về hợp đồng thương mại và tài sản trí tuệ. Đồng thời, cần hoàn thiện thủ tục tố tụng rút gọn và cơ chế bảo lãnh tài chính linh hoạt để tòa án có thể nhanh chóng ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kịp thời ngăn chặn việc tiết lộ, chuyển giao trái phép hoặc chiếm dụng bí mật kinh doanh trong các tranh chấp nhượng quyền thương mại.

4.4. Hướng dẫn định giá tài sản trí tuệ và chuẩn hóa quản lý phí nhượng quyền

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương hoàn thiện khung hướng dẫn phương pháp định giá tài sản trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại; chuẩn hóa nguyên tắc xác định các cấu phần phí nhượng quyền ban đầu và phí bản quyền định kỳ. Giải pháp này tạo hành lang pháp lý vững chắc giúp doanh nghiệp hạch toán chi phí hợp lý, tạo điều kiện sử dụng giá trị thương hiệu làm tài sản bảo đảm trong các giao dịch tín dụng ngân hàng; đồng thời, cung cấp căn cứ minh bạch cho cơ quan thuế trong công tác quản lý nghĩa vụ thuế, ngăn ngừa hữu hiệu hành vi chuyển giá và thất thoát nguồn thu thuế trong các chuỗi nhượng quyền thương mại xuyên biên giới.

5. Kết luận và khuyến nghị

Quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại giữ một vai trò then chốt, bảo đảm sự dung hoà giữa nhiệm vụ định hướng điều tiết thị trường của Nhà nước và nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thỏa thuận hợp đồng của thương nhân. Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam cho thấy, sự thiếu đồng bộ giữa Luật Thương mại năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, cùng tình trạng phân mảnh trong chức năng quản lý giữa các bộ, ngành và sự chậm trễ của cơ chế tài phán tư pháp đang tạo ra những điểm nghẽn thể chế. Tình trạng chiếm dụng bí mật kinh doanh, tranh chấp điều khoản cam kết không cạnh tranh hậu hợp đồng không chỉ gây tổn thất nghiêm trọng cho thương nhân nhượng quyền mà còn làm suy giảm tính ổn định và minh bạch của thị trường nhượng quyền.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế nhanh và bền vững, việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực này cần được triển khai đồng bộ trên cả ba phương diện như sau:

Về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Ưu tiên sửa đổi, bổ sung Mục 8 Chương VI Luật Thương mại năm 2005 nhằm quy định điều kiện chủ thể nhượng quyền gắn liền với văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp; luật hóa nghĩa vụ công bố thông tin qua việc chuẩn hoá nội dung Bản giới thiệu nhượng quyền thương mại theo thông lệ quốc tế; và công nhận tính hiệu lực của điều khoản cam kết không cạnh tranh hợp lý về thời gian, phạm vi địa lý và lĩnh vực kinh doanh.

Về tổ chức thực thi và phối hợp liên ngành. Tăng cường cơ chế điều phối liên ngành thông qua việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số dùng chung kết nối giữa Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Tài chính; chuẩn hóa phương pháp định giá tài sản vô hình và kiểm soát thuế đối với các dòng phí nhượng quyền xuyên biên giới.

Về hoàn thiện cơ chế tài phán và bảo hộ tư pháp. Phát huy vai trò của Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt Sở hữu trí tuệ theo tinh thần Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, xây dựng quy trình tố tụng rút gọn và cơ chế bảo đảm linh hoạt nhằm kịp thời áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, bảo vệ hữu hiệu tài sản trí tuệ của doanh nghiệp.

Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước theo định hướng kiến tạo phát triển không chỉ tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, giảm thiểu chi phí giao dịch toàn xã hội và bảo vệ quyền của các thương nhân, mà còn là đòn bẩy chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh của các chuỗi thương hiệu Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế và thương mại quốc tế sâu rộng.

Tài liệu tham khảo:
Acemoglu D., Robinson J.A. (2012). Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty. Crown Business, New York.
Almond G.A., Powell G.B., Strom K., Dalton R.J. (2003). Comparative Politics Today: A World View, 7th Edition. Longman.
Chính phủ (2006). Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại.
Chính phủ (2018). Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
Cục Sở hữu trí tuệ (2023). Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2022. Hà Nội.
Franchising and Licensing Association Singapore – FLA (2020). Code of Ethics and Practice. Singapore.
Laws of Malaysia (2020). Franchise Act 1998 (Act 590) & Franchise (Amendment) Act 2020. Commissioner of Law Revision, Malaysia.
North D.C. (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge University Press.
Parliament of Singapore (2019). Intellectual Property (Dispute Resolution) Act 2019 (Act 23 of 2019). Singapore Government Gazette.
Quốc hội (2005). Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022).
Quốc hội (2005). Luật Thương mại năm 2005.
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Quốc hội (2015). Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quốc hội (2018). Luật Cạnh tranh năm 2018.
Quốc hội (2024). Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024.
Trần Điệp Thành (2024). So sánh thể chế chính trị của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp: Nhà nước và Đảng chính trị. Nxb Thế giới.
Singapore Court of Appeal (2007). Man Financial (S) Pte Ltd v. Wong Bark Chuan David. SGCA 53. Singapore Law Report.
Singapore International Arbitration Centre – SIAC (2016). Arbitration Rules of the Singapore International Arbitration Centre (SIAC Rules 2016). Singapore.
Supreme Court of Singapore (2021). Rules of Court 2021. Singapore.Williamson O.E. (1985). The Economic Institutions of Capitalism: Firms, Markets, Relational Contracting. Free Press, New York.